NHỮNG MÓN ĂN DÀNH CHO TRẺ BỊ THIẾU MÁU
Bệnh thiếu máu hay gặp ở trẻ em, trong đó có nguyên nhân do chế độ ăn uống, thiếu chất
dinh dưỡng cần thiết cho sự tạo máu. Trẻ bị thiếu sắt lâu ngày có nguy cơ dẫn đến thiếu
máu. Một số món ăn dưới đây sẽ giúp cải thiện tình trạng thiếu máu ở trẻ:
* Cháo long nhãn - hạt sen:
Nguyên liệu: Long nhãn (50 gr), hạt sen (50 gr), gạo
(100 gr).
Cách chế biến: Ba thứ trên cho chung vào nồi để nấu
cháo, nêm nếm gia vị vừa ăn.
Công dụng: Kiện tỳ bổ khí, dưỡng huyết.
* Thịt bò xào với lá tỏi và mộc nhĩ:
Nguyên liệu: Mộc nhĩ (nấm mèo) 25 gr, lá tỏi (200
gr), thịt bò (300 gr), gừng (2 lát), cà rốt xắt thành sợi (một ít), rượu (một ít), nước tương,
đường cát, bột năng (mỗi thứ nửa muỗng cà phê) và dầu mè, tiêu bột (mỗi thứ một ít).
Cách chế biến: Nấm mèo đem ngâm, rửa sạch và xắt thành sợi, cho vào nước sôi luộc sơ
qua; lá tỏi bỏ phần cứng, rửa sạch xắt thành từng đoạn, rồi dùng dầu và muối xào sơ; thịt
bò xắt thành từng sợi lớn, ướp gia vị khoảng 15 phút; bắt chảo lên bếp, cho dầu vào, khi
dầu nóng thì lần lượt cho gừng lát, nấm mèo, cà rốt, thịt bò, lá tỏi và gia vị vào, xào sơ
qua, sau cùng cho bột năng vào cho sền sệt thì được.
Công dụng: Bổ máu, dinh dưỡng dồi dào.
* Gan heo xào trứng gà và bó xôi:
Nguyên liệu: Gan heo (từ 50 - 100 gr), bó xôi (từ 30 - 50 gr), trứng gà (1 - 2 trứng), gốc
hành (1 cái), gia vị lượng vừa đủ.
Cách chế biến: Cho gan heo vào nước sôi luộc chín, vớt ra xắt thành dạng hạt lựu, sau đó
cho trở lại vào chảo để xào lại, cho trứng, bó xôi, gốc hành, nêm nếm gia vị vừa ăn.
Công dụng: Dưỡng huyết.
Trẻ cần bao nhiêu chất sắt?
Trẻ có nhu cầu về sắt khác nhau tuỳ thuộc vào từng lứa tuổi và từng giai đoạn.
- Trẻ sơ sinh bú sữa mẹ có khuynh hướng nhận đủ chất sắt từ mẹ cho đến 4-6 tháng tuổi,
khi các loại sữa bột với công thức củng cố sắt thường được đưa vào trong chế độ nuôi
dưỡng trẻ.
- Trẻ 6-12 tháng tuổi cần 11 milligram sắt mỗi ngày. Giai đoạn này, bên cạnh sữa mẹ, trẻ
cần thêm vào chế độ ăn hàng ngày bột ngũ cốc với công thức củng cố sắt hoặc bổ sung
sắt.
- Trẻ từ 1-1 tuổi cần 7-10 milligram sắt mỗi ngày.
- Bé trai trong độ tuổi thanh thiếu niên cần 11 milligram sắt mỗi ngày còn bé gái cần 15
milligram sắt mỗi ngày. Đây là giai đoạn phát triển nhanh và các bé gái cần bổ sung chất
sắt thay cho phần sắt mà bé bị mất hàng tháng khi tới chu kỳ kinh nguyệt.
