Ấn chương Việt Nam - Ấn tín trong lĩnh vực Tôn giáo tín ngưỡng thời Nguyễn doc - Pdf 19

Ấn chương Việt Nam - Ấn tín trong lĩnh vực Tôn giáo tín
ngưỡng thời Nguyễn

Xã hội phong kiến thời Nguyễn rập khuôn hoàn toàn theo khuôn mẫu của xã hội phong
kiến Việt Nam trước nó. Tư tưởng Tam giáo (Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo) đã ăn sâu
cắm rễ vào con người Việt Nam qua nhiều thế hệ. Ở một xã hội phong kiến nghèo nàn lạc
hậu, bế tắc chồng chất khiến con người luôn tìm đến tôn giáo tín ngưỡng, hy vọng một sự
giải thoát hữu hiệu. Tâm linh họ đến cửa Phật, thánh, thần, ông hoàng, bà chúa v.v… một
tấm lòng thành những mong được bình an và giải hạn. Lời thỉnh cầu của họ được gửi gắm
vào lá sớ hóa cùng vàng mã, vào lá bùa dùng để trấn yểm v.v… Trên những lá sớ, lá bùa
đó thường có in hình con dấu riêng biệt đặc trưng cho loại hình sớ và từng loại bùa khác
nhau.

Không như là sớ được lưu hành rộng rãi tự do, lá bùa chỉ có ở các thầy cúng, thầy phù
thủy. Khi gia chủ yêu cầu về việc gì thì thầy sẽ cho đạo bùa đúng yêu cầu đó. Những
người dựng nhà mới, dù đất có dữ hay không, nhưng lễ “Nhập trạch” họ thường mời thầy
hành lễ và đặt bùa “Trấn trạch” ở nhiều chỗ trong ngôi nhà. Trên lá bùa, ngoài những
dòng ghi chữ Hán, những nét bùa chú còn in một hoặc hai ba hình ấn dấu. Không chỉ có
một mà có vài ba loại bùa “Trấn trạch” khác nhau. Hình dấu ở mỗi loại cũng hoàn toàn
khác nhau, cái hình vuông, cái hình chữ nhật, cái to, cái nhỏ v.v… Những gia đình có
người mới mất bị phạm vào ngày giờ trùng tang, trùng phục hay nhất Sa, nhị Sa, tam Sa
v.v…, gia chủ mời thầy về hành lễ. Thầy cho nhiều bùa khác nhau. Ngoài các lọ bùa yếm
ở mả, ở cổng ngõ, tám góc trên dưới trong nhà, các cửa, bùa cuốn vào tay người mất, và
dán trong áo quan, lá bùa to đắp vào mặt người mất, và dán trên các cửa ra vào v.v…
Ngoài bùa trấn trạch và bùa tang ma ra còn nhiều loại bùa khác nữa có các nét tróc, phọc
và những nét vẽ, viết loằng ngoằng cực kỳ khó hiểu. Ở một số loại bùa thường có in hình
con dấu khác nhau, những hình dấu này đều được đóng từ mỗi quả ấn ở chùa, đền hay
điện thờ.

Qua những chuyến công tác đến nhiều chùa, đền, điện thờ khác nhau chúng tôi đã in chụp
được một số hiện vật ấn tín bằng gỗ. Số ấn này được làm theo nhiều kiểu khác nhau,

chúa, ông hoàng v.v… Xin được giới thiệu một số ấn bằng gỗ tiêu biểu. Những quả ấn
này có hình thức khác nhau, núm ấn chiếc nào làm đơn giản thì để mộc, chiếc nào đẽo
gọt cẩn thận thì quét sơn ta. Mặt đế ấn khắc viền để rìa cạnh, chữ Triện khắc vuông vức
và rõ nét. Ấn thứ nhất làm theo kiểu hình tháp bằng đầu, ngoài phủ lớp sơn ta đã cũ, cao
4,8cm. Mặt đế hình vuông cỡ 3,3x3,3cm có khắc chữ Thượng (上). Mặt trên hình vuông
cỡ 4,2x4,2cm. Mặt dấu hình vuông bằng cỡ mặt đế ấn, đế viền ngoài 0,5cm, bên trong là
4 chữ Triện Kiếp Bạc linh phù 劫泊靈符. Đây là phù ấn đóng trên các đạo bùa ở đền
Kiếp Bạc. (H. 225 a,b,c)

Các ấn tiếp theo dưới đây đều có chung hình thức là núm cầm ngắn, gần như không có
chiều cao của ấn, phần độ dầy của đế ấn gắn liền với núm cầm. Quả ấn có phần mặt ấn
khắc đường gờ lượn góc, núm cầm thấp nhưng rộng và cạnh uốn hình sóng nước, trên
mặt khắc chữ Chính (正) Mặt đế ấn hình vuông kích thước 5,5x5,5cm. Mặt dấu hình
vuông bằng cỡ đế ấn, để viền ngoài 0,8cm, bên trong là 4 chữ Triện Tam phủ công đồng
(三府公同). Đây là ấn dấu ở ban Tam phủ công đồng. Theo quan niệm Đạo giáo “Tam
phủ” tức là ba phủ “Thiên phủ”, “Địa phủ” và “Thủy phủ”. Ở Đạo giáo nước ta, Tam phủ
công đồng là ban thờ lớn ở chính thất thờ chư vị Thánh mẫu. Đệ nhất Thượng thiên
(Tượng là mẫu Liễu Hạnh), Đệ nhị Thượng ngàn (Mẫu Thượng ngàn) và Đệ tam Thoải
phủ (Mẫu Thoải - tức mẫu Thuỷ phủ). Về sau này một số đền, điện thờ ở ban Tam phủ
công đồng còn thờ thêm nhiều hình tượng khác, bố cục xếp đặt cũng không được thống
nhất, đó là sự biến tướng khá phức tạp của Đạo giáo Việt Nam. (H. 226 a,b)

