1
BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
TẠ TUẤN TÚ NGHIÊN CỨU CẤY GHẫP IMPLANT TỨC THÌ VÀ ĐÁNH GIÁ
KẾT QUẢ PHỤC HèNH CỐ ĐỊNH ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP II
Hà Nội – 2010
2
ĐẶT VẤN ĐỀ
Răng miệng đảm nhiệm chức năng ăn nhai, phát âm và hình thái học cá
nhân, thể hiện nét thẩm mỹ, tâm lý, tình cảm, cá tính của từng người.
Khi bệnh nhân mất răng thì việc làm răng giả thay thế những răng đã mất có
ý nghĩa rất quan trọng. Vì vậy phục hình lại những răng đã mất không chỉ là một
môn khoa học mà nú cũn mang tính nghệ thuật nhằm bù đắp những thiếu hụt cả về
thể chất và tinh thần cho con người. Các nguyên nhân chính gây mất răng là bệnh
sâu răng và bệnh viêm quanh răng.Theo kết quả điều tra sức khỏe răng miệng ở
miền Bắc của Nguyễn Văn Cỏt, khỏm 1597 người thỡ cú 665 người mất răng
chiếm tỷ lệ 41,6% trong đó lứa tuổi 35-44 có tỷ lệ mất răng là 27,27%, còn lứa tuổi
trên 65 tỷ lệ này là 95,21%[1] Theo Võ Thế Quang và cộng sự, tỷ lệ mất răng trong
cuộc điều tra 900 người cho cỏc vựng của Việt Nam năm 1990 như sau: Tỷ lệ mất
răng là 19% trong đó ở lứa tuổi 35-44 tỷ lệ này là 47,33%[1]. Tình trạng mất răng
đa dạng cũng ảnh hưởng đến chức năng ăn nhai, thẩm mỹ và phát âm với các mức
độ khác nhau, do đó việc phục hồi các răng bị mất là nhu cầu thiết yếu của bệnh
nhân, cũng như là một trong những nhiệm vụ chính của Bác Sĩ chuyên khoa răng
hàm mặt. Trong phục hình răng giả, răng cố định có rất nhiều ưu điểm so với phục
hỡnh tháo lăp[2].
Hàm giả tháo lắp gây vướng víu trong miệng, chức năng ăn nhai không cao,
giảm cảm giác ngon miệng khi ăn, trở ngại cho việc phát âm, cỏc múc có thể làm
hỏng các răng thật, xương sống hàm tiêu dần.
4
Cầu răng có chức năng ăn nhai gần như răng thật, nhưng phải mài răng kế
cận răng mất nhỏ đi, để bọc mão làm trụ cầu. Xương hàm nơi mất răng cũng tiêu
dần, ảnh hưởng đến thẩm mỹ.
Ngày nay nhờ tiến bộ của công nghệ khoa học: Một trụ nhỏ bằng Titanium
Hình 1.1: Mặt ngoài - xương hàm dưới
- Ở giữa và dưới nhô ra là lồi cằm (protuberantia mentalis).
- Dọc theo đường giữa nơi hai mảnh thân xương dính vào nhau là khớp dính
xương hàm dưới (symphysis mandibulae).
- Phía trước giữa vào ổ răng và khớp dính xương hàm dưới có một lỗ hõm
gọi là hố răng cửa (fossa incisiva), nơi cơ nâng môi dưới bám vào, hố này nằm
6
ngay dưới chân răng cửa dưới [25]. Điểm giải phẫu này có ý nghĩa quan trọng khi
cấy Implant ở vùng này.
- Hai bờn có hai đường chéo (linea obliqua) chạy chếch lên trên và ra sau,
trên đường chéo ngang mức với răng hàm nhỏ thứ hai có lỗ cằm là nơi thoát ra của
động mạch và thần kinh hàm dưới. Trước khi thoát ra ở lỗ cằm, ống răng dưới có
thể có một đoạn vòng. Đoạn vòng này có thể chạy ra trước hoặc xuống dưới. Theo
các nghiên cứu khác nhau, đoạn vòng này có thể dài từ 1-7mm phụ thuộc vào kích
thước xương hàm dưới [14],[40],[44]. Cần phải chú ý là trên phim Panorex kích
thước đoạn vòng này thường chỉ bằng một nửa so với kích thước giải phẫu thật sự
của nó (13).
- Thường chỉ có một lỗ cằm ở mỗi bên, tuy nhiên có thể gặp 2-3 lỗ cằm ở
mỗi bên trên một số bệnh nhân. Vị trí của lỗ cằm thường gặp ở giữa bờ trên và
dưới của cành ngang xương hàm dưới, đôi khi có thể gặp ở 1/3 dưới.
- Kích thước của ống răng dưới trung bình là từ 2-2.4 mm[37)
* Mặt trong
Hình 1.3: Xương hàm trên
Mặt trước ngăn cách với mặt ổ mắt bởi bờ dưới ổ mắt. Ở dưới bờ này có lỗ
dưới ổ mắt ,là nơi dây thần kinh dưới ổ mắt thoát ra. Ngang mức răng nanh ở phía
trên chân răng có hố nanh. Đây là điểm giải phẫu cần lưu ý khi cấy Implant ở vùng
này. Phía trong của mặt trước có khuyết mũi, dưới khuyết mũi có gai mũi trước.