- Các vận động viên trẻ thường bận bịu với việc tập luyện cường độ cao và có khuynh
hướng mất nhiều sắt và có thể cần bổ sung sắt trong chế độ ăn. Chất sắt trong chế độ ăn hàng ngày cho gia đình bạn
Sắt có thể được tìm thấy ở nhiều nguồn thức ăn khác nhau, nhưng sắt từ thịt dễ được cơ
thể hấp thu hơn so với từ các nguồn thực vật. Dưới đây là các thức ăn giàu chất sắt mà
bữa ăn
Chất béo cũng có thể chia một cách đơn giản là chất béo thực vật và chất béo động vật.
Chất béo thực vật cũng có loại tốt và xấu. Ví dụ của loại chất béo thực vật tốt là dầu ô liu,
dầu canola, dầu bắp. Ví dụ của chất béo thực vật không tốt là dầu dừa.
Chất béo động vật, có thể chia ra hai nhóm: từ cá và thịt.
Chất mỡ từ cá có nhiều omega fatty acid, tốt cho tim mạch vì có nhiều cholesterol tốt.
Chất mỡ từ thịt, như mỡ gà, mỡ heo thường góp phần làm tăng cholesterol xấu, không tốt
cho sức khoẻ.
Các loại dầu ăn tốt:
Dầu ô liu, dầu ca nô la, dầu bắp là các loại dầu ăn tương đối tốt. Nói chung, các loại dầu
chứa các loại a xít béo không bão hoà (non-saturated fatty acid) tốt hơn cho tim mạch.
Các loại dầu đơn (mono) được cho là tốt hơn so với các loại dầu đa (poly). Ta có thể
kiểm tra xem loại dầu nào tốt hơn cho tim mạch bằng các đọc nhãn hiệu để xem thành
phần hoá học của dầu ăn.
Chất mỡ từ cá có nhiều omega fatty acid, tốt cho tim mạch vì có nhiều cholesterol tốt.
Nên tránh các loại dầu bão hoà (saturated fatty acid).
Tuyên truyền ngày nước thế giới 22/3 Mỗi năm, một hoặc nhiều cơ quan của LHQ đứng ra đảm trách việc hướng dẫn kỷ niệm
Ngày Nước Thế giới.chiến dịch nhân Ngày Nước Thế giới (22/3) còn nhằm thúc đẩy các
cộng đồng và các nhà chính trị hành động để ngăn chặn, giảm thiểu các thảm hoạ liên
quan tới nước, góp phần giảm đói nghèo và xây dựng sự phát triển bền vững như mục
tiêu phát triển thiên niên kỷ.
Nước:
Nước là yếu tố thiết yếu đối với phát triển và xoá đói giảm nghèo. Khả năng tiếp cận với
nước sinh hoạt là nhu cầu căn bản nhất của con người và là trọng tâm của các mục tiêu
phát triển thiên niên kỷ. Tuy nhiên, gần 1,1 tỷ người không được tiếp cận với nguồn cung
cho 85% dân số vào năm 2010 và 100% vào năm 2020. Theo UNDP, cần phải có ba yếu
tố để giải quyết được thách thức này:
Thứ nhất, để đảm bảo cung cấp nước sạch cho toàn dân và vệ sinh môi trường tốt cũng
như thực hiện phương thức tiếp cận tổng hợp để giảm nhẹ thuỷ tai trong thời gian tới, cần
tạo ra nhiều hơn nữa các nguồn đầu tư trong và ngoài nước. Bộ Kế hoạch - Đầu tư ước
tính: Căn cứ vào mức tiêu thụ nước hiện nay và dự báo về dân số, ngành này cần được
đầu tư mức vốn khoảng 147 triệu USD mỗi năm để đạt được chỉ tiêu đề ra cho năm 2020.
Thứ hai, cần xác định ưu tiên về xây dựng năng lực ở những nơi có nhu cầu lớn nhất: trực
tiếp giúp các cộng đồng địa phương, đặc biệt là phụ nữ, đề ra và thực hiện giải pháp riêng
của họ.
