ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ HẠNH HIÊN TAI BIẾN TỰ NHIÊN VÀ KHẮC PHỤC
CỦA NHÀ NGUYỄN Ở NỬA ĐẦU
THẾ KỶ XIX
LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
1. Mục đích, ý nghĩa và yêu cầu của đề tài 1
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề và các nguồn tư liệu 5
4. Phương pháp nghiên cứu 11
5. Cấu trúc của luận văn 12
Chương 1: VÀI NÉT VỀ TAI BIẾN TỰ NHIÊN
TRƯỚC THẾ KỶ XIX 13
1.1. Vài nét về tự nhiên Việt Nam 13
1.2. Vài nét về tai biến tự nhiên trước thế kỷ XIX 21
Chương 2: TAI BIẾN TỰ NHIÊN DƯỚI THỜI NHÀ NGUYỄN 34
2.1. Lũ bão 34
2.2. Hạn hán 47
2.3. Một số hiện tượng tai biến tự nhiên khác 55
Chương 3: TÁC ĐỘNG CỦA TAI BIẾN TỰ NHIÊN VÀ BIỆN PHÁP
PHÒNG CHỐNG, KHẮC PHỤC CỦA NHÀ NGUYỄN 67
3.1. Nhà Nguyễn và ý thức về tác động của tai biến tự nhiên 67
3.2. Tác động của tai biến tự nhiên 71
3.3. Biện pháp phòng chống, khắc phục tai biến tự nhiên của nhà Nguyễn 81
PHẦN KẾT LUẬN 120
TÀI LIỆU THAM KHẢO 123
PHỤ LỤC 1 128
PHỤ LỤC 2 165
- 1 -
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Mục đích, ý nghĩa và yêu cầu của đề tài
mạnh mẽ, nhà Nguyễn vẫn mong muốn xây dựng một đất nước ổn định, phát
triển.
Tìm hiểu thực trạng và tác động của tai biến tự nhiên tới đời sống chính
trị, kinh tế, xã hội, sẽ mang đến những nhận thức sâu sắc về xã hội thời kỳ
này, cũng như những chính sách xã hội của nhà Nguyễn thông qua các biện
phòng phòng chống, khắc phục. Từ đó thấy được mối liên hệ mật thiết giữa
nhà nước với các tầng lớp nhân dân, đặc điểm nhà nước cũng như xã hội thời
kỳ này, góp phần nghiên cứu lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam nói chung
và nhà Nguyễn nói riêng.
Mặt khác, qua đề tài này, chúng tôi tìm hiểu và làm sáng tỏ vai trò, tác
dụng của các chính sách xã hội nhằm giải quyết tai biến tự nhiên đối với sự
thịnh suy của triều đại, sự tồn vong của bộ máy nhà nước. Đây cũng chính là
một trong nhiều bài học rút ra từ lịch sử đất nước nửa đầu thế kỷ XIX đầy
biến động.
1.2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Thông qua tìm hiểu tai biến tự nhiên và biện pháp phòng chống, khắc
phục của nhà Nguyễn, luận văn sẽ đi sâu tìm hiểu, nhìn nhận lịch sử thời
Nguyễn từ hai phía: vị trí, vai trò của giai cấp cầm quyền trong quá trình
chăm lo đời sống nhân dân và yêu cầu bức xúc của xã hội cùng những giải
pháp và hệ quả. Từ những kết luận được rút ra trong quá trình nghiên cứu,
luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ quá trình vận động không bằng phẳng, đơn
giản của xã hội thời Nguyễn.
Từ những đóng góp khoa học trên, luận văn làm rõ hơn tác động to lớn
- 3 -
của tai biến tự nhiên trong hệ thống các yếu tố tác động, ảnh hưởng đến đời
sống chính trị, kinh tế, xã hội ở giai đoạn lịch sử mà luận văn nghiên cứu.
