Giáo trình Động cơ đốt trong 1 Biên soạn: ThS. Nguyễn Văn Trạng
18
Chương 2
NHỮNG CHI TIẾT CỐ ĐỊNH TRONG ĐỘNG CƠ ĐỐT TRONG
I. THÂN MÁY – XYLANH
I.1. Nhiệm vụ, điều kiện làm việc và vật liệu chế tạo
Thân máy kết hợp với các chi tiết khác (xylanh, nắp xylanh, piston, ) hình thành không gian
công tác của môi chất, thực hiện các quá trình nạp, nén, cháy – giãn nở và thải sản vật cháy ra khỏi
động cơ tạo nên chu trình làm việc liên tục.
Trong quá trình làm việc, thân máy đóng vai trò truyền nhiệt giữa môi chất công tác và môi
trường để làm mát động cơ.
Thân máy là chi tiết bố trí các đường dầu bôi trơn để dẫn dầu đến ổ trục khuỷu, ổ trục cam,
Làm thành một khung chòu lực, trên đó bố trí các ổ trục khuỷu, các cơ cấu và các hệ thống của
động cơ.
Thân máy và xylanh thường được chế tạo theo phương pháp đúc cho các động cơ cỡ nhỏ và
trung bình hoặc hàn cho các động cơ cỡ lớn. Vật liệu thường dùng là hợp kim nhôm, hợp kim gang
hoặc các loại thép tấm và thép đònh hình.
I.2. Kết cấu của thân máy, ống lót
I.2.1. Kết cấu của thân máy
Trong động cơ đốt trong, thân máy là chi tiết có kết cấu khá phức tạp, có kích thước và khối
lượng lớn. Đối với động cơ ô tô, khối lượng của thân máy thường chiếm khoảng 30 ÷ 60% khối lượng
toàn bộ động cơ.
Hình 2.1. Kết cấu thân máy.
Kết cấu của thân máy có nhiều dạng, thân máy có thể làm riêng cho từng xylanh hoặc chung
cho nhiều xylanh. Kết cấu của thân máy phụ thuộc rất nhiều vào kiểu làm mát. Khi làm mát bằng
nước, khoảng không gian bao quanh xylanh để chứa nước làm mát gọi là áo nước.
Loại thân máy có xylanh đúc liền với thân gọi là thân máy kiểu thân xylanh. Khi xylanh làm
riêng thành ống lót rồi lắp vào thân máy gọi là thân máy kiểu vỏ thân.
Giáo trình Động cơ đốt trong 1 Biên soạn: ThS. Nguyễn Văn Trạng
19
Khi thân xylanh đúc liền với hộp trục khuỷu, kết cấu này gọi là thân máy kiểu thân xylanh –
nên ống lót không chòu ứng suất kéo trên phương đường tâm xylanh. Khi các lót xylanh mòn, có thể
tháo ra thay mới. Nắp xylanh lắp trên thân máy bằng các gujông cấy trên vỏ thân máy (hình 2.3).
3) Gujông chòu lực
Trong kết cấu này lực tác dụng này truyền cho các gujông liên kết nắp xylanh, thân máy –
hộp trục khuỷu với đế máy. Các gujông này khá dài và chòu lực kéo, còn thân xylanh trong trường
hợp này không chòu lực kéo gây ra bởi lực khí thể. Thân máy kiểu thân xylanh – hộp trục khuỷu có
thể dùng lót xylanh ứơt, lót xylanh khô hoặc không có lót xylanh (hình 2.4).
b) Thân máy kiểu thân rời
Do thân máy kiểu xylanh – hộp trục khuỷu chế tạo rất khó, nhất là đối với các loại động cơ
có đường kính xylanh lớn .Vì vậy người ta thường chế tạo theo kiểu thân rời để thuận tiện trong gia
công và chế tạo. Kết cấu này thường dùng trong các động cơ tỉnh tại, tàu thủy và động cơ ôtô máy
kéo có công suất lớn.
Thân máy có thể làm riêng từng xylanh một (động cơ làm mát bằng không khí) hay làm cho
nhiều xylanh (động cơ làm mát bằng nước). Một số động cơ tàu thủy hoặc động cơ tỉnh tại dùng
chung cho 2, 3, 4 xylanh và có khi cả dãy xylanh trong cùng một hàng dùng chung một thân. Làm như
thế vừa tăng được độ cứng vững cho thân máy vừa rút ngắn chiều dài và giảm trọng lượng thân máy.
