TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
o0o
BÀI TẬP NHÓM
MÔN: QUẢN LÝ HỌC Đề tài:
NGHIÊN CỨU VỀ CÁC CÔNG CỤ TẠO ĐỘNG LỰC
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS. Đỗ Thị Hải Hà
Danh sách nhóm : Phạm Minh Thư – 11123912 – 255
Nguyễn Đình Hoàng – 11121522 – 103
Nguyễn Xuân Tuyến – 11124488 – 290
Vũ Hải Linh – 11122142 – 157
Phạm Thanh Vân – 11124550 – 293
Lớp tín chỉ : Quản lý học 1 (213)_5
Hà Nội, tháng 10/2013
Môi trường quản lí là tổng thể tất các yếu tố tác động hoặc có tác động lên hoặc
có tác động lên hệ thống mà nhà quản lí chịu trách nhiệm quản lí. Đặc điểm các
yếu tố của môi trường quản lí dù môi trường bên trong và bên ngoài của bất kì
một tổ chức nào cũng mang tính phức tạp, không ổn định và phụ thuộc lẫn nhau.
xã hội trong trường học, quản lý tài chính.
Qua tìm hiểu, bài tập được chia thành 2 phần:
Phần 1. Môi trường quản lí.
Phần này là những tổng kết thảo luận về môi trường quản lí, xác định các hợp
phần của môi trường quản lí, bao gồm: môi trường bên trong và môi trường bên
ngoài.
Phần 2. Mối quan hệ giữa tổ chức với môi trường bên ngoài.
Do tính chất môi trường bên ngoài luôn biến động, tạo ra sự không chắc chắn cho
nhà quản lí đặt ra yêu cầu nhà quản lí phải lựa chọn thay đổi để thích nghi với môi
trường hay ảnh hưởng đến môi trường để làm cho nó thích hợp hơn với yêu cầu
của tổ chức. Tìm hiểu mối quan hệ giữa tổ chức và môi trường giúp các nhà quản
lí đưa ra được quyết định nhằm duy trì và phát triển được tổ chức phù hợp với sự
thay đổi, biến động không ngừng của môi trường.
Phần 1. Môi trường quản lí
1. Môi trường bên ngoài:
a. Môi trường chung của tổ chức
Môi trường kinh tế:
Các điều kiện kinh tế nói chung có ảnh hưởng quyết định đến thành công của một
tổ chức. với đối tượng tổ chức đang xét là một trường tiểu học, các yếu tố có
trong môi trường kinh tế có ảnh hưởng là:
- Khả năng đầu tư ngân sách nhà nước cho trường học: yếu tố cơ sở vật chất
của trường học, mức tiền lương và phụ cấp cho giáo viên, nhân viên trong
trường để đảm bảo môi trường học tập với đầy đủ trang bị cần thiết, đội
ngũ giáo viên tận tâm, nhiệt tình và bằng lòng với công việc Một sự thay
đổi trong cấu trúc nền kinh tế có ảnh hưởng to lớn đến các chính sách đầu
tư và phát triển giáo dục dòi hỏi bộ phận quản lí phải có các thay đổi mang
tính chiến lược để thích ứng phù hợp với những yêu cầu mới.
- Điều kiện kinh tế của gia đình các học sinh: mức thu nhập của gia đình học
Điều 23. Quản lý tài sản, tài chính
1. Quản lý tài sản của tr¬ường tiểu học tuân theo các quy định của pháp luật.
Mọi thành viên trong trư¬ờng có trách nhiệm giữ gìn, bảo vệ tài sản nhà
trường.
2. Việc quản lý thu, chi từ các nguồn tài chính của nhà tr¬ường thực hiện theo
quy định hiện hành của Bộ Tài chính và Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Điều 24. Chương trình giáo dục, kế hoạch dạy học
1. Trường tiểu học thực hiện chư¬ơng trình giáo dục, kế hoạch dạy học do Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành; thực hiện kế hoạch thời gian năm
học theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo và phù hợp với điều kiện
cụ thể của từng địa phương.