- Mặt thái dương
Phía sau lồi lên là lồi củ hàm trên. Trên lồi củ có 4-5 lỗ để dây thần kinh huyệt
răng đi qua.
- Mặt mũi
Ở mặt này có rãnh lệ đi từ ổ mắt xuống. Phía trước rãnh lệ có mào xoăn,
phía sau có xoang hàm trên.
* Mỏm trán
Chạy lên trên để khớp với xương trán.
* Mỏm gò má
9
Tương ứng với đỉnh của thân xương, hình tháp, phía trên có một diện gồ ghề
để khớp với xương gò má.
* Mỏm khẩu cái
Là một mỏm nằm ngang, tách ra từ phần dưới mặt mũi của thân xương hàm
trên và cùng với mỏm khẩu cái của xương bên đối diện tạo thành vòm miệng.
Mỏm khẩu cái có hai mặt, mặt trên là nền ổ mũi và mặt dưới là vòm miệng.
Ở đường giữa phía trước vòm miệng có lỗ răng cửa và ống răng cửa, nơi
động mạch khẩu cái trước và thần kinh bướm khẩu cái đi qua. Chiều dài của ống
răng cửa dao động từ 8-26mm, trục của nó nghiêng từ 57-89,5
0
so với mặt phẳng
Franfort[31]. Nếu xương hàm trên bị tiêu nhiều thì lỗ răng cửa có thể nằm ngay
trên mào sống hàm [18]. Đây là điểm giải phẫu cần lưu ý khi cấy Implant.
- Ảnh hưởng đến hô hấp và phát âm
- Ảnh hưởng đến tiêu hóa
- Ảnh hưởng tới thẩm mỹ
- Ảnh hưởng tới tâm sinh lý bệnh nhân
1.3 Phương pháp phục hình thay thế răng mất
1.3.1 Hàm giả tháo lắp:
- Đặc điểm chung của hàm giả loại này là: lực nhai truyền trực tiếp vào
xương qua niêm mạc hoặc truyền theo đường hỗn hợp vừa qua niêm mạc vào
xương và vừa qua tổ chức quanh răng của các răng còn lại và xương.
11
+ Ưu điểm: đơn giản,dễ chế tạo,chi phí thấp,dễ vệ sinh.
+ Nhược điểm: độ bền kém, vướng vớu,khụng khôi phục hoàn toàn sức nhai
đã mất và mất nhiều thời gian để làm quen.
1.3.2 Phục hình cố định:
Để làm cầu răng các răng còn lại cạnh vùng răng mất phải còn tốt và trên
những răng đó sẽ được làm chụp để mang răng giả thay thế răng đã mất.
+ Ưu điểm: thẩm mỹ, vệ sinh và độ bền tốt, khôi phục sức nhai tốt.
+ Nhược điểm: cần có các phương tiện chuyên dụng và tay nghề của kỹ thuật
viên, phải mài răng cạnh răng đã mất, không làm được nếu răng đã mất nằm ở cuối
cung hàm (không còn giới hạn xa).
1.4 Cấy ghép Implant:
1.4.1 Lịch sử Implant:
Implant nha khoa là cấy ghép trụ kim loại vào xương hàm và răng giả trên
trụ đó.
Implant nha khoa thời kỳ đầu làm bằng đá, ngà voi, được tìm thấy ở người
Trung Quốc và người Hy lạp cổ trước công nguyên.
Đầu thế kỷ 20 Implant nha khoa làm bằng kim loại được làm từ vàng, chì,
Iridium, Tantalum, kim loại không rỉ và hợp kim của cobalt.
+ Implant dạng lưỡi dao:
Phần nằm trong xương của Implant này có dạng giống như lưỡi dao, nú cú
ưu điểm là có thể áp dụng cho những vùng xương mỏng.(H1.6)
+ Impalnt hình chân răng: Đây là implant được sử dụng phổ biến nhất cú cỏc
loại như sau:
+ Implant không xoắn (Prerf-fit Implant): Implant loại này không có ren trên bề
mặt(H 1.7) 14
Hình 1.6 : Implant dạng lưỡi dao Hinh 1.7: Implant không ren xoắn
+ Implant có ren xoắn (Scren Impalnt)
Đường xoắn ốc giúp tăng diện tích bề mặt giúp dễ đặt Implant, tạo sự vững
ổn ban đầu, giúp phân phối lực đến xương xung quanh và rút ngắn thời gian điều
trị.(H1.8)
Hình 1.8: Implant có ren xoắn Hinh 1.9: Implant hình trụ
Hình 1.10: Implant hình chóp Hình 1.14:Mini Implant
+ Mini Implant:
Là Implant dưới 3mm thường dùng cho bệnh nhân không đủ cấy Implant
lớn, dùng trong chỉnh nha, dùng trong răng gắn tạm.(H 1.14)
15
1.4.2.1 Cấu tạo của Implant và răng giả trên Implant. (H 1.15)
Được chia làm 3 phần :
17 Phẫu thuật hai thì Phẫu thuật một thì
Hình 1.16 : Loại Implant theo phẫu thuật
1.4 .3 Vật liệu làm Implant.
