VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC - VẬT CHẤT VÀ Ý
THỨC TRONG TRIẾT HỌC
- Định nghĩa vật chất của Lênin đã bao quát cả hai mặt vấn đề cơ bản
của triết học trên lập trường duy vật biện chứng, thừa nhận trong nhận
thức luận thì vật chất là tính thứ nhất, và con người có thể nhận thức
được thế giới vật chất. Như vậy, định nghĩa vật chất của Lênin đã bác
bỏ thuyết không thể biết, khắc phục được tính chất siêu hình, trực quan
trong các quan niệm về vật chất.
- Định nghĩa vật chất của Lênin còn chống lại các quan điểm duy tâm về
vật chất, tạo cơ sở lý luận để khắc phục quan điểm duy tâm về đời sống
xã hội
- Định nghĩa vật chất của Lênin còn có vai trò định hướng cho sự phát
triển của nhận thức khoa học.
2.2. Vật chất và vận động.
a. Vận động là gì?
Ăngghen viết:"Vận động hiểu theo nghĩa chung nhất, tức được hiểu là
một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật
chất, thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong
vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy".
Theo quan điểm của triết học macxit, vận động hiểu theo nghĩa chung
nhất, là sự biến đổi nói chung.
b. Vận động là phương thức tồn tại của vật chất.
- Vận động sinh học.
- Vận động xã hội.
Những hình thức vận động trên quan hệ với nhau theo những nguyên
tắc nhất định:
Thứ nhất, giữa các hình thức vận động có sự khác nhau về chất, biểu
hiện những trình độ phát triển của các kết cấu vật chất.
Thứ hai, các hình thức vận động cao xuất hiện trên cơ sở các hình thức
vận động thấp, bao hàm trong nó tất cả các hình thức vận động thấp
hơn.
Thứ ba, mỗi sự vật có thể gắn liền với nhiều hình thức vận động khác
nhau, nhưng bao giờ cũng được đặc trưng bằng một hình thức vận
động cơ bản.
Bằng sự phân loại các hình thức vận động, Ăngghen đã đặt cơ sở cho
việc phân loại các khoa học, cho khuynh hướng phân ngành và hợp
ngành của các khoa học. Đồng thời còn chống lại một khuynh hướng sai
lầm trong nhận thức là quy hình thức vận động cao vào hình thức vận
động thấp hơn.
d. Vận động và đứng im.
Theo Ăngghen, "đứng im tương đối của các vật thể là điều kiện chủ
yếu của sự phân hoá của vật chất". Đó là sự ổn định, là sự bảo toàn tính
quy định của các sự vật, hiện tượng.
Theo quan điểm duy vật biện chứng, vận động là tuyệt đối, còn đứng
sự vật; thời gian như dải băng được trải ra một cách đều đặn.
Những phát minh trong toán học và vật lý học đã bác bỏ quan điểm
trên. Hình học phi Ơclít của Lôbasepxki, Riman; thuyết tương đối của
Anhxtanh đã chứng minh rằng không gian và thời gian có sự biến đổi
cùng với sự vận động của vật chất. Khi vật thể vận động với tốc độ gần
bằng tốc độ ánh sáng thì kích thước của nó rút ngắn lại, thời gian trôi
chậm đi.
Như vậy, không gian và thời gian có những tính chất sau:
1. Tính khách quan: Vì vật chất là thực tại khách quan nên không gian
và thời gian là những hình thức tồn tại của nó cũng tồn tại khách quan.
Điều đó phủ nhận quan điểm của chủ nghĩa duy tâm coi không gian,
thời gian chỉ là sản phẩm của ý thức con người.
2. Tính ba chiều của không gian và tính một chiều của thời gian.
3. Tính vĩnh cửu và vô tận
3. Nguồn gốc, bản chất và kết cấu của ý thức
3.1. Nguồn gốc của ý thức
a. Nguồn gốc tự nhiên
Dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên nhất là sinh lý học
thần kinh, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng ý thức là
thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao là bộ óc con
người.