Thứ ba, công tác quản lý đối với tài nguyên nước khan hiếm liên quan tới nhiều ngành và
đòi hỏi phải huy động nhiều đối tượng tham gia, thực hiện phương thức quản lý tài
nguyên nước tổng hợp, cụ thể là các ngành y tế, nông nghiệp và công nghiệp, khu vực
nhà nước và khu vực tư nhân, các cán bộ kế hoạch ở cấp Trung ương, phụ nữ và trẻ em.
Và các thảm hoạ về nước
Các thảm hoạ liên quan tới nước đã gây thiệt hại lớn cho các nền kinh tế quốc gia và hiện
được thừa nhận là trở ngại đối với các nhiệm vụ phát triển bền vững cũng như xoá đói
nghèo. Tổn thất do thiên tai gây ra đang cướp đi nguồn lực của các quốc gia mà lẽ ra
được sử dụng cho nhiều chương trình phát triển kinh tế - xã hội. Tổn thất đó nghiêm
trọng và bi thảm hơn nhiều tại các nước kém phát triển và đang phát triển, đẩy lùi mục
tiêu phát triển hàng thập kỷ. Giảm nguy cơ thảm hoạ đồng nghĩa với việc giảm đói
nghèo.
Thảm hoạ liên quan tới nước là hậu quả của sự tác động qua lại giữa các sự kiện thuỷ văn
- khí tượng khắc nghiệt và hoạt động kinh tế không bền vững của con người tại các vùng
bị ảnh hưởng. Thỉnh thoảng, các sự kiện này kết hợp với điều kiện hoặc sự kiện địa chất,
gây ra thảm hoạ tự nhiên phức tạp: bão mạnh, sóng thần, lũ lụt, lở đất, lở tuyết và hạn
hán.
Theo WMO, 90% người bị ảnh hưởng bởi những thảm hoạ trên sống tại các nước nghèo
nhất. Báo cáo gần đây của Uỷ ban liên chính phủ về thay đổi khí hậu (IPCC) chỉ ra rằng
Ken Davidson, giám đốc Chương trình Khí hậu Thế giới của WMO, cho biết những tiến
bộ về dự báo thời tiết, khí hậu và đánh giá nước trong vài năm qua đóng vai trò to lớn
trong việc giảm bớt hậu quả nghiêm trọng của thiên tai. Điều đó đạt được phần lớn là nhờ
sử dụng vệ tinh và thông tin được cải thiện. Ông nói: ''Các quốc gia lớn trên thế giới đang
khai thác một loạt vệ tinh. Dữ liệu do chúng thu thập được truyền tới Chương trình Theo
dõi Thời tiết Thế giới. Do vậy, nhiều quốc gia trên thế giới nhận được thông tin vệ tinh
cùng một lúc. Chúng tôi đang cố gắng giúp các nước sử dụng thông tin này để giảm thiểu
tác động của thiên tai, giúp mọi người thoát khỏi nguy hiểm cũng như tiến hành các biện
pháp cần thiết trước khi thiên tai xảy ra''.
