MẤT BÙ HÔ HẤP CẤP Ở BỆNH NHÂN
SUY HÔ HẤP MÃN
I. MỞ ĐẦU:
II.1. Đặc điểm của SHHM:
- Không duy trì được sự trao đổi Oxy bình thường ở phổi.
- Suy hô hấp được đánh giá là nặng khi PaO
2
lúc nghỉ ngơi, khi thở tự nhiên với khí trời,
thấp hơn 60 mmHg. Có thể kèm theo ưu thán hay không.
- Nguyên nhân của SHHM có nhiều, nhưng đứng hàng đầu là các bệnh lý phế quản phổi
mãn tính thế tắc nghẽn, do viêm phế quản mãn, có biến chứng khí phế thũng hay không.
Thường gặp ở người nghiện thuốc lá.
II.2. Những con đường dẫn đến SHHM:
II.2.1. Suy thở thế tắc nghẽn:
- Bệnh lý phế quản – phổi:
+ Sau nghiện thuốc lá
+ Sau hen phế quản - Khí phế thũng.
II.2.2. Suy thở thể co thắt:
- Di chứng của bệnh lao phổ
- Bệnh bụi phổi và xơ phổi các loại
- Cắt nhu mô phổi
II.2.3. Biến dạng, thoái hoá lồng ngực:
- Lệch vẹo cột sống
- Béo bệu
- Các bệnh lý thần kinh – cơ mãn tính
thuốc an thần gây trở ngại cho sự trao đổi khí, bởi vì muốn có được một thông khí có hiệu quả, cần phải có các kích thích tối đa đến các trung tâm hô hấp. Do vậy, cần phải hết sức
thận trọng khi cho các xi-rô chống ho hoặc các thuốc an thần, khi nghi ngại có hội chứng
mất bù hô hấp khởi đầu.
- Oxy liệu pháp thường được sử dụng cho các bệnh nhân SHHM nặng. Tuy nhiên, cần
phải được theo dõi, vì bệnh nhân có thể bị ưu thán hoặc bị bệnh lý não do ưu thán, nếu lưu
lượng Oxy sử dụng cao. Theo dõi bằng các triệu chứng lâm sàng, nhưng chính xác nhất là
định lượng các khí trong máu, chủ yếu là PaCO
2
.
II.4. Tràn khí phế mạc:
Thường xảy ra khi có khí phế thũng. Nếu không dẫn lưu kịp thời sẽ rất nguy hiểm.
Chẩn đoán khó khăn khi tràn khí đóng kén hoặc khi khí phế thũng đã có nhiều bóng hơi lớn.
II.5. Chấn thương lồng ngực:
Nhiều khi chấn thương nhẹ hoặc vừa, chỉ gãy 1 – 2 xương sường cũng đủ để gây mất
bù hô hấp, bởi vì đau đớn sẽ làm giảm biên độ cử động lồng ngực, làm suy giảm sự trao đổi
khí, đồng thời tạo điều kiện ứ đọng phổi. Nạn nhân không dám thở sâu, không dám ho, cho
nên các chất tiết của niêm mạc hô hấp không được tống ra ngoài.
II.6. Phẫu thuật – gây mê:
Thường xảy ra các biến chứng hô hấp vào giai đoạn sau mổ, đôi khi rất nghiêm trọng,
mặc dầu trước đó bệnh nhân không có SHHM. Tất nhiên, tai biến sẽ nặng hơn trên nền
SHHM vốn có. Phẫu thuật bụng và lồng ngực là đáng sợ nhất, nhưng những phẫu thuật ở
cổ, ở đầu, hoặc các phẫu thuật khác, mà thời gian mổ kéo dài, cũng gây mất bù hô hấp đáng
kể. II.7. Suy hô hấp tiến triển:
Trong một số trường hợp, nguyên nhân cụ thể, chính xác cho một tình trạng mất bù hô
Điện giải: K
+
huyết tương tăng, tương ứng với nhiễm toan. Thường thấy suy thận cấp
kết hợp, urê và créatinine máu tăng, chứng tỏ có rối loạn chuyển hoá toàn thể.
Có hiện tượng cô máu (do thiếu Oxy) và số lượng bạch cầu tăng (đa nhân trung tính có
thể tăng hay không tùy theo nguyên nhân gây mất bù).
