37
Vào thời điể m hoa chín, nuốm ho a có màu vàng trắng, ẩ m ư ớt, sau đó 4
ngày nuố m c huyển màu nâ u đỏ và k hô đi(hình2.4).
2. Quả và hạ t
Sau khi thụ phấn chừng 4-5 tháng thì quả sẽ chín. Quả cao su thuộc loại quả nang
(vỏ quả khô có nhiều mảnh) có đường kính từ 3-5cm. Quả có 3 buồng, mỗi buồng có
một hạt. Khi chín quả nứt theo chiều dọc bắn tung hạt ra ngoài. Hạt có thể văng xa đến
15m. Mùa quả chín ở Miền Nam và Tây Nguyên vào tháng 6-7, vụ phụ vào tháng 10-
11. Trong khi ở khu vực Bắc miền Trung lại rơi vào cuối năm hay đầu năm sau. Việc
thu hoạch hạt phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện nắng ráo, để vỏ quả có thể khô và quăn
lại sau đó bắn hạt tung xuống đất. Quả cao su sau khi hình thành và phát triển được 12
tuần có thể đạt được kích thước lớn nhất, 16 tuần sau vỏ quả có thể hoá gỗ và khoảng
20 tuần thì chín.
Hạt có chiều dài 2-3,5cm, trọng lượng 3,5-6g tươi (vừa rụng). Một kg hạt trung
bình có 200-250 hạt. Bên ngoài hạt là một lớp vỏ cứng láng. Hạt có dạng gần tròn hay
bầu dục với mặt lưng láng và mặt bụng hơi phẳng hơn, tại đây có một lổ nhỏ để giúp
cho cây hút nước khi nảy mầm. Nhìn ngoài hạt cao su gần giống trứng cút, hình thái
bên ngoài của vỏ hạt là đặc trưng của giống. Bên trong hạt cấu tạo bởi phôi và nội nhủ.
Nội nhủ chiếm phần lớn thể tích của hạt và chứa chủ yếu là chất béo, đạm và nước. Do
hạt thường chín sinh lý trước khi rụng khá lâu nên sau khi rụng hạt rất dể mất sức nảy
mầm, do hiện tượng oxy hóa chất béo và mất nước xảy ra nhanh chóng khi chưa gặp
điều kiện thuận lợi cho việc nảy mầm. Vì thế mà hạt thường được gieo ngay sau khi
thu từ vườn cây để khắc phục hiện tượng trên.
Bài 3. ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN VÀ YÊU CẦU SINH THÁI
CỦA CÂY CAO SU.
I. CÁC GIAI ĐOẠN SINH TRƯỞNG CỦA CÂY CAO SU
Cây cao su sau một thời gian trồng từ 3-5 năm tuỳ theo giống, loại cây con và
phát triển tầng lá và đường kính thân được xem là hai chỉ tiêu quan trọng để xác định
sức sinh trưởng của cây con trong thời kỳ này.
2. Giai đoạn kiến thiết cơ bản
Giai đoạn này được tính từ khi cây con được trồng ngoài đại trà cho đến lúc bắt
đầu khai thác mủ. Giai đoạn KTCB có thể kéo dài 10 năm hoặc chỉ ngắn có 6 năm tuỳ
thuộc vào giống, loại cây con đem trồng, điều kiện đất đai, thời tiết khí hậu và chế độ
chăm sóc. Nhiều giống có tốc dộ tăng trưởng nhanh như PB235, RRIV2 (LH82/156),
RRIV4 (LH82/182).v.v. trong điều kiện thuận lợi có thể thu mủ sau 6 năm trồng.
Ngược lại những giống có tốc độ tăng trưởng trung bình hoặc kém như GT1, PR261
hay RRIM600. Những cây con có thời gian dài trong vườn ươm (trên 18 tháng) có khả
năng tăng trưởng nhanh hơn những cây con dưới 12 tháng trong vườn ươm, vì thế có
thể rút ngắn thời gian KTCB đến 6 tháng. Những vùng có đất đai kém màu mỡ, khí hậu
khắc nghiệt (lạnh và thiếu ánh sáng, gió mạnh) cây thường sinh trưởng chậm hơn cao
su trồng trong Cơ vùng thuận lợi rất nhiều đặc biệt trong giai đoạn đầu (trồng mới).
