14Bài 3
SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN VÀ YÊU CẦU SINH THÁI CỦA CÂY TIÊU
3.1. SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN
3.1.1. CÁC GIAI ĐOẠN SINH TRƯỞNG CỦA CÂY TIÊU
Trong sản xuất cây tiêu thường được nhân giống bằng phương pháp vô tính (cành
hom), chúng không có biểu hiện rõ rệt về phát dục giai đoạn. Căn cứ đặc điểm sinh
trưởng phát dục và kỹ thuật trồng trọt có thể chia đời sống cây hồ tiêu làm bốn thời kỳ
gồm: Thời kỳ sinh trưởng, thời kỳ sinh trưởng phát quả, thời kỳ sản lượng cao và thời
kỳ già cỗi.
- Thời kỳ sinh trưởng
Được tính từ khi trồng đến khi bắt đầu ra quả. Trong thời kỳ này phần trên và
phần dưới mặt đất đều sinh trưởng rất nhanh. Cây tăng trưởng nhanh về chiều cao, số
nhánh, thân mới và hình thành tán. Thời kỳ này dài hay ngắn còn tuỳ thuộc vào giống,
thời tiết khí hậu, phương pháp tạo hình tỉa cành. Các giống tiêu lá to thường lâu cho
quả hơn những giống tiêu lá nhỏ. Cành hom là cành lươn sẽ lâu cho quả hơn hom là
cành tược hay cành quả. Biện pháp đôn dây bấm ngọn có thể thúc đẩy nhanh khả năng
ra hoa sớm của cây tiêu trồng bằng dây lươn. Đối với tiêu trồng bằng phương pháp vô
tính (hom) thời kỳ này khoảng từ 2-4 năm, trồng bằng hạt là 5 năm.
Trong thời kỳ này cần tăng cường chăm sóc tạo điều kiện tốt cho hệ rễ phát triển
để làm cơ sở xúc tiến sự tăng trưởng của toàn bộ cây. Đồng thời chú ý giải quyết cây
trụ (choái) và ngắt ngọn kịp thời, tỉa cành để nhanh chóng hình thành tán và ra hoa kết
quả sớm.
- Thời kỳ sinh trưởng, phát triển quả
Thời kỳ này kéo dài từ khi bắt đầu ra hoa kết quả cho tới trước thời kỳ sản lượng
cao, nói chung kéo dài khoảng 1-2 năm. Thời gian dài ngắn khác nhau tuỳ theo giống.
Giống lá tothời gian sing trưởng ngắn hơn giống lá nhỏ. Trong thời kỳ này cả hai phần
trên mặt đất và dưới mặt đất vẫn đang phát triển mạnh, đồng thời cây vẫn ra hoa kết
quả, tán cây không ngừng phát triển về bề rộng.
thuộc vào điều kiện khí hậu và sức khoẻ của cây. Ngoài ra, mức độ sinh trưởng phát
dục của cây cũng có những liên quan đến thời kỳ nảy chồi. Tại khu vực Bắc Miền
Trung thời kỳ này thường rơi vào tháng 8-9 và tháng 2-3 là giai đoạn đầu và cuối mùa
mưa tiết trời ấm và ẩm độ đủ. Nhiệt độ trong giai đoạn này thường lớn hơn 18
0
C. Cây
còn non thì khả năng nẩy chồi mỗi năm có thể lên đến 2-3 lần, cây trong thời kỳ ra quả
sự nảy chồi chỉ xảy ra một lần, cây ra quả ít có thể xảy ra hai lần nảy chồi trong năm.
Trên một cây chồi thường nẩy từ trên ngọn xuống gốc.
Đặc điểm của thời kỳ này là phân hoá tổ chức mầm hoa cho nên phải bón phân
hợp lý, cắt bỏ những cành yếu, cành dinh dưỡng không theo định hướng, để tập Trung
dinh dưỡng xúc tiến gié hoa, tăng số lượng hoa và tỷ lệ kết quả.