IV. ĐIỀU TRỊ:
IV.1. Điều trị nguyên nhân:
Tùy tình hình mà cắt bỏ các thuốc an thần, theo dõi chặt chẽ Oxy liệu pháp, dẫn lưu
tràn khí phế mạc.
Tìm nguyên nhân gây bội nhiễm:
- Do vi khuẩn: Phế cầu trùng hay Hemophilus influenzae (điều trị bằng Peniciline
hay Amoxiciline). - Nếu soi đờm trực tiếp không thấy, thì cấy trùng, bệnh phẩm lấy từ các phế quản ở
sâu bằng các phương pháp đặc biệt (qua ống nội khí quản hoặc chọc khí quản bằng các
cathéter có vỏ bọc ngoài).
Nếu tắc mạch phổi: Khó giải quyết. Điều trị chống đông bằng Heparine với liều giảm
đông, chỉ được tiến hành khi nào có bằng chứng chắc chắn (chụp XQ mạch máu phổi).
Tuy nhiên, có thể dùng Héparine liều thấp với mục đích phòng ngừa tai biến lấp mạch
do các hòn máu tắc. Tùy thuộc vào ý định chống thrombine (chống yếu tố Xa) hay chống
đông (chống yếu tố IIa) mà sử dụng liều lượng cho thích hợp.
IV.2. Điều trị triệu chứng:
IV.2.1. Nếu thiếu Oxy nặng, áp dụng Oxy liệi pháp:
Rất cần, bởi vì chỉ khi nào phục hồi được SaO
2
# 90% thì mới đảo bảo năng lượng cho
sự hoạt động các cơ thở, cũng như các suy giảm về chức năng thần kinh, tim-mạch, thận…
Tuy nhiên, phải theo dõi chặt chẽ để đề phòng nhiễm toan hô hấp (do tăng CO
2
> 70 mmHg, pH 7,25), các biện pháp điều trị nói trên không còn hiệu lực,
thì cần chỉ định thông khí nhân tạo. Tuy nhiên, chỉ định dựa trên các triệu chứng lâm sàng
là chủ yếu, bởi vì không phải ở đâu cũng có điều kiện định lượng khí máu. Mặt khác, nếu
có, kết quả cũng thường chậm so với diễn biến bệnh lý. Các dấu hiệu lâm sàng gồm có: rối
loạn tri thức, các cơ thở kiệt sức… Bệnh nhân cần được đặt nội khí quản. Cần chú ý: Nếu
các rối loạn về trao đổi Oxy phổi nặng, thì thường hay xảy ra trụy tim mạch do “tái thông
khí” khi mới bắt đầu tiến hành mở máy. - Cho các thuốc co thắt mạch máu (tĩnh mạch) và bổ sung tiền gánh của thất phải bằng
truyền dịch một cách thận trọng.
- Chỉ định không thuận lợi của thông khí nhân tạo: Khí phế thủng: nhất là khi có bóng
hơi. Có thể bị nặng thêm do áp lực thở vào dương tính.
- Thông khí nhân tạo giúp các cơ thở được phục hồi, tình trạng cạn kiệt sức mất đi.
Nhưng cũng không nên kéo dài thời gian thở máy. Nên thay thế càng nhanh càng tốt bằng
chế độ thở hỗ trợ (giúp thở) cách quãng để cho các cơ thở không bị teo đi, không làm cho
tình hình trở nên khó khăn, phức tạp khi có chỉ định bỏ máy thở.
- Muốn bỏ máy thở cần phải có các yếu tố sau đây:
+ Bệnh nhân phải tự thở được trên 2 – 6 giờ, sau nhiều lần tập bỏ máy.
+ Tri thức bệnh nhân tỉnh táo bình thường, phối hợp với thầy thuốc tốt.
+ Nguyên nhân gây mất bù hô hấp cấp được giải quyết. Bệnh SHHM không đang ở
vào giai đoạn tiến triển.
+ Các cơ thở được phục hồi, hoạt động trở lại bình thường.
+ Tình hình chung toàn thân tiến triển tốt: mạch huyết áp – lượng nước tiểu – màu
sắc và độ ẩm da… bình thường hoặc gần như bình thường.
- Sau khi bỏ máy thở: Bệnh nhân phải được tiếp tục điều trị và săn sóc, gồm có:
+ Sử dụng thuốc giãn phế quản + thuốc kháng sinh.
+ Vận động liệu pháp hô hấp.