Cao su KTCB tại Cơ vùng Bắc Miền Trung thường chỉ cho tăng trưởng mạnh ở năm
thứ 3-4 sau khi trồng mới. Vì thế, thời kỳ này có thể kéo dài thêm 1-3 năm. Chế độ bón
phân và làm cỏ tốt có thể rút ngắn khoảng 1 năm.
Sau một năm tuổi cao su có thể phân cành, tuy nhiên thời kỳ rộ nhất vẫn là 3 năm
sau trồng. Trong năm, cao su thường phân cành trong những tháng có biên độ nhiệt
ngày và đêm lớn, ở nhiều vùng trong cả nước cao su thường phân cành mạnh mẽ từ
tháng 1-4. Cành cao su thường gây cản trở cho việc cạo mủ khi chúng xuất hiện trong
khoảng từ 0-3m tính từ mặt đất. Vì thế, nó thường được tỉa loại ngay khi vừa thấy xuất
hiện trong đoạn thân từ 0-3m. Trong thời kỳ tạo tán rộ nhiều giống cao su như
RRIM600 rất mẩn cảm với bệnh nấm hồng rất nguy hiểm. Vào giữa hoặc cuối thời kỳ
KTCB là giai đoạn cây cây su bắt đầu thành thục có thể cho hoa và quả (khoảng 5 năm 39
sau khi trồng). Cây cao su vào lúc này sinh trưởng khoẻ về đường kính thân, cành lá
thường trở nên âm u và ẩm thấp nên rất thuận lợi cho nhiều loại bệnh lá phát triển
mạnh thành dịch, đặc biệt là bệnh Phấn Trắng (Oidium hevea) và bệnh rụng lá mùa
mưa (Phytophtora palmivora và P. botrioza). Bệnh thường xuất hiện nhiều trong mùa
mưa tại khu vực Bắc Miền Trung làm thiệt hại nặng nề đến sản lượng mủ.
+ Thời kỳ khai thác cao su trung niên (KTCSTN): Khi năng suất không còn
tăng thêm nữa và giử vững mức năng suất đó theo năm thì cây cao su đã bước vào thời
kỳ CSTN. Tuỳ theo chế độ chăm sóc, khai thác trước đó, hiện tại và giống mà thời kỳ 40
này dài hay ngắn. Nếu vườn cây không được chăm bón tốt trong giai đoạn KTCB và
KTCSN khi cây bước vào thời kỳ này chỉ duy trì năng suất cao trong một khoảng thời
gian ngắn và sau đó giảm năng suất. Việc khai thác thái quá trong giai đoạn trước cũng
có thể làm cho tỷ lệ cây khô mủ nhiều hơn xảy ra trong thời kỳ này. Lớp vỏ tái sinh
trên đoạn thân khai thác bị thương tổn nhiều sẽ là trở ngại lớn cho việc khai thác mủ
trong thời kỳ này.
+ Thời kỳ khai thác cao su già (KTCSG): Khi vườn cây có hiện tượng giảm
năng suất trong nhiều năm liền thì vườn cây đã bước vào thời kỳ này. Tốc độ giảm
năng suất nhanh hay chậm còn tuỳ vào giống và chế độ chăm sóc và khai thác trước đó.
Vườn cây lúc này thường rất âm u, ẩm độ không khí cao nên để mẩn cảm với bệnh
rụng lá mùa mưa, có thể làm giảm sản lượng nhanh chóng.
III. YÊU CẦU NGOẠI CẢNH CỦA CÂY CAO SU.
1. Các yếu tố khí hậu:
Cao su là cây lâu năm vì thế nó thường phải trải qua tất cả những ảnh hưởng về
thời tiết xảy ra trong suốt năm và trong nhiều năm, khác với cây ngắn ngày mà có thể
tránh được những giai đoạn thời tiết khắc nghiệt trong năm. Mặt khác việc đầu tư ban
đầu (giai đoạn kiến thiết cơ bản: KTCB) cho cao su thường tốn nhiều thời gian và vốn.