Hiện nay, đất nước ta đang trải qua quá trình vận động, đổi mới, phát
triển, tiếp thu và áp dụng nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản
xuất, đời sống xã hội. Quá trình đó sẽ đem lại sắc diện mới cho đất nước,
của nhà nước, của pháp luật, mà còn qua những phương pháp giải quyết tự
thân của người dân, cũng như những hoạt động, phong trào của một bộ phận
cá nhân trong xã hội đương thời.
Vai trò và tác dụng của các biện pháp phòng chống, khắc phục tai biến
tự nhiên của nhà Nguyễn đối với công cuộc khôi phục sự phát triển, ổn định
tình hình đất nước, chăm lo đời sống nhân dân vào thời điểm đầu thế kỷ XIX
đầy thách thức, cũng như ở các thời kỳ tiếp sau đó. Đây cũng là một yêu cầu
quan trọng cần giải đáp của luận văn.
Với những yêu cầu về đối tượng cơ bản mà luận văn đặt ra nói trên
nhằm mục tiêu trả lời câu hỏi: Nguyên nhân dẫn tới xảy ra các tai biến tự
nhiên là gì? Những tai biến tự nhiên nào có tần suất, cường độ xảy ra thường
xuyên nhất? Tác động của tai biến tự nhiên? Các biện pháp phòng chống,
khắc phục của nhà Nguyễn? Vai trò và tác dụng của nó trong việc ổn định đời
sống xã hội, xây dựng và phát triển đất nước thời Nguyễn?
2.2. Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian lịch sử: Luận văn tập trung nghiên cứu các tai biến tự
nhiên xảy ra vào nửa đầu thế kỷ XIX, từ năm 1802 – 1858, cùng những tác
động và biện pháp phòng chống, khắc phục của nhà Nguyễn. Tuy nhiên, để
thấy được tính kế thừa lịch sử và sự phát triển của nhà nước trong tổ chức
quản lý đời sống xã hội, luận văn cũng điểm qua một số nét lớn về tình hình
tai biến tự nhiên và giải quyết của nhà nước trước và sau đó.
- 5 -
Về nội dung: Luận văn đề cập đến các sự kiện tai biến tự nhiên, các tai
biến tự nhiên xảy ra với cường độ, tần suất thường xuyên nhất, cũng như tác
động và biện pháp phòng chống, khắc phục của nhà Nguyễn ở nửa đầu thế kỷ
XIX. Do tính chất bao quát, liên quan đến nhiều mặt đời sống xã hội của các
tác động này, nên các chính sách về chính trị, kinh tế, đời sống văn hóa, xã
hội… cũng sẽ được đề cập đến, nhưng ở dưới góc độ tác động của nó.
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề và các nguồn tư liệu
Sách Tình hình ruộng đất nông nghiệp và đời sống nông dân dưới triều
Nguyễn (1997), do Trương Hữu Quýnh, Đỗ Bang chủ biên, đã đề cập đến các
nội dung: Công tác trị thủy và thủy lợi (Tình hình bão lụt, hạn hán dưới thời
Nguyễn; Hoạt động trị thủy); Canh tác nông nghiệp và đời sống nông dân (Kỹ
thuật và kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp; Đói kém, dịch bệnh; Hoạt động
cứu tế xã hội). [48, tr. 105 - 171]
Sách Đê điều Việt Nam (Sơ thảo lịch sử) của Phan Khánh, Từ Mạo,
Nguyễn Gia Quang đã đề cập tới một loại tai biến tự nhiên có tần suất và
cường độ xảy ra nhiều nhất là lũ lụt, qua phần nội dung Đê điều, trị thủy dưới
triều Nguyễn, trong đó trình bày thực trạng trị thủy và đê điều qua các triều
vua, từ Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị đến Tự Đức với cuộc trưng cầu ý
kiến về trị thủy Bắc Kỳ [30, tr. 35 - 96].