2. Căn cứ vào kế hoạch dạy học và kế hoạch thời gian năm học, nhà trường cụ
thể hoá các hoạt động giáo dục và giảng dạy, xây dựng thời khoá biểu phù
hợp với tâm lý, sinh lý lứa tuổi học sinh và điều kiện của địa phương.
Học sinh dân tộc thiểu số được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình. Việc dạy
và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số được thực hiện theo quy định của
Chính phủ.
Học sinh tàn tật, khuyết tật học hoà nhập được thực hiện kế hoạch dạy học linh
hoạt phù hợp với khả năng của từng cá nhân và Quy định về giáo dục hoà nhập
dành cho người tàn tật, khuyết tật.
Điều 25. Sách giáo khoa và tài liệu tham khảo
1. Sách giáo khoa được sử dụng chính thức trong giảng dạy, học tập ở
trường tiểu học và các cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo
dục tiểu học.
2. Nhà trường có trách nhiệm trang bị tài liệu tham khảo phục vụ cho hoạt
động giảng dạy và nghiên cứu của giáo viên; khuyến khích giáo viên sử
dụng tài liệu tham khảo để nâng cao chất lượng giáo dục.
3. Tài liệu học tập dành cho học sinh tàn tật, khuyết tật, học sinh có hoàn
cảnh đặc biệt khó khăn do Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn riêng.
Điều 26. Hoạt động giáo dục
động giảng dạy và giáo dục.
7. Nhiệm vụ của Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, Tổng phụ trách Đội được quy
định cụ thể tại Điều 17, Điều 18, Điều 19 của Điều lệ này.
Điều 32. Quyền của giáo viên
1. Được nhà trường tạo điều kiện để thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và giáo
dục học sinh.
2. Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; được
hưởng nguyên lương, phụ cấp và các chế độ khác theo quy định khi được
cử đi học để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.
3. Được hưởng mọi quyền lợi về vật chất, tinh thần và được chăm sóc, bảo vệ
sức khoẻ theo chế độ, chính sách quy định đối với nhà giáo.
4. Được bảo vệ nhân phẩm, danh dự.
5. Được thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật.
Điều 33. Trình độ chuẩn được đào tạo của giáo viên
1. Trình độ chuẩn được đào tạo của giáo viên tiểu học là có bằng tốt nghiệp
trung cấp sư phạm.
2. Giáo viên tiểu học có trình độ đào tạo trên chuẩn được hưởng chế độ chính
sách theo quy định của Nhà nước; được tạo điều kiện để phát huy tác dụng
trong giảng dạy và giáo dục. Giáo viên chưa đạt trình độ chuẩn được đào
tạo được nhà trường, các cơ quan quản lý giáo dục tạo điều kiện học tập,
bồi dưỡng đạt trình độ chuẩn để bố trí công việc phù hợp.
Điều 34. Hành vi, ngôn ngữ ứng xử, trang phục của giáo viên
1. Hành vi, ngôn ngữ ứng xử của giáo viên phải chuẩn mực, có tác dụng giáo
dục đối với học sinh.
2. Trang phục của giáo viên phải chỉnh tề, phù hợp với hoạt động s¬ư phạm.
Điều 35. Các hành vi giáo viên không được làm
1. Xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể học sinh và đồng
nghiệp.
2. Xuyên tạc nội dung giáo dục; dạy sai nội dung, kiến thức, không đúng với
quan điểm, đường lối giáo dục của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Điều 6. Phân cấp quản lý
1. Trường tiểu học do Uỷ ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc
tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện) quản lý.
2. Các lớp tiểu học, cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục tiểu
học quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 4 của Điều lệ này do cấp có thẩm
quyền thành lập quản lý.
3. Phòng giáo dục và đào tạo thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với
mọi loại hình trường, lớp tiểu học và các cơ sở giáo dục khác thực hiện
chương trình giáo dục tiểu học trên địa bàn.
Môi trường văn hóa xã hội:
Môi trường xã hội trong đó có các tổ chức hoạt động tác động một cách có hệ
thống lên tổ chức.
