triết học Mác-lênin:
mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và
thực tiễn
Quan hệ giữa thực tiễn và lý luận là một quá trình mang tính lịch sử - xã
hội cụ thể. Quan hệ giữa chúng là quan hệ biện chứng. Nắm bắt được
tính chất biện chứng của quá trình đó, theo chúng tôi, là tiền đề quan
trọng bậc nhất giúp chúng ta luôn có được một lập trường thực tiễn
sáng suốt, tránh được chủ nghĩa thực dụng thiển cận, cũng như chủ
nghĩa giáo điều máy móc và bệnh lý luận suông.
Vấn đề quan hệ giữa lý luận và thực tiễn có tầm quan trọng đặc biệt
trong triết học xã hội của chủ nghĩa Mác. Tầm quan trọng đó không chỉ
ở chỗ: "Quan điểm về đời sống về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất
và cơ bản của lý luận về nhận thức". Kinh nghiệm đấu tranh, bảo vệ và
xây dựng tổ quốc xã hội chủ nghĩa đã đem lại cho chúng ta bài học vô
giá là: "Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo
quy luật khách quan. Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật là
điều kiện đảm bảo sự lãnh đạo đúng đắn của đảng". Chính vì vậy việc
tìm hiểu mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn là cần thiết.
Để giải quyết vấn đề nêu trên, theo chúng tôi trước hết cần phải xác
định rõ khái niệm thực tiễn phân biệt nó với khái niệm hoạt động, sau
đó là với khái niệm hoạt động lý luận. Trong các tài liệu khoa học, có rất
nhiều định nghĩa khác nhau về thực tiễn, nhưng có thể nói, chưa có
một ý kiến thống nhất về vấn đề này. Tính đến các quan điểm khác
nhau, chúng tôi xin trình bày vắn tắt quan điểm của chúng tôi về khái
niệm thực tiễn như sau.
Thứ nhất, thực tiễn là hình thức hoạt động đặc thù người. Khái niệm
thực tiễn đặc trưng cho hoạt động sống của xã hội loài người.
tác động qua lại với thế giới và cải tạo thế giới đó. Mác đem quan điểm
đó đối lập lại với quan điểm của chủ nghĩa duy vật trực quan của
Phoiơbắc. Không phải lý luận, mà chính thực tiễn là cái tạo thành bản
chất của các mối quan hệ giữa xã hội và tự nhiên ở trong lòng xã hội.
Bản thân quan hệ lý luận cần được tách biệt và lý giải dưới dạng một
thành tố không thể tách rời được của thực tiễn. Song, không nên đồng
nhất bản chất của quá trình với bản thân quá trình. Có quan điểm cho
rằng, bất kỳ hình thức hoạt động nào (lý luận chẳng hạn) cũng đều có
liên quan đến thực tiễn xã hội, phục tùng nó, phát triển trên cơ sở của
nó. Quan điểm khác lại coi bản thân hoạt động lý luận là thực tiễn. Thực
tiễn bao giờ cũng là sự vật chất hóa các ý niệm, là phương thức chuyển
cái ý niệm thành cái vật chất, còn hoạt động lý luận là quá trình ngược
lại, mặc dù nó bắt nguồn từ thực tiễn.
Qua đó có thể kết luận rằng phạm trù "hoạt động", xét về ngoại điên, là
rộng hơn phạm trù "thực tiễn". Vậy thì vấn đề quan hệ giữa hoạt động
lý luận và hoạt động thực tiễn với tư cách là hai lĩnh vực cơ bản nhất
của hoạt động xã hội phải được hiểu như thế nào?
Đây là hai phương thức quan hệ khác nhau với thế giới. Kết quả của
quan hệ lý luận là tái hiện lại đối tượng trong ý thức, là mô hình lý luận
của đối tượng. Còn kết quả của hoạt động thực tiễn là sự cải tạo vật
chất đối với đối tượng. Thực tiễn chỉ có mặt ớ nơi có các hình thức hoạt
động có đối tượng cảm tính, có sự cải tạo đối tượng trên chực tế, chứ
không phải là trong suy nghĩ. Do vậy theo chúng tôi, hoạt động lý luận
khoa học, giáo dục, tuyên truyền không phải là thực tiễn. Bản thân khoa
học chỉ có khả năng đem lại bức tranh lý tưởng về thế giới trong nhưng
đặc trưng, bản chất của nó. Vấn đề cũng không thay đổi cả khi khoa học
trở thành lực lượng sản xuất vật chất trực tiếp. Bởi khi đó, bản thân lực
lượng sản xuất tồn tại với tư cách là hình thức được đối tượng hoá của
khoa học, còn khoa học vân tiếp tục là hình chức hoạt động tinh thần
nhận thức lý luận (sản xuất ra tri thức) và khâu thực tiễn (cải tạo hiện
thực ).