Vì thế, cần có sự xem xét cẩn thận các yếu tố khí hậu trước khi quyết định trồng loại
cây dài ngày này để có thể thu được kết quả tốt đẹp.
0
1)
điều kiện nhiệt độ có tương quan nghịch với sản lượng mủ trong tất cả Cơ tháng. Nhiệt 41
độ cao hơn 40
0
C cũng gây ra hiện tượng khô vỏ ở gốc cây, làm cho cây chết tương tự
như hiện tượng khi cây ở nhiệt độ thấp hơn 5
0
C tuy nhiên tỉ lệ cây chết ít hơn.
+ Lượng mưa và ẩm độ không khí: Cao su thường được trồng trong những
vùng có lượng mưa từ 1800-2500mm/năm. Theo Nguyễn Thị Huệ (1997) nhu cầu về
lượng mưa hàng năm của cây cao su còn thay đổi tuỳ thuộc vào điều kiện đất đai, cụ
thể là khả năng giữ nước và thành phần sét trong đất. Bên cạnh đó, sự phân bố mưa và
tính chất của cơn mưa còn quan trọng hơn. Số ngày mưa thích hợp nhất trong năm từ
100-150 ngày. Vì việc khai thác mủ luôn xảy ra vào buổi sáng nên nếu số ngày mưa
buổi sáng nhiều sẽ hạn chế năng suất mủ do số lần khai thác bị giảm, mất sản lượng khi
cạo muộn, hoặc mất sản lượng khi gặp mưa trong lúc khai thác. Tính chất cơn mưa
cũng có những ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cao su. Mưa phùn, thường
thấy tại vùng Bắc Trung Bộ, tạo điều kiện cho nấm của các bệnh héo đen, rụng lá mùa
mưa, nấm hồng hay loét sọc miệng cạo hơn là giúp cây sinh trưởng tốt.
Ẩm độ không khí bình quân thích hợp cho sinh trưởng của cao su là trên 75%, ẩm
độ không khí còn thể hiện tương quan thuận với dòng chảy mủ khi khai thác (Nguyễn
Năng et al., 2001).
Về khả năng chịu hạn của cao su, cây cao su có một ưu thế hơn cà phê và tiêu về
phương diện này, và vì thế nó thường được ưa chuộng hơn tại những vùng mà phương
tiện tưới và nguồn nước tưới không sẵn có. Đối với cao su trồng mới lớn hơn 6 tháng
Malaysia
K.Lumpur
Thailan
Songkla
China
H. nam
China
V. nam
Vĩ độ 3
0
08 N 3
0
07 N 7
0
12 N 13
0
B 21
0
52 B
N.độ TB(
0
C) 26,9 27,1 27,4 23,4 21,7
N.độ thấp TB(
0
C) 26,2 26,6 26,5 17,0 15,6
N.độ thấp C.đại (
một gò đất cao nằm trong khoảng vĩ độ thích hợp, với hai thềm đất song song. Thềm
thứ nhất cao 0-100m và thềm kia cao từ 100-200m. Khí hậu điển hình nóng và ẩm,
nhưng vì tương đối gần xích đạo nên có pha lẫn một số tính chất của khí hậu xích đạo
với hai tối đa và hai tối thiểu về nhiệt độ và lượng mưa. Ở xích đạo thì hàng năm người
ta ghi được hai nhiệt độ cực đại thường xảy ra không bao lâu sau ngày xuân phân và 43
thu phân, và tiếp theo sau hai thời kỳ nóng bức là hai thời kỳ lượng mưa cực đại. Ở
Đông Nam Bộ ta cũng thấy có hai nhiệt độ cực đại, thí dụ thành phố Hồ Chí Minh có
cực đại thực sự (28,84
0
C) rất rõ, vào tháng 4 và điểm cực đại vào tháng 8 nhưng không
cao lắm (27
0
C), còn hai cực tiểu rất rõ xảy ra vào tháng 12 (25,67
0
C) và cực tiểu không
thấp lắm vào tháng 7 (26,7
0
C). Nhiệt độ quanh năm tại vùng này rất điều hòa, biên độ
nhiệt hàng năm tại thành phố Hồ Chí Minh là 3,1
0
C nhiệt độ tháng nóng nhất (tháng 4)
28,8
0
C và tháng mát nhất (tháng 12) 25,7
0
C. Biên độ nhiệt ngày và đêm được xem là
đáng kể. Diện tích trồng cao su tại đây chỉ đứng sau Đông Nam Bộ và gấp nhiều lần
khu vực Bình Trị Thiên (Bắc miền Trung).