- Về cơ cấu dân số, độ tuổi, giới tính, khu vực, chủng tộc có nahr hưởng đến
hoạt động điềuu hành của trường học. Ví dụ, với tâm lí sinh con trong
những năm Quý Mùi, Đinh Hợi là “tốt số” mà mùa tựu trường năm 2009 và
năm 2013 có số lượng trẻ lớp 1 nhập học tăng vọt, hay tâm lí và quan niệm
thích sinh con trai khiến tỉ lệ giới tính học sinh nam, nữ mất cân đối. Ngoài
ra, xu hướng di dân từ vùng ven đô vào vùng nội thành khiến tính trạng quá
tải ở các lớp học trong nhiều quận nội thành, trong khi các trường học tại
vùng ngoại thành lại “thiếu” học sinh, không khai thác hiệu quả nguồn lwucj
được phân bổ (giáo viên giỏi, cơ sở vật chất đầy đủ). Bên cạnh đó, tính
trạng hôn nhân gia đình và cơ cấu gia đình (gia đình con một hay đông anh
em) cũng có ảnh hưởng đến hoạt động tạo trường lớp của học sinh
- Các yếu tố văn hóa như quan điểm, quy tắc, phong tục tập quán truyền
thống, lối sống thói quen, trình độ giáo dục có ảnh hưởng to lớn đến hoạt
động dạy học tại trường lớp. Ông cha quan niệm”tên học lễ, hậu học văn”
nên trê em bậc tiểu học chưa học nhiều về các kiến thức khoa học, các em
được trang bị các lế nghĩa cơ bản như chào hỏi, quan hệ gia đình và xã hội(
biết thương yêu cha mẹ, kính trọng ông bà, thầy cô, yêu quý bạn bè )hình
Môi trường tự nhiên:
Các học sinh tiểu học tuy chưa có nhận thức đầy đủ về môi trường và thế giới tự
nhiên, nhưng dưới sức ảnh hưởng của thực trạng cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên,
khủng hoảng năng lượng, tình trạng ô nhiễm môi trường đã sớm đưa những bài
học về sử dụng nhiên liệu hiệu quả và có ý thức giữ gìn môi trường sống (đơn
giản như dạy các ẻm biết tắt các thiết bị điện khi không cần thiết, vứt rác đúng nơi
quy định, tham gia lao động bảo vệ môi trường ) trở nên gần gũi. Chính việc giáo
dục nhân cách và thói quen cho các em từ khi còn nhỏ là tiền đề để các em có sự
phát triển và cái nhìn đầy đủ về thế giới sau này, nhận thức được vai trò và những
việc bản thân nên làm và nên tránh.
Môi trường quốc tế:
Ngày nay, những biến đổi của môi trường quốc tế có tác động đến hoạt động của
bất kì tổ chức hay hệ thống xã hội nào. Toàn cầu hóa làm cho mỗi yếu tố kinh tế,
chính trị, văn hóa xã hội, công nghệ và tự nhiên đều có thể trỏ thành vấn đề mang
tính quốc tế.