Công nghệ hiện đại đã cải thiện việc dự báo và cảnh báo dài, trung và ngắn hạn. Chẳng
hạn, hiện có thể dự đoán các cơn bão nhiệt đới mạnh trước ba ngày, nhờ đó giảm thiểu
được số người thiệt mạng,
VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM
TÁC HẠI CỦA THỰC PHẨM NHIỄM BẨN ĐỐI VỚI CON NGƯỜI
- Các tác nhân gây nhiễm bẩn thực phẩm:
+Vi sinh vật gây bệnh hoặc độc tố của chúng
+Hoá chất
+ Phóng xạ, vật lạ
- Biểu hiện của tác hại do thực phẩm nhiễm bẩn hay: hành vi cẩu thả, thiếu
trách nhiệm của bạn có thể gây tội ác như thế nào:
+ Nhiễm độc tiềm ẩn: là sự nhiễm các chất độc hại dưới ngưỡng có thể gây ra
các triệu chứng cấp tính, bán cấp tính; có thể bị nhiễm liên tục hoặc không liên
tục; có thể sau một thời gian không biết trước sẽ có: ung thư, các rối loạn chức
năng không rõ nguyên nhân, vô sinh, quái thai
+ Bệnh mạn tính: là bệnh mắc phải, có biểu hiện phát bệnh lặp lại thường
xuyên hoặc theo chu kỳ; có thể do di chứng của ngộ độc cấp hoặc do hậu quả
của nhiễm độc tiềm ẩn tới liều gây bệnh; có thể trở thành bệnh khó chữa hoặc
VỆ SINH THỰC PHẨM
(Cho người làm bếp)
Nguyên tắc 1.
Chọn thực phẩm an toàn. Chọn thực phẩm tươi. rau, quả ăn sống phải được ngâm và rửa
kỹ bằng nước sạch. Quả nên gọt vỏ trước khi ăn. Thực phẩm đông lạnh để tan đá, rồi làm
đông đá lại là kém an toàn.
Nguyên tắc 2.
Nấu chín kỹ thức ăn. Nấu chín kỹ hoàn toàn thức ăn, là bảo đảm nhiệt độ trung tâm
thực phẩm phải đạt tới trên 70° C.
Nguyên tắc 3.
Ăn ngay sau khi nấu. Hãy ăn ngay sau khi vừa nấu xong, vì thức ăn càng để lâu thì càng
nguy hiểm.
Nguyên tắc 4.
Bảo quản cẩn thận các thức ăn đã nấu chính. Muốn giữ thức ăn quá 5 tiếng đồng hồ,
cần phải giữ liên tục nóng trên 60° C hoặc lạnh dưới 10° C. Thức ăn cho trẻ nhỏ không
nên dùng lại.
Nguyên tắc 5.
Nấu lại thức ăn thật kỹ. Các thức ăn chín dùng lại sau 5 tiếng, nhất thiết phải được đun
kỹ lại.
Nguyên tắc 6.
Tránh ô nhiễm chéo giữa thức ăn chín và sống, với bề mặt bẩn. Thức ăn đã được nấu
chính có thể bị nhiễm mầm bệnh do tiếp xúc trực tiếp với thức ăn sống hoặc gián tiếp với
các bề mặt bẩn (như dùng chung dao, thớt để chế biến thực phẩm sống và chín).
Nguyên tắc 7.
Rửa tay sạch trước khi chế biến thức ăn và sau mỗi lần gián đoạn để làm việc khác.
Nếu bạn bị nhiễm trùng ở bàn tay, hãy băng kỹ và kín vết thương nhiễm trùng đó trước
khi chế biến thức ăn.
Nguyên tắc 8.
Giữ sạch các bề mặt chế biến thức ăn. Do thức ăn dễ bị nhiễm khuẩn, bất kỳ bề mặt nào
dùng để chế biến thức ăn cũng phải được giữ sạch. Khăn lau bát đĩa cần phải được luộc
1. Điều kiện sức khỏe. Không mắc bệnh có thể là nguồn nhiễm bẩn thực
phẩm, gồm các bệnh ngoài da dễ lây lan, bệnh truyền nhiễm qua đường
tiếp xúc, tiêu hóa, hô hấp.
2. Vệ sinh cá nhân
Trang phục: Quần áo, mũ chùm đầu, khẩu trang, găng tay, ủng, tạp dề
Đồ trang sức đeo tay: nhẫn, vòng, đồng hồ
Móng tay phải được cắt ngắn, không sơn
Rửa tay ạch bằng xà phòng hoặc chất khử trùng trước khi vào khu chế
biến
Không khạc nhổ, ăn uống, hút thuốc, ho, nói ta trong khu vực chế
biến trực tiếp
Không mang , mặc đồ dùng cá nhân vào khu vực chế biến.