- Thời kỳ sinh trưởng nở hoa
Bắt đầu từ sau khi nẩy chồi (hoa và cành) khoảng 10-12 ngày, cành sinh trưởng
lớn lên, cho đến khi hoa nở xong. Giai đoạn này kéo dài từ 40-60 ngày tuỳ thuộc vào
điều kiện khí hậu, giống và sức khoẻ của cây. Tại Malaysia do mùa mưa phân bố khá
đều trong năm nên có đến hai thời kỳ ra hoa trong năm là tháng 11-1 và tháng 8-9. Tại
Ấn Độ mùa ra hoa chính là tháng 5-6. Tại Miền Nam và Tây Nguyên có mùa khô rõ
rệt, mùa ra hoa vào đầu mùa mưa là tháng 5-6 và tại Bình Trị Thiên mùa ra hoa là
tháng 8-9 hay tháng 9-10. Nếu mưa đủ thì thời kỳ sinh trưởng và ra hoa sẽ sớm và kéo
dài, nếu nhiệt độ thấp và hạn thì thời kỳ ra hoa ngắn và muộn. Trong thời kỳ này quá
trình thụ phấn diễn ra nên rất cần ẩm độ không khí cao (>90%), ẩm độ đất đủ và ít gió
(<1m/s).
- Thời kỳ sinh trưởng phát triển quả
Thời kỳ phát triển quả thường kéo dài 5-6 tháng kể từ khi quả vừa được hình
thành. Sau khi hoa thụ tinh 10 ngày thì tử phòng bắt đầu phình to và thời kỳ hình
16
thành quả bắt đầu. Sau khi quả hình thành trong vòng 30-120 ngày tốc độ sinh trưởng
của quả lớn dần, sau đó giảm dần cho tới lúc ngừng hẳn. Nếu không đủ dinh dưỡng hay
Cây tiêu thích hợp với điều kiện nhiệt độ cao và nhiệt độ là yếu tố phân bố giới
hạn vùng trồng tiêu trên thế giới. Tại vùng tiêu nguyên sản Ấn Độ nhiệt độ bình quân
từ 25-27
0
C. Biên độ nhiệt chênh lệch các tháng là 3
0
C-7
0
C. Nhiệt độ cao nhất không
vượt quá 40
0
C và thấp nhất không dưới 10
0
C.
Nhiệt độ thấp ảnh hưởng lớn đến tốc độ sinh trưởng của cây tiêu. Tuỳ theo mức
độ nhiệt thấp khác nhau và thời gian chịu nhiệt độ ấy mà những thiệt hại sẽ khác nhau.
Ở mức nhiệt 15
0
C kéo dài cây tiêu sẽ ngưng sinh trưởng. Dưới 10
0
C kéo dài trong 5
ngày hoặc dưới 6
0
C kéo dài trong 3 ngày cây tiêu bắt đầu bị hại, tại các lá ngọn bị thâm
đen, héo và rụng dần, các đốt non cũng bị hại nếu bị sương giá và có thể gây chết và
rụng đốt.
Nhiệt độ quá cao cũng không có lợi cho sinh trưởng của cây tiêu. Kết quả một thí
nghiệm của Trung Quốc cho thấy ở nhiệt độ 39
0
C lá non của cây non thường bị hại.
0
(Phan Hữu Trinh và ctv-1988).