Xu hướng hội nhập với nền kinh tế mở đã mang lại diện mạo mới cho nhiều
ngành, nhiều vùng kinh tế. Xã hội cũng trở nên cởi mở, năng động hơn, các thuật
ngữ như “công dân toàn cầu” được đưa vào trong trường học như một tiêu chí
mà nhiều hệ thống giáo dục theo đuổi. Trong đó, các kĩ năng giao tiếp ứng xử,
phản hồi tích cực được giảng dạy song song với chương trình học chính thức. Các
giờ học tiếng anh với người nước ngoài, các học sinh được hướng dẫn tự học và
tìm kiếm thông tin từ nhiều nguồn, khuyến khích sáng tạo và tham gia các hoạt
động ngoài giờ
b. Môi trường tác nghiệp
Khách hàng
Khách hàng với đối tượng trường tiểu học X là các học sinh sử dụng dịch vụ giáo
dục công tại trường. Số lượng khách hàng hay chính là số học sinh đi học (sử dụng
dịch vụ công là giáo dục) có ảnh hưởng đến sự tồn tại của trường học. Mong
muốn của khách hàng hay chính là mong muốn của học sinh và phụ huynh học
sinh là con em họ được hưởng môi trường giáo dục tốt tại trường với mức chi phí
hình thức liên quan tới chính trị và phương tiện truyền thông để ép các tổ chức
tiến hành điều chỉnh nhằm đem lại lợi ích cho các thành viên hoặc cho chính tổ
chức. Chẳng hạn hôi phụ huynh có thể gây sức ép với nhà trường yêu cầu cắt
giảm giờ học thêm quá nặng nề cho con em họ, thay vào đó là các giờ học ngoại
khóa phù hợp cho hoạt động thể chất, hoặc cắt giảm các phụ phí quá nhiều để xây
dựng,mua sắm các thiết bị mà học cho rằng không thật cần thiết
Trong trường hợp khách hàng (chính là các học sinh trong trường) lên tiếng về
chất lượng sản phẩm, dịch vụ, ví dụ như học sinh lên tiếng về cách giảng bài khó
tieps thu, chậm đổi mới của các giáo viên gây ra sự bắt buộc thay đổi nhanh hơn
so với yếu tố cạnh tranh mang lại. Đây cũng là cơ hội để ban giám hiệu hiểu rõ và
lắng nghe được các yêu cầu của học sinh trong trường và học cách thay đổi tích
cực từ môi trường (yêu cầu mới của các khách hàng hay là yêu cầu từ môi trường
xã hội).
Công đoàn
Công đoàn có nhiệm vụ đàm phán với các nhóm đối tượng khác (ban giám hiệu,
bộ phận quản lí cấp trên ) nhằm đem lại lợi ích tốt nhất cho những cán bộ,viên
chức, nhân viên trong trường. Ngoài chăm lo đời sống tinh thần cho các giáo viên,
nhân viên, công đoàn có nhiệm vụ thu thập các ý kiến, phản hồi vè điều kiện làm
việc, thời gian làm việc và tiền lương của mọi thành viên trong tổ chức.
Nhà nước
Nhà nước với các chính sách, quy định nhằm duy trì , thúc đẩy, điều tiết tác
động trực tiếp đến xu hướng, chiến lược của một tổ chức xã hội. Với một tổ chức
công lập như trường tiểu học X, nhà nước đóng vai trò đặc biệt quan trọng, ví dụ,
nhà nước định hướng chương trình, mục tiêu giáo dục, phân bố ngân sách nhà
nước cho trường học. Chính sách ưu tiên phát triển giáo dục, phổ cập giáo dục
tiểu học đã giúp các trẻ em đi học tiểu học mà không phải trả học phí, chương
trình học liên tục được thay đổi, cập nhật sao cho phù hợp nhất với lứa tuổi và
yêu cầu nhận thức của trẻ em tiểu học Luật giáo dục đưa ra nhằm điều chỉnh
hành vi của những người tham gia các tổ chức giáo dục và có liên quan nhằm tạo
ra môi trường giáo dục toàn diện nhất, bảo vệ quyền lợi cho mọi học sinh khi
môn Tiếng Anh, thực hiện theo hướng dẫn tại Công văn số 5893/BGDĐT-
CSVC ngày 06/9/2011, không khuyến khích việc mua sắm các thiết bị đắt
tiền, hiệu quả sử dụng thấp.
- Khai thác các nguồn lực nhằm tăng cường các TBDH hiện đại, thiết bị dạy
học có yếu tố công nghệ thông tin, phần mềm dạy học Tiếng Việt, Toán, Tự
nhiên và Xã hội.
- Bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của viên chức làm
công tác TBDH, tiếp tục đẩy mạnh phong trào tự làm đồ dùng dạy học
thông qua các hoạt động làm mới, cải tiến, sửa chữa đồ dùng dạy học; thu
thập, tuyển chọn các sản phẩm tốt để lưu giữ, phổ biến, nhân rộng trong
toàn ngành.
