Thoại Ngọc Hầu Và Công Cuộc Đào Kênh Ở An Giang Vào Nửa Đầu Thế Kỉ XIX - Pdf 19

Thoại Ngọc Hầu Và Công Cuộc Đào Kênh Ở An
Giang Vào Nửa Đầu Thế Kỉ XIX Đầu thế kỉ XIX, Gia Long thiết lập bộ máy chính
quyền phong kiến trung ương tập quyền chuyên
chế. Chính sách của triều Nguyễn “trọng nông ức
thương” nên việc khẩn hoang được chú ý nhằm
giải quyết yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội.

An Giang là vùng đất thuộc trấn Vĩnh Thanh, dân
cư thưa thớt, còn nhiều đất hoang, đặc biệt là bờ
hữu ngạn sông Hậu. Triều Nguyễn khuyến khích
mọi người đi khai hoang với nhiều thủ tục dễ dãi
như được chọn nơi, được chính quyền hỗ trợ thóc
giống,…Nhưng thực tế, việc tổ chức chiêu mộ dân
đến khai hoang, lập ấp ở An Giang không thành
công vì nơi đây thường bị quân Xiêm – Chân Lạp
cướp phá, giao thông không thuận, dân cư bị
nhiều dịch bệnh…

Trước tình hình khó khăn, triều Nguyễn tổ chức
chiêu mộ dân chúng khẩn hoang và đào kênh với
hai biện pháp chính: chiêu mộ dân cường tráng
lập thành cơ đội và xúc tiến đào kênh. Trọng
trách đó được giao cho vị công thần Nguyễn Văn
Thoại.
Trích:
Nguyễn Văn Thoại (Thụy) sinh ngày 26/11 năm Ất
Tị (1761), huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam. Từ
năm 1777, ông theo phò Nguyễn Ánh suốt 25 năm.

Tiên có vị trí chiến lược quan trọng nhằm bảo vệ
vùng biên giới và phân định địa giới hai nước.
Triều Nguyễn đã chủ trương đào kênh nối từ
Châu Đốc đến Hà Tiên. Nguyễn Văn Thoại được
giữ chức vụ Trấn thủ Vĩnh Thanh kiêm chỉ huy
đào kênh. Công việc được xúc tiến.

Trích:
15/12 năm Kỉ Mão (1819) kênh được khởi công,
Nhân công chia thành phiên, mỗi phiên có 5000
người. Mỗi tháng mỗi người được cấp 6 quan tiền và
một vuông gạo (khoảng 1 giạ gạo). Do hạn hán, công
việc đình trệ. Đến năm 1822, Tổng trấn Gia Định Lê
Văn Duyệt huy động dân binh khắp Nam Kì gồm
39000 người Việt và 16000 người Khmer chia làm 3
phiên. Tháng 5/1824, kênh được đào xong, dài
khoảng 100km. Tổng số người được huy động là
80000 người. Sauk hi hoàn thành, kênh được đặt tên
là kênh Vĩnh Tế. Tháng 9/1828, bia Vĩnh Tế được
dựng bên bờ kênh.
Kênh Vĩnh Tế là công trình lớn ở Nam Bộ vào nửa
đầu thế kỉ XIX. Việc đào kênh kéo dài 5 năm
nhằm mục đích quốc phòng, về sau trở thành điều
kiện di dân lập làng. Ngoài hai công trình lớn,
Nguyễn Văn Thoại còn chiêu mộ lưu dân đến cư
ngụ tại Châu Đốc như Diệp Hội (1818), lập các
làng dọc kênh Vĩnh Tế. Ông con tu bổ đồn Châu
Đốc (1818) và xây dựng con đường nối liền Châu
Đốc đến núi Sam và Châu Đốc đến Sóc Vinh
(Cam-pu-chia).

lăng sẽ thấy có 3 ngôi mộ lớn: ở giữa là ngôi mộ
của Thoại Ngọc Hầu, phía trái là mộ của bà vợ
chính Châu Thị Tế, phía phải là mộ (nhỏ hơn) của
bà vợ thứ Châu Thị Miệt.

Nhìn sang phía trái có 14 ngôi mộ lớn nhỏ được
xây dựng với nhiều hình thức khác nhau như hình
bầu dục, hình voi phục, hình quả đào…là những
ngôi mộ vô danh của các cận thần, thân tộc của
ông. Tương truyền ngôi mộ có hình bầu dục (hình
cái nón), trái đào là của anh kép chánh và đào
chánh trong đoàn hát bội phục vụ cho Thoại Ngọc
Hầu khi còn sống.

Khuôn viên lăng Thoại Ngọc Hầu khá rộng. Ở hai
bên trái và phải có khoảng 50 ngôi mộ vô danh.
Đó là những dân phu, dân binh tham gia đào kênh
Vĩnh Tế đã chết. Sau khi đào kênh xong họ được
cải tang, Thoại Ngọc Hầu cho soạn bài Tế nghĩa
trủng văn:

Bãi cát máu rơi, da ngựa bọc thây
Không mang hòm về, bởi nhà xa thẳm
Sống làm binh sĩ, thác chống quỷ ma
Than ôi các ngươi ! sao đến thế này?
Nấm mồ ba thước, gởi ở cõi hoang !
Thanh minh ai quét, gai gốc ai trừ?
Gió chiều mưa dội, lần lượt mòn bằng
Viên huyệt ngày kêu, tử quy đêm khóc !
Mênh mông đất rộng, hồn người nương đâu?

(Theo tự điển nhân vật lịch sử Việt Nam, nxb.
Khoa học xã hội, 1991, trang 87)

Nguyễn Văn Tuyên Tuyên Trung Hầu Nguyễn Văn Tuyên hay Phan
Văn Tuyên (1763-1831) là một võ tướng nhà
Nguyễn. Ông gốc họ Phan, nguyên quán huyện
Phú Vang, Thừa Thiên. Sau vì nhiều công lao nên
ông được ban quốc tính (họ Nguyễn của nhà vua),
cho nên sử ghi là Nguyễn Văn Tuyên, tước Tuyên
Trung Hầu. Ông là tướng nhà Nguyễn, trải qua
hai triều Gia Long và Minh Mạng. Ông giỏi võ và
có tài điều binh, sau nhiều năm xông pha trận địa,
giữ nhiều chức vụ như Thần sách quân hổ oai vệ
úy, Chấn võ quân nhất bảo vệ úy, Khâm sai
Chưởng Cơ (1802), Thống chế (1816). Mùa đông
năm Kỷ Mão (1819), hợp sức với Thoại Ngọc hầu
phụ trách việc đào kênh Vĩnh Tế. Năm 1822, ông
được giao làm trấn thủ Biên Hòa rồi trấn thủ
Định Tường kiêm Khâm sai thuộc nội chưởng cơ.
Sau đó được bổ nhiệm làm trấn thủ Vĩnh
Thanh(Vĩnh Long).

Năm 1829 sau khi Thoại Ngọc Hầu lâm trọng
bệnh và mất. Năm sau, Nguyễn Văn Tuyên được
cử thay thế, sắc phong nguyên chức là "Thống chế
cai quản biền binh, Bảo Hộ Cao Miên quốc ấn,
kiêm án thủ Châu Ðốc đồn kiêm quản Hà Tiên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status