Thân máy kiểu thân rời cũng dùng lót xylanh khô và lót xylanh ướt. Loại lót khô thường dùng
cho động cơ làm mát bằng gió. Loại lót ướt dùng cho động cơ Diesel tàu thủy và tỉnh tại. Để tăng độ
cứng vững cho lót xylanh, có khi người ta làm thêm gân ở phía ngoài của ống lót.
Hình 2.3. Kết cấu thân máy kiểu vỏ
thân chòu lực.
Hình 2.4. Kết cấu thân máy kiểu
gujông chòu lực.
Giáo trình Động cơ đốt trong 1 Biên soạn: ThS. Nguyễn Văn Trạng
21
Dựa vào tình trạng chòu lực, thân máy kiểu rời được chia ra ba loại:
1) Xylanh chòu lực
Trong kết cấu này, lực tác dụng sẽ do xylanh chòu đựng. Kết cấu này thường dùng trong các
loại động cơ làm mát bằng gió. Nắp xylanh lắp cố đònh trên xylanh bằng bulông, xylanh lắp cố đònh
trên hộp trục khuỷu bằng gujông.
- Không bò rò rỉ nước và lọt khí do không tiếp xúc trực tiếp với nước làm mát.
- Truyền nhiệt kém và khó tháo lắp trong quá trình bảo dưỡng sửa chữa.
2) Lót xylanh ướt là loại ống lót lắp vào vỏ thân, mặt ngoài của lót xylanh tiếp xúc trực tiếp
với làm mát (hình 2.8). Lót xylanh ướt có các đặc điển sau:
- Hiệu quả làm mát xylanh tốt hơn loại lót xylanh khô do lót xylanh tiếp xúc trực tiếp với
nước làm mát nên không xảy ra hiện tượng quá tải nhiệt.
- Vật liệu và công nghệ đúc thân máy khi dùng lót xylanh ướt không yêu cầu cao.
- Công nghệ gia công lót xylanh cũng đơn giản hơn lót xylanh khô.
- Thuận tiện trong việc bảo dưỡng, sửa chữa và thay thế.
- Khó bao kín, dễ bò rò nước làm mát và lọt khí.
- Độ cứng vững kém hơn lót xylanh khô.
II. NẮP MÁY (NẮP XYLANH)
II.1. Nhiệm vụ, điều kiện làm việc và vật liệu chế tạo
Nắp xylanh là chi tiết đậy kín một đầu phía trên của xylanh, cùng với xylanh và piston tạo
thành không gian buồng cháy.
Để gá lắp các chi tiết và các hệ thống khác như: bougie, vòi phun, cơ cấu phân phối khí,
Ngoài ra nắp máy còn là chi tiết để bố trí các đường nạp, thải, dẫn dầu bôi trơn,
Áo nước
Lót xylanh khô
Hình 2.7.
Lót xylanh khô.
Gờ lót
xylanh
Thành
xylanh
Áo nước
Gioăng lót
xylanh
Hình 2.8.
Lót xylanh ướt.
Nắp xylanh có buồng cháy
dạng bán cầu dùng trên động cơ ô
tô được giới thiệu trên (hình 2.10).
Loại nắp xylanh trên dùng supap
treo, supap nạp hơi lớn hơn supap
thải, buogie đặt ở bên hông buồng
cháy, khoảng cách từ bougie đến
điểm xa nhất của vùng cháy gần
bằng đường kính xylanh.
Khi nới lỏng
Khi siết
Giáo trình Động cơ đốt trong 1 Biên soạn: ThS. Nguyễn Văn Trạng
24
Nắp xylanh có buồng cháy dạng hình chêm dùng rộng rãi trên động cơ chữ V và động cơ
nhiều hàng xylanh. Loại buồng cháy này có ưu điểm: gọn, có cường độ xoáy lốc tốt. Trên nắp xylanh
có các lỗ dẫn nước làm mát, lỗ bắt gujông, lỗ để luồn đũa đẩy v.v Vách buồng cháy được làm mát
tốt để tránh kích nổ. Nước làm mát từ thân máy đi lên nắp xylanh bằng 4 lỗ tròn nhỏ chung quanh
mỗi xylanh và hai lỗ dẹt ở hai bên phía đường thải và đường nạp. Ứng với mỗi xylanh dùng 5 gujông
để bắt chặt nắp xylanh.