- Triển khai Đề án “Phát triển thiết bị dạy học tự làm giáo dục mầm non và
phổ thông giai đoạn 2010-2015” theo Quyết định số 4045/QĐ-BGDĐT ngày
16/9/2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
b. Nghiên cứu khoa học và phát triển
Trong các trường học (cơ sở giáo dục): bên cạnh chức năng dạy học; quản lý, giáo
dục người học của các thầy, cô giáo, cán bộ trong hội đồng nhà trường còn có một
nhiệm vụ rất quan trọng đó là “đúc rút sáng kiến kinh nghiệm, làm đề tài nghiên
cứu khoa học (NCKH) và làm đồ dùng dạy học”. Tùy theo từng tính chất của
chuyên môn, nhiều cơ sở giáo dục còn coi đây là nhiệm vụ bắt buộc đối với cán
bộ, giáo viên. Tuy nhiên nhiệm vụ này đến nay luôn là vấn đề khó, thậm chí là bế
tắc đối với nhiều cán bộ, giáo viên (nhất là đối với khối Mầm non và Tiểu học): có
người không biết cách làm, có người biết cách làm nhưng không thể hiện cho
người khác hiểu được (không biết báo cáo thành văn bản), nhiều người lại coi đây
là công việc của các nhà khoa học, hoặc của lãnh đạo đơn vị; chính vì vậy nhiên
nhiệm vụ này luôn là một phần trong “bài toán quản lý” mà các nhà quản lý trong
các cơ sở giáo dục luôn khó giải hoặc giải được nhưng “đáp số chưa tối giản”.
Bản chất “Khoa học”: là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra những kiến thức
mới, học thuyết mới về tự nhiên và xã hội. Những kiến thức hay học thuyết mới
này, tốt hơn, có thể thay thế dần những cái cũ, không còn phù hợp.
thậm chí còn trái ngược nhau về căn bản. Tuy nhiên, chính điều này đã thu hút sự
chú ý của rất nhiều người, đặc biệt là những người làm công tác nghiên cứu lý
luận giáo dục. Trong đó, sự nghiên cứu về mối quan hệ giữa kinh tế thị trường với
nội hàm cải cách giáo dục là một vấn đề rất được quan tâm.
- Quan niệm giáo dục là ngành sản xuất đặc biệt
Quan niệm này cho rằng: nếu chúng ta định nghĩa công nghiệp là sự nghiệp hoạt
động sản xuất, thì giáo dục mang tính sản xuất đương nhiên phải là một ngành
trong lĩnh vực sản xuất. Trên thế giới, thông thường giáo dục được xếp vào ngành
sản xuất thứ ba. Năm 1992, ở Trung Quốc, quyết định về ngành sản xuất thứ ba
do Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc Vụ viện Trung Quốc đưa ra rõ ràng; rằng
sự nghiệp giáo dục là trọng điểm của ngành sản xuất thứ ba, và chỉ rõ giáo dục là
"ngành cơ bản có ảnh hưởng toàn diện, dẫn dắt đối với sự phát triển của nền kinh
tế quốc dân"; đồng thời cho rằng, tính chất của sản xuất giáo dục là do tính
chuyên ngành, tính sản xuất, tiêu hao nguồn vốn và tính có thể kinh doanh của nó
quyết định. ở Việt Nam, với cải cách giáo dục năm 1981, giáo dục được xếp vào
lĩnh vực công nghiệp và lương giáo viên được xếp theo thang lương kỹ sư.
Tính đặc thù của sản xuất giáo dục là do ba đặc tính cơ bản của nó quyết định,
bao gồm giáo dục là ngành sản xuất có tính nền tảng, giáo dục là ngành sản xuất
gián tiếp và giáo dục là ngành sản xuất có hiệu quả rất lâu dài. Quan điểm này góp
phần làm rõ vai trò và vị trí chiến lược của giáo dục, cung cấp lý luận trụ cột mới
cho lộ trình cải cách giáo dục được sâu hơn.
Ở nước ta, với nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thì quá
trình ấy cần chú trọng sự gắn liền quá trình này với lịch sử phát triển giáo dục. Hay
nói cách khác, muốn xem giáo dục có phải là hàng hóa hay hàng hóa ở góc độ nào,
thì hãy xem sản phẩm của nó phục vụ cho ai, tức là sự nghiệp giáo dục có thuộc
về quốc gia, dân tộc của chúng ta hay không?