Vì Tây Nguyên xa xích đạo và gần phía Bắc hơn Đông Nam Bộ, đồng thời lại ở
địa hình núi cao nên nó chịu ảnh hưởng hai yếu tố mới là vĩ độ và cao trình mặc dù vẫn
còn nằm trong vùng nhiệt đới. Về vĩ độ, càng lại gần chí tuyến 23
0
27’ B thì hai cực đại 44
nhiệt độ càng xích lại gần nhau cuối cùng nhập chung làm một. Điều này đã xảy ra ở
Tây Nguyên vào tháng 4 và một cực tiểu vào tháng 1. Vùng này có cao trình 300-
800m, trong mùa khô chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc nên nhiệt độ ban đêm và
buổi sáng có khi xuống thấp dưới 18
0
C nhưng chỉ xảy ra một thời gian ngắn trong
ngày, ít khi gây ảnh hưởng đến cao su.
Về chế độ mưa ở Tây Nguyên cũng có hai mùa rõ rệt như ở Đông Nam Bộ, các
vùng ở phía Tây Trường Sơn mưa thường sớm hơn và nhiều hơn ĐNB. Tây Nguyên
chỉ có một cực đại về lượng mưa và không có hạn bà chằng. Tuy nhiên nó lại có một
mùa khô hạn khá gay gắt và kéo dài lâu hơn ĐNB trên 1 tháng. Cực đại về lượng mưa
thường rơi vào tháng 7 hay 8 ví dụ tại Pleiku 516mm (tháng 7), Đắc lắc 420,8mm
(tháng 8) và Kon tum 289mm ( tháng 9). Trong mùa mưa cứ vài năm có xảy ra hiện
tượng mưa đá cục bộ từng nơi và sương mù cũng có ảnh hưởng xấu đến cao su. Trong
mùa khô, gió mùa Đông Bắc khô và lạnh thổi liên tục vào ban ngày, tốc độ gió có thể
lớn hơn hoặc bằng 3m/giây làm ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và khai thác mủ.
Ngoài ra, thường xảy ra những cơn lốc trong thời điểm giao mùa giữa khô và mưa gây
hiện tượng đổ ngã, giảm mật độ vườn cây.
Như vậy ở Tây Nguyên cần chú ý đến biện pháp phòng chống gió, trồng mới thật
2.1. Nhu cầu dinh dưỡng khoáng: Cũng như nhiều loại cây trồng khác các khoáng
chất như N,P,K, Ca,Mg,S đều rất cần thiết cho việc tạo nên các cơ quan, tổ chức và
chất xúc tác cho các phản ứng sinh hóa trong cây, giúp cho cây có khả năng đề kháng
và duy trì. Chúng có mặt trong tất cả các bộ phận của cây với thành phần và hàm lượng
khác nhau (bảng 3.2).
Bảng 3.2. Hàm lượng các nguyên tố khoáng trong lá và mủ cao su
Bộ phận
phân tích
Các nguyên tố
trong chất khô (%)
Các nguyên tố trong chất
khô (mg/100g)
N P K Mg Na Mn Fe Cu Bo
Lá 3,40 0,22 0,90 0,40 9,00 25 15 1,8 5,0
Mủ nước 0,60 0,12 0,40 0,12 - - - - -
Việc thu hoạch mủ đem ra khỏi vườn cây đã làm cho đất tại đó mất đi một lượng
dinh dưỡng lớn hàng năm. Những ước tính lượng N, P và K bị lấy đi theo những mức
năng suất khác nhau được thể hiện trong bảng 3.3.