Một quả ấn khác có toàn thân để mộc, núm ngắn đơn giản, đế ấn mỏng hình chữ nhật,
kích thước 6,9x8,3cm. Mặt đế ấn lại khắc khuôn dấu hình lá đề đứng, kích thước
6,7x8,1cm khắc hai đường viền rìa cạnh cỡ 0,5cm. Bốn chữ Triện trong dấu xếp theo bố
cục . Nét chữ uốn nhiều nét theo hình lá nên tương đối khó đọc, là 4 chữ Ngọc
hoàng thượng đế 玉皇上帝 đây là ấn của Ngọc Hoàng Thượng đế (H. 227 a,b,c)

mộc 木, thủy 水, hỏa 火và bụng hổ là chữ thổ 土. Nó tượng trưng cho ngũ hổ ở 5 phương
4 hướng khác nhau. (H. 230)
Ngoài ấn ngũ hổ và độc hổ trên còn có ấn Ngũ hổ tướng ấn 五虎將印 có hình thức ấn và
chức năng, nội dung văn khắc có ý nghĩa tương tự ấn Ngũ hổ đại tướng. Riêng kích thước
mặt đế ấn (tức mặt dấu) có nhỏ hơn một chút, nó có cỡ 5,7x5,7cm. (H. 231)
Ở một số điện, đền thờ có ban thờ Ngọc Hoàng Thượng đế còn thấy tượng Thiên lôi thần
tướng. Hình tượng Thiên lôi thần tướng cũng được thể hiện qua phù ấn với hình dấu có 4
chữ Triện Thiên lôi thần tướng 天雷神將. (H. 232)
Theo các đạo sĩ, thầy pháp thì những con dấu trên được dùng đóng vào lá bùa, lá sớ mà
họ đã có bản khắc in sẵn, hoặc là những bản cần viết tay. Trước khi tín chủ đến cầu cúng
xin bùa, sớ về nhà thì những lá sớ, lá bùa có đóng hình dấu đó được dâng lên điện thờ để
thầy hành lễ, kêu cầu sao cho được linh nghiệm. Ở đây thể hiện rõ sự gắn bó giữa điện
thờ và con dấu của bản điện, hay nói một cách khác đó là sự gắn bó mật thiết giữa phù ấn
và hình tượng thánh thần được tôn thờ.

Nói về Đạo giáo Việt Nam là nói đến đức Thánh Trần với bao ngôi đền thờ, điện thờ, ban
thờ Trần Hưng Dạo trên khắp đất nước ta. Rất nhiều điểm di tích này còn lưu giữ ấn tín
và văn bản Hán Nôm có lưu hình dấu về Trần Hưng Đạo. Một số ấn có niên đại khá cao
như số ấn gỗ mà chúng tôi đã giới thiệu ở mục “Thực trạng ấn chương thời Lê trung
hưng” trong Phần I. Còn hầu hết ấn có niên đại vào khoảng cuối thời Nguyễn. Những quả
ấn này có nội dung văn khắc giống nhau như Trần Hưng Đạo ấn, Trần triều Hưng Đạo,

Mông.

Năm Trùng Hưng thứ 5 (1289) khi triều đình xét công trạng, ông được tiến phong làm
Hưng Đạo Đại vương, được người đời tôn làm anh hùng dân tộc và hậu thế coi như một
“người Trời” xuống giúp nước cứu đời.

“Sinh vi tướng tử vi thần”, sinh ra làm tướng giúp dân giúp nước, mất đi cũng làm thần
giúp dân giúp nước. Khi qua đời, tương truyền Trần Hưng Đạo đã thành thần, thành
thánh hiển linh cứu giúp chúng sinh, được đương thời và hậu thế tôn thờ, đó là tâm linh
tôn giáo của nhân dân ta mà biết bao điện, đền thờ đức thánh Trần còn tồn tại đến nay
như một minh chứng sinh động. Theo tư liệu dân gian do nhà nghiên cứu Hán Nôm
Hoàng Giáp sưu tầm được thì sau khi mất, Trần Hưng Đạo đã “lên thiên đình nhận lệnh
chỉ của Ngọc Hoàng Thượng đế làm Cửu thiên Vũ đế. Đế có nhiệm vụ trừ đạo khắp cả ba
cõi là Thượng giới (thiên đình), Trung giới (trần gian) và Hạ giới (âm phủ)… Cửu thiên
Vũ đế luôn hiển hóa ở cõi trời Nam để giúp dân giúp nước”.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status