Trên cơ sở đó, người ta cho rằng, giáo dục là ngành sản xuất đặc biệt, một ngành
đào tạo con người để đặc biệt phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế. Mặt khác, sản
phẩm của giáo dục lại có thể đóng góp làm cho các ngành nghề khác tăng GDP. Do
giá trị đặc biệt của sản phẩm giáo dục là có thể trở thành nhu cầu tiêu thụ của xã
Thực chất của quan niệm thu hút lực lượng lao động qua đào tạo - hay nói
cách khác - năng lực làm việc của người lao động là sự đầu tư tiền bạc khi
tiến hành đào tạo, tức là đã tạo giá trị cho lực lượng lao động đó vào thị
trường lao động. Với trình độ giáo dục khác nhau thì lực lượng lao động có
trình độ và khả năng làm việc khác nhau, nên cũng có giá trị khác nhau khi
tham gia thị trường.
Sản phẩm giáo dục không phải là hàng hóa. Nhiều người cho rằng, giáo dục
không giống sản xuất hàng hóa, bởi sản xuất thì lấy việc không ngừng hạ
thấp giá thành và theo dõi lợi nhuận làm mục tiêu. Còn giáo dục thì lấy
nhiệm vụ chính trị làm mục tiêu. Những người lao động được giáo dục -
đào tạo nói chung, thường không bị coi là hàng hóa trên thị trường. Phần
lớn kinh phí giáo dục trên thế giới đều do nhà nước chịu trách nhiệm, học
sinh và gia đình chỉ gánh vác một phần học phí hoặc toàn bộ học phí chứ
không phải là toàn bộ sự nghiệp giáo dục. Giáo dục trải qua bao nhiêu thế
kỷ đều được khẳng định là ngoài chức năng và giá trị kinh tế, còn có các
chức năng và giá trị chính trị, chức năng văn hóa Nếu quá nhấn mạnh vào
vấn đề chức năng kinh tế của giáo dục thì khó bảo đảm được chức năng xã
hội và chính trị. Điều này cũng có nghĩa là khó bảo đảm tính công bằng
trong giáo dục.
Về thị trường giáo dục:
- Thị trường hàng hóa mang hình thái vật chất
Thị trường hàng hóa mang hình thái vật chất của giáo dục là ngoài các sản phẩm
vật chất, do nhà trường trực tiếp sản xuất, đầu tư, còn tăng cường góp phần làm
cho nền kinh tế thị trường thêm phồn vinh. ở đây, chủ yếu là thông qua việc thể
hiện vai trò của giáo dục đối với phát triển sản xuất hàng hóa mang hình thái vật
chất, được phản ánh thông qua việc rút ngắn thời gian lao động cần thiết của xã
hội, nâng cao hiệu suất sản xuất lao động, hàng hóa sản xuất càng nhiều trong
cùng một đơn vị thời gian, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị cao.
- Thị trường nhân tài, thị trường lực lượng lao động
Rất nhiều nhà nghiên cứu đã nhận định: thị trường nhân tài, thị trường lực lượng
- Nhiệm vụ của tổ chuyên môn:
a. Xây dựng kế hoạch hoạt động chung của tổ theo tuần, tháng, năm
học nhằm thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học và các hoạt
động giáo dục khác;
b. Thực hiện bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kiểm tra, đánh giá chất
lượng, hiệu quả giảng dạy, giáo dục và quản lý sử dụng sách, thiết bị
của các thành viên trong tổ theo kế hoạch của nhà trường;
c. Tham gia đánh giá, xếp loại giáo viên theo quy định Chuẩn nghề
nghiệp giáo viên tiểu học và giới thiệu tổ trưởng, tổ phó.
Tổ văn phòng
Mỗi trường tiểu học có một tổ văn phòng gồm các viên chức làm công tác y tế
trường học, văn thư, kế toán, thủ quỹ và nhân viên khác. Tổ văn phòng có tổ
trưởng, tổ phó.