- Vật liệu sinh học thường dùng để làm implant là kim loại và hợp kim .
+ Tiatanium thương mại nguyên chất (Commercially pure: grade 1,2,3,4. Tỷ
lệ carbon và iron tăng dần)
+ Titanium kim loại: Grade 5 titanium, Ti-6Hl-4V titanium _ aluminum_
vanadium .
Là những vật liệu thường sử dụng để cấy implant trong xương
Loại ( grade ) 1 : 195 N / mm2
Loại ( grade ) 4 : 460 N / mm2
Loại ( grade ) 5 : 900 N / mm2
Loại 1,2,3,4 : tỷ lệ carbon cao nếu kích thước implant nhỏ rất dễ gẫy .
- Bề mặt implant :
+ Được Eching (tẩy acide )
18
+ Thổi cát, mục đích để tôn độ nhám để cải thiện việc tích hợp xương .
- Vật liệu cùi giả :
Thông thường cùi giả (abument) được chế thạo bằng titanium, vàng, sứ…
1.5 Vật liệu ghép xương:
Vật liệu ghép có tính tạo xương chứa các thành phần có khả năng tạo xương
và sửa chữa xương một cách tự nhiên. Các tế bào xương có thể tạo xương ngay cả
khi nó được đặt trong mô mềm hoặc các tế bào này kích thích sự phát triển xương
nhanh hơn khi nó được đặt trong xương.
+ Không cần vị trí phẫu thuật thứ 2.
+ Giảm thời gian
+Số lượng dồi dào
- Bất lợi :
+ Mụ ghép xương có thể có tính kháng nguyên đưa đến phản ứng miễn dịch
của mô chủ.
1.5.3 Xương dị loại / dị chủng ( Xennograft )
- Nguyên gốc xương bò, xương heo, san hô,
- Xử lý và xét nghiệm để đảm bảo không mang mầm bệnh
- Tính dẫn tạo xương
a - Hydroxy Apatide : ( (OH
- Noss ; Bio-oss
- Pepgen P- 15
b - Calcium Carbonate
- Interpore 200
- Biocoral
1.5.4- Xương tổng hợp ( Alloplasts )
Tính tạo xương ( osteoconduction )
+ TCP ( tricalcium phosphate )
+ HA ( Hydroxy de Apatide ) hoặc kết hợp cả 2 loại .
21 1.6 Màng ngăn sinh học
- Tiêu chuẩn:
+ Tương hợp sinh học
+ Ổn định
+ Duy trì khoảng trống
độ.
+ D1 lớn hơn 1250 HU
+ D2 850 HU
+ D3 350 HU
+ D4 150 HU
Chỉ số HU tốt nhất để cấy ghép Impant là giữa D2 và D3 là từ 350 – 1250
HU. D1 và D4 vẫn có thể cấy ghép Implant được như chỉ số D4 cho thấy xương
loóng nờn bác sĩ điều trị Implant phải là người có kinh nghiệm. Chỉ số D1 cho thấy
xương rất đặc ít mạch máu nuôi dưỡng nên thời gian lành thương lâu.(H1.19)
23 Hình 1.19: Phân loại xương
- D1: Chủ yếu là xương vỏ đồng nhất.
Thuận lợi: - Chịu lực tốt
- Chỉ cần Implant ngắn
Bất lợi: - Ít mạch máu, nguồn cung cấp máu lệ thuộc vào màng xương.
- Khó khoan, dễ tạo nhiệt, dễ gây chấn thương cơ học
(Chú ý: D1 đứng đầu trong thất bại do phẫu thuật)
- D2: Xương vỏ dầy, xương bè đặc
Thuận lợi: - Cho việc đặt Implant.
- Nguồn cung cấp cho máu tốt.
- D3: Xương vỏ mỏng, xương bè lỏng lẻo.
Thuận lợi: - Việc khoan xương dễ dàng.
- Nguồn cung cấp máu rất tốt.
24
Dùng kỹ thuật ép xương (Comperess) giúp gia tăng sự ổn định ban đầu.
B: Thời kỳ lành thương không chịu lực. 6: cục máu đông chuyển thành
xương mới nhờ quá trình tao sẹo xương; 7: Vùng xương bị tổn thương lành lại nhờ
tái tạo mạch máu, khử khoáng và tỏi khoỏng.
C: Sau giai đoạn lành thương, mô xương tiếp xúc chặt lên bề mặt implant; 8:
Vùng xương sửa chữa do đáp ứng với lực nhai.
D: Implant bị thất bại. 9: Mô lien kết khụng khoỏng húa xung quanh
implant.