Giá trị dinh dưỡng của thịt gia cầm
Thịt là một trong những thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, thịt các động vật
máu nóng như thịt lợn, thịt bò, thịt gia cầm có chứa nhiều axit amin cần thiết, các
chất béo, chất khoáng, vitamin và một số các chất thơm hay còn gọị là chất chiết
xuất Thịt các loại nói chung nghèo canxi, giầu photpho. Tỉ lệ CA/P thấp. Thịt là
thức ǎn gây toan.
I. GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG CỦA THỊT: .
Thịt tất cả các loài nói chung chứa nhiều nước, lượng nước lên tới 70-75%. Protit
chiếm 15-20%, lượng lipit dao động nhiều ( 1-30% ) tùy thuộc vào loại súc vật và
độ béo của nó. Gluxit trong thịt chỉ có rất ít, khoảng % dưới dạng glucoza và
glycogen dự trữ ở gan và cơ. Lượng tro khoảng 1.%. Giá trị sinh học protein thịt
74%, độ đồng hóa protein thịt 96-97% . Trong thịt ngoài các protein có giá trị sinh
học cao, còn có colagen và elastin là loại protein khó hấp thu, giá trị dinh dưỡng
thấp vì thành phần của nó hầu như không có tryptophan và xystin là hai axit amin
có giá trị cao. Loại này tập trung nhiều ở phần thịt bụng, thủ, chân giò. Colagen khi
đun nóng chuyển thành gelatin là chất đông keo. Còn elastin gần như không bị tác
dụng của men phân giải protein. Vì vậy ǎn vào và thải ra nguyên dạng. Trong thịt
còn chứa một lượng chất chiết xuất tan trong nước, dễ bay hơi, có mùi vị thơm đặc
biệt, số lượng khoảng 1,5-2% trong thịt. Nó có tác dụng kích thích tiết dịch vị rất
mạnh. Các chất chiết xuất gồm có creatin, creatinin, carnosin (có ni tơ) và
glycogen, glụcoza, axit lactịc (không có ni tơ). Khi luộc thịt phần lớn các chất chiết
xuất hòa tan vào nước làm cho nước thịt có mùi vị thơm ngon đặc hiệu.
cho thuốc nhỏ vào tai để giảm đau. Sau này khi chỗ viêm đã có mủ, nhiều khi bác
sĩ tai-mũi-họng phải tìm cách chọc một lỗ thủng ở nhĩ làm lối thoát cho mủ chảy ra
và lấy mủ xét nghiệm xem chỗ viêm bị loại vi trùng hay vi rút nào gây bệnh.
2. Hiện tượng tai chảy mủ - Nhĩ có thể tự thủng để mủ chảy ra ngoài. Trường hợp
này vẫn cần phải đi khám bác sĩ chuyên khoa tai-mũi-họng, vì như vậy chưa phải
là bệnh sẽ hết. Ngay việc cho các cháu uống thuốc kháng sinh, bác sĩ cũng phải cân
nhắc và theo dõi. Nhiều khi nhìn bề ngoài nhĩ, tưởng như đã khỏi vì thuốc có tác
dụng nhanh nhưng thật ra không phải như vậy. Bệnh vẫn âm ỉ, chưa khỏi hẳn và có
những biến chứng vào xương chũm khiến đứa trẻ sút cân, gầy yếu, và tới một lúc
nào đó, bệnh lại trở lại.
Sau nhiều lần uống thuốc kháng sinh, tai không có mủ nữa nhưng lại có một chất
nước sền sệt. Hiện tượng này kéo dài khiến nhĩ bị tổn thương nặng làm Bé bị giảm
thính lực.
Trong thời gian chữa trị, Bé phải gài trong tai một ống thông, có khi trong nhiều
tháng.
Nếu Bé bị đau tai nhiều lần, bị đi bị lại, các bác sĩ sẽ nạo V.A cho cháu.