- Nước: Nhìn chung yêu cầu lượng mưa phân bố đều trong năm là rất cần thiết
cho sinh trưởng của cây tiêu. Lượng mưa Trung bình hằng năm tại vùng nguyên sản là
2900 mm/năm với một mùa hạn không rõ rệt. Nhiều vùng trồng tiêu trên thế giới và
trong nước có lượng mưa giao động từ 1900-3000mm/năm. Cũng có những nơi có
lượng mưa rất thấp như Madagasca lượng mưa chỉ là 1038mm/năm cây tiêu vẫn có thể
sinh trưởng phát triển được. Lượng mưa từ 2500mm trở lên được xem là thích hợp
nhưng trong một phần của Ấn Độ cây tiêu sinh trưởng tốt ở lượng mưa ít hơn con số
Bảng 3.1. Lượng mưa tại những trạm ở Ấn Độ và Sarawat
Ấn Độ Semangok (Sarawat)Tháng
Negumanga
d (mm)
Todupuzda
(mm)
Tổng lượng
mưa (mm)
Số ngày
mưa
1 25 20 818 25
2 26 33 539 19
3 59 71 280 20
4 186 208 331 22
5 241 300 256 22
6 447 772 229 18
7 274 767 184 18
8 165 549 328 22
tại Việt Nam (mm)
Tháng
Địa
danh
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Tổng
Hà tiên
12 14
49
136 231 240 311 260 241 237 129 47
1907
Quảng trị
171 57
68
51 99 75 88 77 397 565 566 305
2519
Vỉnh
Linh
133 69
46
Gió có thể làm cho việc bốc thoát hơi gia tăng làm bất lợi cho sinh trưởng và quá
trình thụ phấn của cây tiêu. Tốc độ gió lớn sẽ làm cho vườn tiêu bị gãy đổ hoặc xơ xác,
hoa tiêu không đậu quả. Mức độ gió nhỏ hơn 2m/s, không khô nóng là điều kiện lý
tưởng cho việc trồng tiêu. Những vùng phía đông Trường Sơn thuộc Bắc Trung Bộ
nước ta thường có gió Lào khô và nóng đã gây hạn chế đến sinh trưởng của tiêu rất lớn,
tuy nhiên thời kỳ gió xuất hiện không rơi vào giai đoạn tiêu ra hoa nên ít gây thiệt hại
lớn về năng suất. Việc trồng tiêu vào tháng 9-10 hằng năm tại vùng Bình Trị Thiên cây
thường gặp bất lợi về nhiệt độ thấp và gió bão nên tốc độ sinh trưởng trong giai đoạn
này thường kém hơn các vùng khác trong nước.
3.2.2. YẾU TỐ ĐẤT ĐAI
Theo Blacklock (1954) đất lý tưởng cho việc trồng tiêu là đất bồi, đất phù sa
(alluvium) thoát nước tốt có hàm lượng mùn cao nhưng những đất như thế là tương đối
hiếm. Một cách tương tự, Krishnamuthi (1969) cho rằng tiêu được trồng tốt trên những
đất mới khai hoang, những loại đất lateritic có hàm lượng mùn cao và có bản chất thoát
nước tốt. Theo de Waard (1964) mức độ thành công cho một loại đất trồng tiêu nào đó
phụ thuộc vào những đặc tính theo sau của đất:
(1) Thoát nước tốt; (2) Khả năng giữ nước thích hợp; (3) Cấu trúc đất tơi xốp; (4)
pH cao;(5) Giàu dinh dưỡng dự trữ trong đất.
Có khá ít vùng có thể đáp ứng những đòi hỏi nghiêm ngặt này, nhưng cây tiêu
vẫn có thể trồng trên nhiều loại đất, bằng những phương pháp truyền thống như tại
Sarawat nơi mà đất nung được un trên khắp bề mặt của gốc rễ và đã cải thiện được kết
cấu đất và giảm được độ chua. Hầu hết những vườn tiêu tại Sarawat được trồng trong
những cánh đồng gợn sóng hoặc trên những đồi dốc với những độ dốc khác nhau, đất
thường có hàm lượng sét nâu đỏ nhạt cao với nhiều thành phần oxýt sắt. Ở vùng gần
biển đất có thể có hàm lượng cát (silic) cao và tương đối dễ canh tác. Những cố gắng
trồng trên đất than bùn (Peat soil) tại Sarawat đã tỏ ra không thành công, có thể là do
những khó khăn trong việc đáp ứng hệ thống thoát nước thích hợp. Trên những lô đất
dốc sự xói mòn đất thường là vấn đề lớn trừ khi phải làm ruộng bậc thang hay có
những biện pháp bảo toàn đất thích hợp được thực hiện.
Theo Paulose (1973) tiêu được trồng tại Ấn Độ trên nhiều loại đất khác nhau