Sách Thiên tai và dịch bệnh ở Quảng Trị, Thừa Thiên Huế (Bảy thế kỷ
nhìn lại) của Dương Phước Thu (2006), ở Chương 3 với nội dung Bão, lũ,
dịch bệnh từ năm 1801 đến 1945, đã trình bày theo cách thống kê biên niên
các sự kiện thiên tai (hạn hán, lũ bão, dịch bệnh, mất mùa, sét đánh, động đất,
sâu bọ…) xảy ra dưới thời nhà Nguyễn ở hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên
Huế. Tuy nhiên, cách trình bày các nội dung chỉ theo diễn tiến thời gian, mà
- 7 -
chưa có sự phân chia cụ thể, hệ thống riêng biệt của từng loại tai biến tự
nhiên.
Những năm gần đây, cũng đã xuất hiện nhiều nghiên cứu hoặc gián
tiếp, hoặc trực tiếp bàn đến một số vấn đề mà luận văn đặt ra: Vũ Văn Quân
với Chế độ ruộng đất, kinh tế nông nghiệp Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX
(1991), Luận án Phó Tiến sỹ Sử học, Đại học Tổng hợp Hà Nội và Vài nét về
chế độ tô thuế thời Nguyễn (1988), Tạp chí Khoa học, Đại học Tổng hợp;
ngoài ra còn có một số bài viết khác như Vài nét về kinh tế nông nghiệp Việt
Nam nửa đầu thế kỷ XIX (1990), Nghiên cứu kinh tế; Đỗ Đức Hùng với Nhà
Nguyễn với công tác tổ chức quản lý công trình thủy lợi ở Bắc Bộ thế kỷ XIX
nhất dưới thời phong kiến, ở phần nội dung đã chia ra mục hình thế, khí hậu,
trong đó đặc biệt là mục khí hậu, đã có sự tổng kết nghiên cứu khái quát về
đặc điểm khí hậu, ảnh hưởng của thời tiết, khí hậu tới đời sống sản xuất, xã
hội của người dân ở các vùng miền trên cả nước.
Ví dụ về khí hậu phủ Thừa Thiên, sách này viết:
Bốn mùa thường ấm, đầu mùa xuân đào đã trổ hoa, tháng Giêng, tháng
Hai khí trời hòa ấm; tháng Ba khí trời nóng dần, thỉnh thoảng có gió
mạnh từ phương Nam đến, tục gọi là “bão nam”, người đi sông nước
cần phải đề phòng; tháng Tư tiết Tiểu mãn, thỉnh thoảng cũng có lụt;
tháng 5, tháng 6 và tháng 7 gió nam thổi mạnh; trước ngày 7 tháng 7 có
mưa, tục gọi là “mưa rửa xe”; tháng 8, tháng 9, khí trời mát dần,
thường có mưa lũ, thỉnh thoảng lại có gió đông vài ba ngày mới tắt, tục
gọi là “gió từ bến”; tháng 10 trong những ngày mồng 3, 13 và 23
thường bị lụt, ngạn ngữ có câu “Ông tha mà bà chẳng tha, làm cho cái
lụt ngày 3 tháng 10”. Lụt rút mà có mưa, gọi là “mưa rửa bùn”, mùa
- 9 -
đông mưa nhỏ, sắc nước tối gọi là “mưa tro”. Trong một năm, nửa mùa
thu sang mùa đông thường mưa nhiều, nửa mùa xuân về sau thường
nắng nhiều, từ tháng trọng đông (tháng 11 trở về sau) khí rét nhưng
không giá buốt, cây cối không rụng lá, cuối năm khí trời đã ấm; tháng
12 sấm bắt đầu dậy…[7, tr. 110].
Khí hậu tỉnh Quảng Nam:
Khí hậu nóng nực, nhiều tạnh ít mưa, chất đất phù bạc, nhiều khô khan
ít màu mỡ. Hết tháng Chạp thì gió đông nổi, tiết Kinh trập thì mưa xuân
nhuần; gió nam mạnh về mùa hạ; gió bấc rét về mùa đông; mùa thu gió
mát mà hay mưa lụt (các tháng 8, 9, 10 thường hay mưa lụt), mưa đông
hết lụt thì bãi sông bằng (mùa đông, sau khi mưa lụt thì bãi sông bằng
phẳng, tức là hết kỳ mưa lụt); mây đen nổi ở Trà Sơn là triệu sẽ mưa,
cầu vồng hiện ở Cu Đê là sắp có lụt (cầu vồng hiện mùa hè thì mưa,
Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, Đại Việt sử ký toàn thư do Ngô Sỹ
Liên và các sử thần triều Lê biên soạn… là những sách cung cấp tài liệu và
nhận xét có liên quan đến các tai biến tự nhiên xảy ra dưới thời Nguyễn và
trước Nguyễn cũng là nguồn tư liệu được chúng tôi đặc biệt quan tâm khi tiến
hành nghiên cứu.