Trong động cơ xăng một hàng xylanh còn
thường dùng loại buồng cháy khối ôvan như
(hình 2.11). Loại buồng cháy này có hai diện tích
chèn khí. Diện tích chèn khí thứ nhất tương đối
lớn, nằm đối diện với bougie, là phần xa bougie
nhất, diện tích chèn khí thứ hai nhỏ hơn, nằm phía
dưới bougie. Các diện tích chèn khí trên nắp
xylanh sinh ra xoáy lốc và dồn khí hỗn hợp vào
vùng gần bougie. Bougie bố trí ở bên cạnh nắp
xylanh, lệch về phía supap thải. Các đế supap lắp
trên nắp xylanh làm bằng gang trắng hoặc gang
họng buồng cháy (nhiệt độ vùng này có thể đạt tới 723
o
K). Vì vậy để tránh ứng suất nhiệt, các lớp
kim loại trong nắp xylanh cần cố gắng thiết kế có chiều dày đồng đều, chỗ tiếp giáp giữa các lớp kim
loại cần có góc lượn lớn. Ngoài ra cần tổ chức làm mát tốt, bố trí nước mát làm mát đi về phía chòu
nhiệt nhiều để giảm nhiệt độ của mặt nắp xylanh.
Kết cấu nắp xylanh của động cơ Diesel phụ thuộc từng loại động cơ kiểu buồng cháy (phương
pháp hình thành khí hỗn hơp), số kỳ và cơ cấu phân phối khí của động cơ. Nói chung nó phải thoả
mãn các yêu cầu chính sau:
- Buồng cháy phải tạo thành xoáy lốc mạnh để cải thiện quá trình hình thành hỗn hợp.
- Kết cấu buồng cháy phải gọn, hợp lý, để tránh tổn thất nhiệt và tổn thất lưu động của
dòng khí trong quá trình cháy.
- Vò trí của vòi phun, supap nạp, supap thải và đường thải đường nạp phải hợp lý, thuận
lợi cho qúa trình tạo thành khí hỗn hợp và quá trình thay đổi môi chất.
Trong các loại nắp xylanh của động cơ có buồng cháy trực tiếp (buồng cháy trên đỉnh piston),
mặt nóng của nắp xylanh thường làm phẳng. Vòi phun bố trí chính giữa trùng với đường tâm xylanh,
hoặc lệch đi một khoảng không lớn lắm. Cách bố trí này thường dùng trong động cơ Diesel cỡ lớn.
Trong động cơ ôtô máy kéo và động cơ tónh tại cỡ nhỏ, vòi phun bố trí lệch với đường tâm xylanh một
góc nhất đinh.
Trong các loại động cơ có buồng cháy trực tiếp, để tạo thành xoáy lốc của dòng khí nạp, người
ta thường thiết kế đường nạp có độ nghiêng và thắt dần lại về phía supap nạp hoặc đôi khi dùng loại
supap nạp có bản dẫn hướng dòng khí cũng như lợi dụng diện tích chèn khí giữa đỉnh piston và nắp
xylanh.
Các loại xylanh có buồng cháy phụ (buồng cháy dự bò, buồng cháy xoáy lốc và buồng cháy
không khí) bố trí trên nắp xylanh thường được dùng trong động cơ Diesel ôtô máy kéo; đôi khi động
cơ đầu máy Diesel cũng dùng nhưng hầu như không được dùng trong động cơ tónh tại và tàu thủy cỡ
lớn. Kết cấu nắp xylanh có buồng cháy phụ rất phức tạp, giá thành chế tạo cao.
Buồng cháy xoáy lốc và buồng cháy dự bò thường chế tạo theo kiểu tổ hơp: nửa trên của
buồng cháy xoáy lốc đúc liền với nắp xylanh; nửa dưới của buồng cháy có họng làm bằng thép chòu
nhiệt hoặc gang chòu nhiệt rồi ép vào nắp xylanh, phần họng của buồng cháy thông hướng với tâm
Nắp xylanh của động cơ Diesel có buồng cháy xoáy lốc hình cầu, buồng cháy phân thành hai
nữa (hình 2.14). Nửa trên đúc liền với nắp xylanh, nửa dưới làm riêng bằng thép chòu nhiệt hoặc gang
chòu nhiệt rồi lắp vào nắp xylanh. Để đảm bảo nhiệt độ thích hợp của buồng cháy, phần thân của nửa
dưới buồng cháy lắp có khe hở với nắp xylanh. Nửa dưới của buồng cháy có họng thông với khoảng
không gian bên trên đỉnh piston.