3. Ý thức trách nhiệm về nhiệm vụ và hành vi tại vị trí làm việc và trong
cơ sở.
CÁC THUẬT NGỮ
1- Thực phẩm. Tất cả các chất đã hoạăc chưa chế biến nhằm sử dụng cho con
người bao gồn đồ ăn, uống, nhai, ngậm, hút vá các chất được sử dụng để sản xuất, chế
biến hoặc xử lý thực phẩm, nhưng không bao gồm mỹ phẩm và những chất chỉ được
dùng như dược phẩm.
2- Chất lượng. Toàn bộ các đặc tính cua một thực thể, tạo cho thực thể đó khả
năng tỏa mãn các nhu cầu đã công bố hay còn tiềm ẩn.
3- Quản lý chất lượng. Tất cả các hoạt động của chức năng quản lý chung nhằm
đề ra chính sách chất lượng, các mục tiêu và trách nhiệm, và thực hiện chúng
bằng các biện pháp như hoạch định chất lượng, kiểm soát chất lượng, bảo đảm
chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ của hệ thống chất lượng.
4- Bảo đảm chất lượng. Mọi hoạt động có kế hoạch và có hệ thống và được
khẳng định nếu c6àn, để đem lại lòng tin thỏa đáng rằng sản phẩm thoả mãn các
chứng của một số bệnh như sởi, lên đậu Một số bệnh khó xác định và khó chữa, nên các
bà mẹ săn sóc cháu nên nhận xét để mô tả được rõ ràng với bác sĩ.
Loại da đặc biệt nhạy cảm - Có nhiều Bé có loại da đặc biệt nhạy cảm tới mức chỉ
sờ lên da Bé cũng làm làn da ửng đỏ một lát. Do đó việc cọ sát da cháu bằng miếng vải,
sức một ít nước thơm hay dầu thơm, tắm cho cháu bằng xà phòng có hóa chất thơm, cháu
bị toát mồ hôi, nước tắm có pha ít nước hoa Cologné v.v cũng làm da cháu bé phản
ứng.
Cổ, cổ tay, cổ chân, vòng bụng là nơi dễ bị kích thích nhất. Muốn làm cho da Bé dày dặn
hơn, nên cho Bé đi chơi ở ngoài trời luôn, cho Bé tắm nắng nhưng hãy coi chừng và có
giới hạn để tránh bị cháy nắng hay say nắng.
Mẫn đỏ vùng mông - Mông Bé là điểm hay có mồ hôi, bị đẫm nước tiểu khi cháu tè
dầm không được thay tã lót ngay, nên hay bị mẩn đỏ: da đỏ, đùi đỏ, đỏ ở rãnh giữa 2
mông, ở những nếp nhăn. Những nốt đỏ hơi phồng lên và lõm ở giữa, đôi khi cũng xuất
hiện khi Bé mọc răng, hoặc trên toàn bộ lớp da tiếp xúc với ghế khi Bé ngồi.
Để bé khỏi mẫn đỏ, nên: thay tã lót luôn, lau ghế luôn, dùng pommát sát trùng bôi lên chỗ
mẩn đỏ. Khăn trải giường (nếu dùng cho Bé) cũng nên thay luôn, ghế Bé ngồi thỉnh
thoảng nên mang phơi nắng.
Sau khi tắm cho Bé nên lau thật khô hay sấy cho Bé bằng cái sấy tóc, nhưng phải hết sức
cẩn thận không làm Bé bỏng.
Nếu chỗ mẩn đỏ cả tuần lễ chưa khỏi thì nên hỏi bác sĩ, không cần thay đổi chế độ ăn của
Bé.
Mẫn đỏ ở cổ, nách và sau tai - Những chỗ mẩn đỏ bóng và có nước. Bạn hãy chú ý
coi cổ áo của Bé có chật quá không, không năng tắm rửa và mồ hôi là nguyên nhân của
những chỗ mẩn đỏ này.