Tư liệu về các sự kiện tai biến tự nhiên và biện pháp phòng chống, khắc
phục dưới thời nhà Nguyễn qua các tài liệu kể trên khá rời rạc, tản mạn. Tuy
nhiên, các tài liệu đó cũng đã đề cập đến các vấn đề mà luận văn cần giải
quyết như các sự kiện tai biến tự nhiên xảy ra theo tiến trình thời gian (tháng,
năm); tác động của tai biến tự nhiên trong lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội;
biện pháp phòng chống và khắc phục của nhà Nguyễn.
Sau nữa là các bài viết cũng có nội dung liên quan đến tác động của tai
biến tự nhiên trên các tạp chí như Nghiên cứu Lịch sử, Nghiên cứu kinh tế,
- 11 -
Khoa học xã hội Tất cả đều là những tài liệu mà chúng tôi sẽ tham khảo
trong quá trình thực hiện luận văn.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để đáp ứng mục đích, yêu cầu đặt ra của luận văn, trong quá trình
nghiên cứu, tác giả đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
Phương pháp lịch sử: Với đề tài khoa học lịch sử này, luận án vận dụng
chủ yếu phương pháp lịch sử theo quan điểm duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử của học thuyết Mác – Lênin; các hiện tượng tai biến tự nhiên xảy ra
dưới thời nhà Nguyễn được xem xét theo một trật tự thời gian cùng với những
tác động của nó đến đời sống chính trị, kinh tế và xã hội.
Tai biến tự nhiên và các biện pháp phòng chống, khắc phục của nhà
Nguyễn là một bộ phận trong hệ thống chính sách xã hội của Nhà nước, nó có
nội dung, đối tượng và tác động riêng nhưng mặt khác, nó có liên quan chặt
chẽ, tương tác với các chính sách khác và bao quát đến mọi lĩnh vực, mọi tầng
lớp xã hội. Do đó, khi khảo cứu, bên cạnh phương pháp lịch sử là chủ yếu, tác
văn, thổ nhưỡng, sinh vật và những mối quan hệ tác động qua lại, chi phối lẫn
nhau giữa chúng. Chính mối quan hệ này là cơ sở tạo ra những điều kiện
thuận lợi cũng như đưa đến những vấn đề tai biến tự nhiên.
1.1.1 Vị trí địa lý
Vị trí địa lý của một lãnh thổ là một yếu tố có ý nghĩa rất quan trọng
chi phối các đặc điểm tự nhiên của lãnh thổ đó.
Trên bản đồ thế giới, Việt Nam nằm ở rìa Đông của bán đảo Đông
Dương, gần trung tâm khu vực Đông Nam Á, phía Bắc giáp với Trung Quốc,
phía Tây giáp với Lào, Campuchia, phía Đông và phía Nam giáp với Biển
Đông.
Lãnh thổ Việt Nam nối liền một dải từ điểm cực Bắc trên cao nguyên
Đồng Văn ở vĩ độ 23°23’B thuộc Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang
tới điểm cực Nam trên bán đảo Cà Mau ở vĩ độ 8°34’B thuộc xã Đất Mũi,
huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau; điểm cực Tây ở kinh độ 102°10’Đ thuộc xã
Sín Thầu, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên; điểm cực Đông nằm trên bán
đảo Hòn Gốm ở kinh độ 109°24’Đ thuộc xã Vạn Hạnh, huyện Vạn Ninh, tỉnh
Khánh Hòa. Ngoài ra, nước ta còn có vùng biển rộng nằm trên Biển Đông với
trên 3000 đảo lớn, nhỏ nằm ở gần bờ và xa bờ. Vì thế, hệ tọa độ địa lý của
Việt Nam còn kéo dài tới khoảng vĩ độ hơn 6°50’B và từ khoảng kinh độ
101°Đ đến hơn 117°20’Đ trên Biển Đông.