Tiết diện của họng có rất nhiều
dạng: ôvan, bán nguyệt, tròn
hoặc dạng phức tạp. Nửa dưới
của buồng cháy được đònh vì
bằng một chốt đống trên nắp
xylanh hoặc bằng vít. Các supap
đều bố trí gần sát với đường tâm
xylanh. Supap nạp lớn hơn supap
thải và đều bố trí theo phương
thẳng đứng. Vòi phun lắp vào
nửa phần trên của buồng cháy
xoáy lốc và nghiêng đi một góc
nhất đònh. Các đường thải nạp
đều nằm cùng một phía và hai
xylanh kề nhau đều chung đường
thải, nạp.
Nước làm mát từ thân máy đi lên nắp xylanh bằng 5 lỗ: 2 lỗ nhỏ ở hai bên buồng cháy xoáy
lốc, 2 lỗ lớn ở hai bên supap và 1 lỗ ở giữa các hai đường thải nạp đưa nước làm mát vào thẳng vùng
có nhiệt độ cao nhất của vùng giữa hai đế supap và họng của buồng cháy xoáy lốc (xem mũi tên trên
hình 2.14). Sau khi làm mát nắp xylanh, nước làm mát theo đường ống lắp ở phía đầu đi ra khỏi nắp
xylanh rồi vào két nước.
Nắp xylanh lắp
chặt với thân máy bằng
gujông (phần nắp
xylanh giới thiệu trên
trong nắp xylanh (như vùng buồng cháy phụ thuộc và vùng đế supap thải…) trong các lỗ dẫn nước và
nắp xylanh đều lắp các ống phun nước để phun các dòng nước về phía các vùng này.
II.2.3. Các dạng buồng đốt động cơ xăng và động cơ Diesel
a) Buồng đốt động cơ xăng
v Buồng đốt kiểu hình bán cầu (hình 2.16)
Loại này có đặc điểm là diện tích bề mặt buồng đốt nhỏ gọn. Trong buồng đốt bố trí một
supap nạp và một supap thải, hai supap này bố trí về 2 phía khác nhau. Trục cam bố trí ở giữa nắp
máy và dùng cò mổ để điều khiển sự đóng mở của supap. Sự bố trí này rất thuận lợi cho việc nạp hỗn
hợp khí và thải khí cháy ra ngoài.
v Buồng đốt kiểu hình nêm (hình 2.17)
Loại này cũng có đặc điểm là diện tích bề mặt tiếp xúc nhiệt nhỏ. Buồng đốt mỗi xylanh được
bố trí một supap nạp và một supap thải, 2 supap này được bố trí cùng một phía. Đối với loại này trục
cam được bố trí ở thân máy hoặc nắp máy, điều khiển sự đóng mở các supap qua trung gian của cò
mổ.
v Buồng đốt kiểu BATHTUB (hình 2.18)
Kiểu này mỗi buồng đốt bố trí một supap nạp và một supap thải, 2 supap bố trí lệch cùng một
phía và các supap đặt thẳng đứng. Kiểu này có khuyết điểm là đường kính đầu supap bò hạn chế nên
việc nạp và thải kém.
Hình 2.16. Buồng đốt hình bán cầu.
Hình 2.17.
Buồng đốt hình nêm.
Giáo trình Động cơ đốt trong 1 Biên soạn: ThS. Nguyễn Văn Trạng
29
v Buồng đốt kiểu PENTROOF (hình 2.19)
Ngày nay, loại buồng đốt này được sử dụng khá phổ biến, mỗi xylanh động cơ thường được bố
trí hai supap nạp và hai supap thải. Bougie được đặt thẳng đứng ở giữa buồng đốt giúp cho quá trình
cháy xảy ra tốt hơn. Hai trục cam được bố trí trên nắp máy, một trục điều khiển các supap nạp và một
trục còn lại điều khiển các supap thải.
b) Buồng đốt động cơ Diesel
v Buồng đốt thống nhất (trực tiếp)
Nhược điểm
- Áp suất cháy cao, tăng áp suất đột ngột và tiếng ồn lớn.
- Việc đốt cháy phụ thuộc vào chất lượng của vòi phun.
- Phạm vi sử dụng nhiên liệu hẹp vì loại phun trực tiếp rất kén nhiên liệu.
v Buồng đốt trước
Buồng đốt phụ của loại này có thể tích bằng
30% ÷ 45% tổng thể tích buồng đốt, và lỗ thông
buồng đốt chính và buồng đốt phụ có diện tích bằng
0,3% ÷ 0,6% diện tích đỉnh piston.