3. Sổ mũi: là một chứng nhẹ ở trẻ em: thán nhiệt hơi cao hơn bình thường, mũi
chảy nước (một chất nhầy lỏng, không màu). Với các cháu lớn, chỉ vài hôm là
khỏi. Các cháu bé sơ sinh thì kèm theo một vài hiện tượng như khó ngủ, khó thở
làm cho các cháu bú khó (vì khi bú không thở được).
Các bà mẹ có thể dùng các dụng cụ hút nước mũi cho các cháu, thường bán ở các
hiệu thuốc; nhỏ mũi cho các cháu bằng các loại thuốc dành riêng cho trẻ em. Tránh
dùng các thuốc có dầu và các loại thuốc làm co mạch máu.
Viêm mũi-họng là chứng bệnh về mũi nhưng lan từ phần sau của hốc mũi cho tới
họng và có các triệu chứng như: chảy nước mũi, có thể sốt cao, thân nhiệt tăng đột
ngột nên có thể gây co giật ở các cháu nhỏ, ho, không chịu ăn, ỉa chảy.
Ðể chữa trị cần : nhỏ thuốc mũi cho cháu, cho uống thuốc sốt. Bệnh sẽ khỏi sau
vài ngày.
Tuy vậy, bệnh có thể biên chứng như : viêm tai, viêm thanh quản, viêm phế quản
và phổi.
Sốt xuất huyết là bệnh của mùa mưa. Lứa tuổi mắc bệnh nhiều nhất là 4 - 7 tuổi.
Bệnh lan truyền do" muỗi vằ"n. Muỗi vằn truyền siêu vi trùng từ người bệnh sang
người lành qua vết chích của muỗi.
Triệu chứng
Bệnh tiến triển theo hai thời kỳ. Thời kỳ đầu khoảng 3 - 4 ngày, có triệu chứng
giống như cảm sốt thông thường. Sau đó, trẻ có thể lành bệnh tự nhiên hoặc trở
nặng gây chảy máu đường ruột. Do đó, phát hiện bệnh sớm là điều rất quan trọng.
Phải chú y những trẻ có các triệu chứng sau đây (nhất là khi các nhà trong xóm có
trẻ sốt xuất huyết): Sốt cao liên tục 2 - 3 ngày, không giảm với các thuốc hạ sốt.
Trẻ vật vã, bứt rứt, nhức đầu, đau bụng chung quanh rốn hoặc hông phải. Triệu
chứng xuất huyết thường xuất hiện trễ. Tử vong thường là do đưa trẻ tới bệnh viện
quá trễ.
Làm sao biết bệnh trở nặng?
Bệnh thường trở nặng vào ngày thứ ba đến ngày thứ năm kể từ khi bắt đầu sốt, một
vài dấu hiệu cho biết bệnh trở nặng:
+ Thân nhiệt hạ đột ngột xuống nhiệt độ bình thường nhưng trẻ vẫn lừ đừ, bứt rứt.
+ Tay chân lạnh, tiểu ít.
+ Xuất huyết dưới da, chảy máu cam, ói ra máu, đi cầu phân đen, chỗ tiêm thuốc bị
tụ máu bầm.
Những điều nên và không nên làm:
. Không cho trẻ uống Aspirin để hạ sốt vì Aspirin làm cho dễ xuất huyết hơn.
. Không cạo gió, cắt lể khi trẻ bị sốt vì làm cho trẻ chảy máu nhiều hơn và gây khó
khăn cho bác sĩ khi định bệnh.
. Không bắt trẻ nhịn ăn uống, ngược lại, phải cho uống nhiều nước, nhất là các loại
cam, chanh hoặc dung dịch Oresol.
. Ðiều nên làm là đưa trẻ nghi ngờ mắc bệnh sốt xuất huyết đến bệnh viện càng
sớm càng tốt.
Phòng ngừa
Ngủ mùng, không để muỗi cắn, không cho trẻ chơi ở bụi rậm, góc kẹt nhà vì muỗi
vằn thường núp ở chỗ tối trong nhà.