- 14 -
Với hệ tọa độ địa lý trên, Việt Nam nằm hoàn toàn trong vành đai nóng
nội chí tuyến ở nửa cầu Bắc và gần sát với chí tuyến Bắc nên có sắc thái
chung của tự nhiên vùng nhiệt đới.
Việt Nam nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, là một trong ba hệ
thống của khu vực châu Á gió mùa điển hình, với hai mùa rõ rệt, mùa đông là
thời kỳ hoạt động của gió mùa Đông Bắc, mùa hạ là thời kỳ hoạt động của gió
mùa Tây Nam, tạo nên đặc điểm gió mùa của khí hậu Việt Nam và sắc thái
nhiệt đới ẩm.
thuận lợi cho ảnh hưởng của biển thâm nhập vào sâu trong đất liền, trước hết
là các luồng gió thổi từ biển vào, gió đất – biển và sự xâm nhập của thủy
triều, tạo nên vùng nước lợ, nhiễm mặn và ngập mặn ở vùng ven biển.
Phần lớn địa hình Việt Nam là đồi núi, tuy vậy tính chất phân bậc của
địa hình thể hiện khá rõ rệt ở miền núi với nhiều bậc địa hình mà hiện tại là
các đỉnh núi, các sơn nguyên tại mỗi bậc có độ cao xấp xỉ như nhau. Các kiểu
địa hình chính ở Việt Nam là: địa hình núi, địa hình cao nguyên, địa hình đồi,
địa hình đồng bằng và một số kiểu địa hình đặc biệt là cacxtơ, địa hình bờ
biển.
Địa hình Việt Nam rất tiêu biểu cho địa hình của vùng nhiệt đới ẩm, đó
là hiện tượng địa hình bị xâm thực, xói mòn mạnh mẽ do dòng chảy gây lên
khiến cho lượng phù sa trên các sông suối tăng lên rất nhanh, nhất là vào thời
kỳ mùa mưa. Do đó, những trận lũ ống, lũ quét có sức tàn phá rất lớn thực sự
là các tai họa đối với các vùng núi. Ngoài ra còn phải kể đến hiện tượng đất
trượt, sụt lở đất đá, làm biến đổi nhanh chóng bề mặt địa hình.
1.1.3. Khí hậu
Khí hậu là một trong những nhân tố quyết định bộ mặt của cảnh quan
- 16 -
tự nhiên Việt Nam. Cùng với địa hình, khí hậu có tác động đến sự hình thành
lớp phủ thổ nhưỡng, thực vật, động vật và chế độ thủy văn, hải văn.
Đặc điểm chung của khí hậu Việt Nam là khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa,
có sự phân hóa đa dạng, có diễn biến bất thường.
Khí hậu Việt Nam mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa. Tính chất
nhiệt đới của khí hậu thể hiện rõ nét qua yếu tố bức xạ. Lượng bức xạ tổng
cộng trung bình năm từ 110 - 130kcal/cm² ở Việt Nam là rất lớn. Nhiệt độ
trung bình hằng năm ở hầu hết các vùng trong cả nước là 22 - 25°C, ở Hà Nội
là 23,5°C, thành phố Hồ Chí Minh tới 27,1°C.
Tính chất gió mùa là sự biến thiên theo mùa của khí hậu Việt Nam, mà
nguyên nhân hình thành chính là do sự luân phiên hoạt động của gió mùa
của tính chất này là do ảnh hưởng mạnh mẽ của chế độ gió mùa. Tùy thuộc
vào diễn biến từng năm của gió mùa Đông Bắc hay gió mùa Tây Nam mà khí
hậu Việt Nam có những biến động khá phức tạp. Tính chất thất thường thể
hiện trước hết qua diễn biến và đặc trưng của mùa khí hậu. Có năm gió mùa
Đông Bắc hoạt động mạnh, đem đến một mùa đông rét và kéo dài, song có
năm gió mùa Đông Bắc hoạt động yếu, gây nên thời tiết nóng đến sớm bất
thường. Gió mùa Tây Nam cũng có năm gây mưa nhiều và lũ lớn, có năm lại
hoạt động yếu thậm chí gây ra cả hạn hán trong mùa hạ.