Lỗ thông 2 buồng đốt được điều tiết để dùng
như là 1 lỗ phun hỗn hợp khí.
Buồng đốt trước không có đủ không khí để có
thể đốt cháy toàn bộ nhiên liệu. Do đó, khi nhiên liệu
được phun vào buồng đốt trước, một phần các hạt
nhiên liệu sẽ cháy và quá trình này sẽ làm tăng áp
suất nội tại trong buồng đốt trước. Một lượng lớn khí
đã cháy dở dang và những hạt nhiên liệu chưa được
cháy còn lại trong buồng đốt trước sẽ được phun vào
buồng đốt chính ở dạng xoáy lốc mãnh liệt, hoà trộn
kỹ với khí nạp và cháy tiếp.
Ưu điểm
- Loại này có hiệu quả sử dụng tỷ lệ khí nạp cao, có thể cháy hoàn toàn nhiên liệu mà
không ra khói đen.
- Hoạt động êm vì ở buồng đốt chính áp suất thấp và không tăng đột ngột mặc dù ở
buồng đốt trước có áp suất cháy cao.
- Sự cháy hầu như độc lập với việc phun nhiên liệu, và động cơ này thường dùng vòi
phun loại đót kín, nên ít bò sự cố hơn các loại vòi phun khác. Vì vậy, hoạt động ổn đònh
được duy trì trong một chu kỳ dài và phạm vi sử dụng nhiên liệu đạt hiệu quả rộng hơn.
Hình 2.21.
Buồng đốt trước.
III.1. Gioăng nắp máy
Gioăng nắp máy (gioăng nắp xylanh) được đặt nằm giữa khối xylanh và nắp xylanh, dùng để
bao kín, tránh lọt khí và rò nước làm mát ở mặt lắp ghép nắp xylanh với thân máy. Gioăng nắp
xylanh phải có độ đàn hồi tốt để có thể làm kín các chỗ không phẳng trên mặt lắp ghép của thân máy
và nắp xylanh (do gia công hoặc do biến dạng trong quá trình tháo lắp).
Kết cấu và kiểu gioăng bao kín phụ thuộc vào loại động cơ. Động cơ xăng thường dùng các
loại gioăng nắp xylanh bằng amiăng bọc đồng hoặc bằng amiăng viền mép bằng thép. Động cơ
Diesel dùng các loại gioăng nắp xylanh bằng đồng, bằng thép lá, nhôm hợp kim hoặc bằng amiăng
như của động cơ xăng.
Cấu tạo của gioăng thường được làm như (hình 2.23) và gioăng cho động cơ Diesel thường
dùng loại thép kết hợp chất chòu nhiệt.
Hình 2.22.
Buồng đốt xoáy lốc.
Giáo trình Động cơ đốt trong 1 Biên soạn: ThS. Nguyễn Văn Trạng
32
Hiện nay người ta thường dùng các loại gioăng nắp xylanh sau:
Tên Cấu tạo Vật liệu Đặc điểm
Kim loại
- Thép tấm.
- Đồng tấm.
- Nhôm tấm.
- Chòu nhiệt tốt.
Laminate
- Thép tấm.
- Vòng dây.
- Gioăng laminate bổ sung cho tính
năng của loại gioăng kim loại.
- Chất lượng lắp ghép ban đầu tốt
Sandwich
- Thép tấm.
4 – Lớp trong, 5 – Lớp đệm dưới.
Giáo trình Động cơ đốt trong 1 Biên soạn: ThS. Nguyễn Văn Trạng
33
ngăn bố trí lưới lọc của hệ thống làm trơn. Vách ngăn dùng để giảm dao động của nhớt khi xe chuyển
động, đồng thời bảo đảm được nhớt luôn luôn ngập lọc thô khi xe chuyển động ở mặt đường nghiêng,
khi phanh xe hoặc tăng tốc.
III.3. Gujông
Gujông là chi tiết máy dùng để liên kết nắp xylanh, thân máy với đế máy. Các gujông này có
chiều dài khá lớn, khi làm việc chúng cũng chòu lực kéo do áp suất khí thể trong xylanh.
Gujông liên kết nắp xylanh, thân máy với đế máy được thể hiện trên (hình 2.25)
Tấm ngăn dầu
Carte dầu số 1
Carte dầu số 2
Hình 2.24.
Carte chứa dầu bôi trơn động cơ
Gujông liên kết
Hình 2.25.
Gujông liên kết nắp xylanh, thân máy với đế máy.