Bảng 3.3: Hàm lượng N,P,K trong mủ nước ở các mức năng suất khác nhau
Năng suất (kg/ha) 1500 2000 3000
N (kg/ha) 9,5 12,6 18,9
P (kg/ha) 1,9 2,6 3,8
K (kg/ha) 6,5 8,6 12,9
Nghiên cứu vai trò của chúng trong cây và mối quan hệ cung cầu giữa chúng với
đất đai giúp cho chúng ta nắm được một số nguyên tắc, qui luật góp phần cải thiện kỹ
thuật canh tác, nâng cao năng suất, phẩm chất mủ, qui hoạch vùng trồng và bảo vệ đất.
+ Đạm (N):
* Vai trò của đạm trong cây: Đạm cần thiết trong suốt quá trình sinh trưởng
* Hàm lượng kali cần thiết trong đất: Kali có nhiều trong các loại đất trồng ở
Việt Nam và đặc tính đệm của kali rất lớn, nhờ đó khi trong dung dịch đất thiếu hụt K
+
nó có thể được bổ sung bởi keo đất. Vì vậy, đôi khi việc bón K ít thấy có tác dụng rõ
rệt một phần là do sự giữ lại của keo đất. Kali trao đổi trong đất trồng cao su khoảng
20-25mg k
2
0/100g đất là thích hợp.
+ Lân (P
2
O
5
):
* Vai trò của lân: Lân là yếu tố cấu thành nên acid nucleic trong nhân tế bào, cần
thiết cho sự phân bào và phát triển của mô phân sinh. Nó cũng đóng vai trò hết sức
quan trọng trong các enzyme, trong các phản ứng sinh hoá và cho sự hô hấp của cây.
Lân kích thích sự sinh trưởng của rễ, tăng cường sự hình thành thân, lá và quả. Cây
thiếu lân thì đỉnh sinh trưởng kém phát triển, lá có màu đỏ hay đỏ gạch, lá nhỏ, vanh
thân kém phát triển. Nhu cầu lân cần thiết trong suốt quá trình sinh trưởng và nhu cầu
cao khi cây còn non.
* Hàm lượng lân cần thiết trong đất: Lân trong đất dạng tổng số ở mức cao 47
hoặc trung bình, tuy nhiên dạng dễ tiêu chiếm rất ít. Đất xám Podzonlic Đông Nam Bộ,
đất sa phiến thạch Miền Trung đều có hàm lượng lân dể tiêu thấp, ngược lại đất đỏ
Bazan thì có hàm lượng lân dể tiêu cao (100-120 ppm). Hàm lượng P dể tiêu trong đất
khoảng 30ppm là thích hợp cho cao su.
vượt những nhu cầu cần thiết cho sự sinh trưỏng và phát triển của cây. Vì thế, tại nước
ta cao su chỉ được trồng tại các cao nguyên có bình độ thấp như ĐăkLắc, Gia Lai và
Kon Tum, Cao nguyên Di Linh do có bình độ cao hơn 1000m nên không được trồng. 48
3. Các loại đất trồng cao su chủ yếu tại Việt Nam
Có ba nhóm đất lớn mà cao su thường được trồng tại Việt Nam là đất đỏ bazan,
đất xám podzonlic trên phù sa cổ và đất sa phiến thạch. Trong đó đất bazan và
podzonlic có diện tích lớn nhất.
+ Đất đỏ bazan: Loại đất này có mặt ở phần lớn các tỉnh Đông Nam Bộ, Tây
Nguyên và một ít ở Quảng trị, Quảng Bình, Nghệ An và Vĩnh Phú. Về đặc điểm đất có
màu nâu, nâu đỏ, đỏ nâu. Màu sắc thay đổi tùy theo bản chất và thành phần Cơ ôxit,
hyđrô-xit sắt chứa trong đất latosols hay Ferrasols. Nó được tạo thành do sự hủy hoại
của đá bazan và chiếm những vùng rộng lớn hàng trăm ngàn ha và nằm tên cao trình
lớn hơn 100m. Đất đỏ rất đồng nhất, sâu và có cấu trúc tốt rất thích hợp cho việc trồng
cao su. Trong cấu trúc thường chứa nhiều sét, khoảng 60-65% sét, 80-90% sét mùn, chỉ
có 3-10% cát, vì thế khả năng trao đổi rất tốt về mùa mưa, giữ nước tốt về mùa khô. Về
các đặc tính hóa lý, chất hữu cơ chứa khoảng 2,5%, carbon từ 1,5-1,7%, đạm 0,15%
đất khô, lân tổng số 2000-3000ppm, lân dể tiêu 30ppm. Có nơi lân dể tiêu lên đến
100ppm, pH dao động từ 4,3-6. Trên những vùng bị để trống hay hoang hóa khá lâu do
bị xói mòn nhiều nên hàm lượng các chất dinh dưỡng trở nên thấp hơn mức trung bình
đã được nêu ra ở trên, cần phải có các biện pháp tích cực để bồi dưỡng đất.