Hãy thay quần áo tã lót cho cháu sau khi tắm kỹ bằng loại xà phòng có nhiều tính chua
(axít), rồi dùng dung dịch sát trùng loại éosine 1% bôi cho cháu.
Chỉ nên mặc cho cháu những quần áo bằng vải, từ các chất liệu thiên nhiên như bông, len
chứ không nên dùng các chất liệu tổng hợp.
Bé có những chấm đỏ và những mụn nhỏ trắng chảy nước, ở gáy, lưng, đôi khi ở vòng
quanh bụng chỗ vẫn quấn khăn quanh rốn làm cháu luôn cựa quậy, ngủ không yên giấc:
xảy ra với cả các cháu sơ sinh và có nhiều nguyên nhân. Có trường hợp vì thức ăn như
trứng (nhất là lòng trắng trứng), cá, thịt ngựa, sô-cô-la, nước cam, dâu; có khi vì các dược
phẩm đủ loại như thuốc uống, thuốc bôi, thuốc chích (pénicilline là một thí dụ); có khi vì
cháu bé tiếp xúc với những hóa chất hoặc cây cỏ. Với sự cộng tác của bác sĩ, các bà mẹ
hoặc người trông nom cháu cần tìm ra nguyên nhân chính để cháu tránh khỏi bị mẩn đỏ
sau này. Việc phát hiện nguyên nhân, thường khi rất khó.
Ðể các cháu đỡ ngứa, có thể cho cháu uống một thìa cà phê xi rô chống dị ứng
(antihistaminique).
Bệnh giun sán (sán lải) cũng gây mẩn đỏ ngoài da. Hiện tượng mẩn đỏ có thể có cả ở
mặt, bộ phận sinh dục Nếu bị ở họng, cháu bé sẽ khó thở cần phải được chữa trị ngay.
Dị ứng:
Dị ứng nói chung là phản ứng của cơ thể chống lại sự xâm nhập của các "chất lạ" vào cơ
thể, bằng cách sinh ra các kháng thể. Những chất lạ còn được gọi là các kháng nguyên
xâm nhập vào cơ thể qua da, đường hô hấp (mũi, khí quản, phổi) và đường tiêu hóa. Dị
ứng da thể hiện ra ngoài theo các dạng eczema, mẩn đỏ, phù da, mụn loét.
Những chất lạ gây dị ứng da bao gồm các hóa chất như phấn, kem bôi da để trang điểm,
vải mặc tổng hợp, các thuốc pom-mát v.v , các dược phẩm uống hoặc tiêm chích. Một
số thực phẩm không thích ứng với từng người như thịt bò, tôm, cua, cá
Những biểu hiện dị ứng của bộ máy hô hấp là: ho, hen, viêm mũi, viêm xoang, viêm phế
quản.
Những chất lạ gây dị ứng đường hô hấp có thể là phấn hoa, lông gà vịt, lông chó mèo, bụi
trong nhà, ngoài đường, vi khuẩn, vi trùng, mốc.
Bộ máy tiêu hóa bị dị ứng có các biểu hiện: tiêu chảy trong thời gian ngắn hoặc tái đi tái
lại, nôn ói, đau bụng kèm theo dị ứng da như mẩn ngứa. Dị ứng thêm đường hô hấp ít khi
xảy ra.
Những chất gây dị ứng thường là thực phẩm hoặc có trong thành phần thực phẩm như
chất prôtêin trong sữa bò, lòng trắng trứng, cá, thịt, các đồ biển; một số quả, lạc (đậu
phộng), ngũ cốc các loại
Muốn chữa trị dị ứng, bác sĩ phải hỏi bệnh nhân tỉ mỉ về nề nếp sinh hoạt, để biết được
thường bệnh nhân bị dự ứng trong các điều kiện nào, ở chỗ nào, sau khi ăn gì. Từ đó truy