Mối quan hệ giữa thực tiễn và lý luận, theo chúng tôi, còn được làm
sáng tỏ hơn và cụ thể hơn khi chúng ta xét nó từ quan hệ chủ thề -
khách thể. Thực tiễn là khâu trung gian cơ bản giữa chủ thể và khách
thề. Chủ thể ở đây không đơn giản là con người có tư duy lý luận, con
người bằng xương thịt. Chủ thể được thể hiện qua tồng thể các đặc
trưng xã hội của nó, còn thực tiễn là phương thức cơ bản để nó tác
động đến khách thể. Thực tiễn có thề nói, là hình thức liên hệ thực tại
khách quan, nhờ đó mà chủ thể tự đối tượng hoá bản thân, các ý định
và mục đích của mình trong khách thề, phát triển các năng lực của
mình. Như vậy, ngoài thực tiễn, chủ thể không có một phương thức nào
để chuyển từ bức tranh lý tưởng về thế giới sang việc thực hiện nó
trong thế giới.
Nếu ở phần trên chúng ta đã nói rằng thực tiễn là quá trình cải tạo vật
chất hiện thực, thì thông qua quan hệ chủ thể - khách thể, thực tiễn thể
hiện là phương thức chủ thể chuyển hoá cái ý mệnh mục đích, động
cơ ) thành cái vật chất (khách thể được cải tạo phù hợp với mục đích).
Trọng tâm ở đây được đặt vào hai mặt của một quá trình thống nhất:
Từ cái ý niệm đến cái vật chất. Nếu chúng ta nhấn mạnh, tuyệt đối hoá
sự cải tạo vật chất, thì sự định hướng thực tiễn bởi ý thức sẽ bị biến
mất, và do vậy, thực tiễn bị biến thành một hành vi máy móc, vô thức.
Còn nếu tuyệt đối hoá sự sự chuyển biến cái ý niệm thành cái vật chất,
thì chúng ta không thể quan niệm thực tiễn là một quá trình khách
quan, và như vậy sẽ rơi vào chủ nghĩa duy tâm.
Từ đó suy ra rằng thực tiễn và lý luận không thể là tuyệt đối đối lập với
nhau. Tính tương đối của sự đối lập ấy trước hết được quy định bởi
điều là: Quan hệ lý luận của con người với thế giới không bao giờ có thề
là quan hệ tuyệt đối biệt lập với thực tiễn. Hơn nữa, quan hệ lý luận
Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn, theo chúng tôi cần được-vạch rõ
cả trên các bình điện bản thể luận lẫn nhận thức luận. Trước hết cần
phải phân biệt tính chất của mối liên hệ này với tính chất của mối liên
hệ giữa ý thức và vật chất. Vật chất có thể tồn tại thiếu ý thức, song
thực tiễn không thể tồn tại thiếu ý thức, đương nhiên là hình thức vả
trình độ của ý thức có thể rất khác nhau ( cho tới tư duy lý luận). Nếu
các đặc tính "thử nhất" và "thứ hai" áp dụng được vào quan hệ giữa vật
chất và ý thức, thì chúng lại không áp dụng được vào quan hệ giữa thực
tiễn và ý thức. Theo chúng tôi, ở đây chỉ có thể nói tới phương diện chủ
đạo của một chủ thể thống nhất. Nói cách khác, xét về phương diện
bản thể luận, lý luận và thực tiễn tạo thành một thể thống nhất trong
hoạt động xã hội tổng hợp. Sự đối lập của chúng trong khuôn khổ của
sự thống nhất này là tương đối. Mặc dù vật chất và ý thức là các mặt
đối lập tương đối về mặt bản thể luận, song vật chất là tiên đề, là
nguyên nhân phát sinh của ý thức, trong khi đó thực tiễn không thể
thiếu ý thức.
Xét về phương diện nhận thức luận, nếu vật chất và ý thức là tuyệt đối
đối lập , thì thực tiễn và lý luận lại không tuyệt đối đối lập nhau. Mọi ý
kiến khác đều có nghĩa rằng thực tiễn, về nguyên tắc, không thể là
phương tiện đối chiếu tri thức về hiện thực và bản thân hiện thực.
Trong lý luận nhận thức, tri thức về đối tượng tuyệt đối độc lập với bản
thân lý luận. Các nhà duy vật trước Mác đã nhìn thấy điều đó nhưng họ
không biết đối chiếu tri thức với đối tượng và do vậy, họ đã bất lực
trước các lý lẽ của chủ nghĩa duy tâm và bất khả lý luận. Nếu tuyệt đối
đối lập thực tiễn với lý luận, thì chúng ta cũng sẽ vấp phải vấn đề đó.
Vậy, đâu là bước chuyển từ lý luận đến thực tiễn? Trong khi đó cuộc
cách mạng được C.Mác thực hiện trong nhận thức luận chính là ở chỗ:
ông đã đưa thực tiễn vào lý luận nhận thức ở lĩnh vực mà ý thức tuyệt
đối đối lập với vật chất, Mác đã phát hiện ra khâu trung gian, bước