+ Đất xám phù sa cổ podzonlic (Acrilic): Theo cách gọi mới của hệ thống phân
loại mới của FAO là Acrilic. Đất này thường thấy nhiều ở Lai Khê, Phước Hòa, Tây
Ninh, Đồng Nai, Biên Hòa, Gia Lai, Kon Tum, Pleicu và Phú Bổn (Ayunba). Tính chất
chung của đất xám là đất phù sa cổ tạo thành Cơ thềm đất có độ cao từ 0-100m ở các
tỉnh Đông Nam Bộ và có những thềm cao hơn từ 100-200m tại khu vực Tây Nguyên.
Đó là những loại đất có cấu trúc thô và rời rạc, tương đối nghèo dinh dưỡng vì đã bị
nằm trên địa hình gợn sóng dốc thoải, đất có thành phần cơ giới trung bình có nơi bị
kết von, pH 4,4-5, nghèo dinh dưỡng (P tổng số 0,1% và K tổng số 0,21%).
Để có cơ sở khoa học cho việc đầu tư và xác định vùng đất trồng tại nước ta đã
định ra các nguyên tắc để phân hạng đất trồng cao su. Những nguyên tắc này chủ yếu
dựa theo sự phân hạng đất theo FAO mà căn cứ vào các yếu tố hạn chế của các chỉ tiêu
khảo sát để phân hạng, gồm các chỉ tiêu khí hậu và đất đai ảnh hưởng trực tiếp đến sinh
trưởng và mức sản xuất của cây cao su.
Các chỉ tiêu để phân hạng gồm có độ sâu tầng đất canh tác, thành phần cơ giới,
tiêu thoát nước bề mặt, độ mùn và độ phì. Về khí hậu có lượng mưa, số tháng khô hạn,
bốc thoát nước mùa khô, nhiệt độ và gió cực đại. Trên cơ sở này người ta phân đất
thành 5 hạng gồm 3 hạng từ rất thích hợp đến thích hợp kém và hai hạng gồm không
thích hợp tạm thời và không thích hợp vĩnh viễn. Trên cơ sở này người trồng cao su có
thể dể dàng xác định mức đầu tư và thu nhập cho vườn cao su của mình.
Bài 4: M ỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CAO SU
I. KHÁI NIỆM VỀ GIỐNG CÂY CAO SU
Cũng như nhiều loại cây ăn quả, cây lâu năm khác giống cao su là những dòng vô
tính do được nhân bằng phương pháp vô tính là chủ yếu.
Vào thời kỳ đầu của ngành sản xuất cao su, việc dùng hạt giống để mở rộng diện
tích cao su là chủ yếu. Có khi người ta chọn những hạt tốt từ những cây bố mẹ tốt để
làm giống. Tuy nhiên, những vườn cao su trồng từ hạt chọn như vậy không cho kết
quả về năng suất nhưng sinh trưởng, phát triển tốt hơn.Vườn cây thường không đồng
đều (Cv = 10-15%). Người ta thấy rằng chỉ có 30% số cây trong vườn có thể cho đến
50% sản lượng. Nếu hạt của những cây này được đem trồng thì kết quả biến động về
năng suất ở đời sau cũng tương tự. Sở dĩ có hiện tượng như vậy là do sự di truyền Cơ
đặc tính khác nhau của nhiều tổ tiên và bố mẹ trong quá khứ được thực hiện bởi quá