- Nhiệm vụ của tổ văn phòng:
a. Xây dựng kế hoạch hoạt động chung của tổ theo tuần, tháng, năm
nhằm phục vụ cho việc thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học và
các hoạt động giáo dục khác của nhà trường;
b. Bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kiểm tra, đánh giá chất lượng,
hiệu quả công việc của các thành viên trong tổ theo kế hoạch của nhà
trường;
c. Tham gia đánh giá, xếp loại viên chức; giới thiệu tổ trưởng, tổ phó;
d. Lưu trữ hồ sơ của trường.
Hiệu trưởng
Hiệu trưởng trường tiểu học là người chịu trách nhiệm tổ chức, quản lý các hoạt
động và chất lượng giáo dục của nhà trường. Hiệu trưởng do Chủ tịch Uỷ ban
nhân dân cấp huyện bổ nhiệm đối với trường tiểu học công lập, công nhận đối với
trường tiểu học tư thục ýtheo đề nghị của Trưởng phòng giáo dục và đào tạo.
Nhiệm kỳ của Hiệu trưởng trường công lập là 5 năm; hết nhiệm kỳ, Hiệu trưởng
được luân chuyển đến một trường khác lân cận hoặc theo yêu cầu điều động.
Hiệu trưởng chỉ được giao quản lý một trường tiểu học.
h) Thực hiện xã hội hoá giáo dục, phát huy vai trò của nhà trường đối với cộng
đồng.
Phó Hiệu trưởng
- Phó Hiệu trưởng là ngư¬ời giúp việc cho Hiệu trưởng và chịu trách nhiệm
trước Hiệu trưởng, do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện bổ nhiệm đối
với trường công lập, công nhận đối với trường tư thục theo đề nghị của
Trưởng phòng giáo dục và đào tạo.
- Người được bổ nhiệm hoặc công nhận làm Phó Hiệu trưởng trư-ờng tiểu
học phải là giáo viên có thời gian dạy học ít nhất 2 năm ở cấp tiểu học, có
uy tín về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, chuyên môn, nghiệp vụ; có
năng lực quản lý trường học và có sức khoẻ. Trường hợp do yêu cầu đặc
biệt của công việc, người được bổ nhiệm hoặc công nhận Phó Hiệu trưởng
có thể có thời gian dạy học ít hơn theo quy định.
- Nhiệm vụ và quyền hạn của Phó Hiệu trưởng:
a. Chịu trách nhiệm điều hành công việc do Hiệu trưởng phân công;
b. Điều hành hoạt động của nhà trư¬ờng khi đ¬ược Hiệu trưởng uỷ
quyền;
c. Dự các lớp bồi d¬ưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ quản lý;
tham gia giảng dạy bình quân 4 tiết trong một tuần; được hư¬ởng
chế độ phụ cấp và các chính sách ưu đãi theo quy định.
Tổng phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh
- Tổng phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh (sau đây gọi là Tổng
phụ trách Đội) là giáo viên tiểu học được bồi dưỡng về công tác Đội Thiếu
niên Tiền phong Hồ Chí Minh, Sao Nhi đồng Hồ Chí Minh.
- Tổng phụ trách Đội có nhiệm vụ tổ chức, quản lý các hoạt động của Đội
Thiếu niên và Sao Nhi đồng ở nhà trường và tổ chức, quản lý hoạt động
giáo dục ngoài giờ lên lớp. Mỗi trường tiểu học có một Tổng phụ trách Đội
do Trưởng phòng giáo dục và đào tạo bổ nhiệm, theo đề nghị của Hiệu
trưởng trư¬ờng tiểu học.
Hội đồng trường
Khi Hiệu trưởng không nhất trí với nghị quyết hoặc kết luận của Hội đồng trường,
phải kịp thời báo cáo xin ý kiến cơ quan quản lý giáo dục cấp trên trực tiếp. Trong
khi chờ ý kiến của cấp trên, Hiệu trưởng vẫn phải thực hiện theo nghị quyết hoặc
kết luận của Hội đồng trường đối với những vấn đề không trái với pháp luật hiện
hành và Điều lệ trường tiểu học.
Tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam và đoàn thể trong tr¬ường
- Tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam trong tr¬ường tiểu học lãnh đạo nhà
trường và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật và Điều lệ của
Đảng.