Sự biến động trong chế độ mưa luôn xảy ra trên phạm vi toàn lãnh thổ,
có những biểu hiện rõ nét và gây nhiều tác hại lớn hơn. Sự bất thường này thể
hiện ở sự biến động của lượng mưa hàng năm, lượng mưa từng mùa và lượng
mưa trong từng tháng. Sự biến động lượng mưa hằng năm thường được biểu
thị bằng tỉ số lượng mưa của năm mưa nhiều nhất với lượng mưa của năm
mưa ít nhất. Do tính chất thất thường của chế độ mưa mà việc chống hạn,
- 18 -
chống úng ngập thường xuyên phải đặt ra ở mọi nơi và việc tưới tiêu phải
được đưa lên thành các biện pháp kỹ thuật nông nghiệp hàng đầu.
Sự diễn biến thất thường của khí hậu Việt Nam còn được biểu hiện rõ
rệt trong hoạt động của bão. Bão ở Việt Nam thường được phát sinh từ khu
vực Biển Đông (chiếm 40% tổng số cơn bão) và vùng biển phía tây Thái Bình
Dương (chiếm 60% tổng số cơn bão). Đây cũng là một trong những trung tâm
lớn phát sinh và hoạt động mạnh của bão trên thế giới. Các cơn bão nhiệt đới
được hình thành trên vùng biển nóng, có độ ẩm cao và tình trạng rất bất ổn
định của khí quyển, nên thường xảy ra vào thời kỳ mùa hạ và đã trở thành quy
luật mùa.
Mùa bão ở Việt Nam thường kéo dài từ tháng 5 đến tháng 12 và xuất
hiện sớm ở khu vực phía Bắc, chậm dần đối với khu vực phía Nam. Bão ở
Việt Nam có phạm vi ảnh hưởng khá rộng. Mỗi khi có bão thường gây ảnh
hưởng tới nhiều địa phương. Khi bão đổ bộ vào đất liền, tốc độ gió đã giảm đi
cùng với chế độ mưa khác biệt với miền Bắc và miền Nam đã tạo ra một kiểu
thủy chế riêng cho khu vực này.
Mùa lũ của sông ngòi kéo dài từ 3 - 6 tháng, trung bình là 4 - 5 tháng.
Trung bình lượng nước trong mùa lũ chiếm tới 70 - 80% tổng lượng nước cả
năm.
Mùa cạn trên các triền sông ở Việt Nam thường kéo dài hơn mùa lũ.
Thời kỳ mùa cạn kéo dài trung bình là 7 - 8 tháng, với lượng nước nhỏ, chỉ
chiếm từ 20 - 30% tổng lượng nước cả năm.
Chế độ nước của sông ngòi Việt Nam thường hay có những biến động
thất thường, lệ thuộc vào diễn biến bất thường của thời tiết. Có những năm ở
một số nơi đã có xuất hiện lũ cao trong thời kỳ mùa cạn do có lượng mưa khá
lớn. Ở những vùng hạ lưu và cửa sông những năm có lượng nước cạn kiệt, sẽ
- 20 -
tạo điều kiện cho thủy triều xâm nhập sâu hơn vào đất liền và gây nên tình
trạng nhiễm mặn (điển hình là ở đồng bằng sông Cửu Long). Tuy vậy, sự biến
động thất thường trong chế độ dòng chảy thường được biểu hiện rõ nét nhất
vào thời kỳ mùa lũ. Trên tất cả các triền sông thường diễn ra sự biến động về
lượng nước và thời gian xảy ra lũ lớn. Và sự biến động rất lớn so với chỉ số
trung bình nhiều năm cũng diễn ra không theo quy luật thời gian. Có những
năm lũ về rất sớm, nhưng cũng có năm lũ xảy ra muộn. Điều này gây rất
nhiều trở ngại cho các vùng không có hệ thống đê điều ngăn lũ.
1.1.5. Biển Đông
Việt Nam có vùng bờ biển rộng trên 1 triệu km² và đường bờ biển dài
hơn 3260 km. Trên vùng biển Việt Nam có 2773 đảo lớn nhỏ ven bờ và 2
quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Biển Đông là biển lớn thứ hai trong số các biển ở Thái Bình Dương và
thứ ba trên thế giới. Biển Đông có vùng thềm lục địa vào loại rộng nhất thế
giới, khoảng 1,5 triệu km² trong đó tập trung nhiều nhất ở khu vực vịnh Bắc
Bộ, vịnh Thái Lan và thềm lục địa từ Cà Mau đến Xingapo. Biển Đông ở
trên lưu vực và châu thổ những con sông lũ lụt hung dữ, với khí hậu, thời tiết
khắc nghiệt, có thể hình dung rằng trong buổi ban đầu hạn hán, lũ lụt cùng các
hiện tượng tai biến tự nhiên khác gây cho con người rất nhiều khó khăn.
Đến thời đại Văn Lang, con người bắt đầu nhận thức ra rằng “ thiên
nhiên Việt Nam chứa đựng nhiều của cải. Song cái thiên nhiên nhiệt đới gió
mùa ẩm ướt này cũng rất khắc nghiệt đối với con người thuở xa xưa. Một
thiên nhiên còn nhiều phần hoang dại. Rừng rậm. Hổ voi. Đầm lầy. Cá sấu.
Bão tố và lụt lội. Nắng cháy và hạn hán. Con người Việt Nam thời cổ trước
hết phải đùm bọc nhau, đồng cam cộng khổ, sáng tạo kỹ thuật, mài đồ đá, đúc
đồ đồng, tiến công vào thiên nhiên. Họ chống thú dữ. Họ tìm hiểu cỏ cây có
- 22 -
ích. Họ phá rừng lập ấp, gác gỗ dựng nhà sàn. Họ đẽo thuyền, kết mảng,
dựng cột buồm…” [36, tr. 22]. Tiếp sau đó, khi đã thiết lập được một nền
nông nghiệp định cư, con người ngày càng ý thức rõ được rằng thiên tai vô
cùng khắc nghiệt và gắn liền với nền nông nghiệp trồng lúa, từ đó tìm cách
đối phó, ngăn chặn, khắc phục hoặc ít nhất cũng có khát vọng, ước mơ chế
ngự được để sinh tồn và phát triển.
Biện pháp phòng chống và khắc phục sơ khai mà cư dân Lạc Việt lựa
chọn là “ Ruộng Lạc theo nước triều lên xuống mà làm” [36, tr. 46]. Và có
thể ban đầu họ chỉ trồng cấy ở vùng đất tương đối cao, lũ ngập không sâu, họ
tìm cách be bờ để ngăn nước lụt tràn vào. Đến nay chưa thể khẳng định được
lịch sử ra đời của những bờ thửa, bờ vùng sơ khai ấy. Việc làm đơn giản đầu
tiên ấy có thể là của một vài gia đình. Nhưng bờ thấp thì lũ hay tràn vào, hàng
năm họ lại phải đắp cao lên. Nhưng đến một mức nào đó thì lũ lại không tràn
qua bờ mà theo những nẻo đất khác tuy cao hơn ruộng của họ nhưng lại thấp
thua bờ vùng, bờ thủa. Sự kiện ấy diễn đi diễn lại nhiều lần cho đến khi nhận
thức ra rằng phải đắp những bờ vùng vừa cao, vừa dài, bao quanh che chở cả
một vùng rộng lớn. Công việc này đòi hỏi phải có nhiều lao động, phải biết tổ
chức nhau lại và cùng nhằm bảo vệ lợi ích chung của từng vùng. Điều kiện