PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây Cao Su (hévéa brasiliensis) được nhân trồng với quy mô lớn trên thế
giới (năm 1995 đạt được 9,759 triệu ha) là nhờ vào sản phẩm đặc biệt của cây
là mủ Cao Su, đó là một nguyên liệu cần thiết trong nhiều ngành công nghiệp
hiện nay. Ngoài ra, cây Cao Su còn cho các sản phẩm khác cũng có công
dụng không kém phần quan trọng như gỗ, dầu hạt… Cây Cao Su còn có tác
dụng bảo vệ môi trường sinh thái, cải thiện vấn đề kinh tế, xã hội nhất là ở các
vùng trung du, miền núi, góp phần bảo vệ an ninh quốc phòng tại các vùng
biên giới. [7]
Cây Cao Su được di nhập vào Việt Nam từ những năm 1897, từ những cây
Cao Su thực sinh đầu tiên, với những bước thăng trầm của các giai đoạn lịch
sử trong thời gian 100 năm, đến đầu năm 1997 cả nước đã trồng được trên
288.000 ha Cao Su. Nhận thức được tầm quan trọng của cây Cao Su trong đời
sống kinh tế, củng như tác động về vấn đề cải tạo môi sinh, môi trường nên
thủ tướng chính phủ đã phê duyệt tổng quan phát triển Cao Su phấn đấu đạt
được diện tích 700.000 ha vào năm 2005. [9]
Từ sau năm 1986 đến nay, khi nền kinh tế nước ta chuyển sang nền kinh tế
thị trường thì sản xuất cao su dần đã cải thiện được vị trí của mình và đạt
được những thành quả đó là diện tích cao su năm 2004 đã đạt trên 450.900 ha
với sản lượng mủ khô đạt 400.100 tấn. Đặc biệt là sự phát triển tiên phong
của cao su của các nông trường, công ty cao su. [7]
Hiện nay, ở Việt Nam bên cạnh các vùng Nam Bộ và Tây Nguyên cây Cao
Su đạt được năng suất cao và đưa lại hiệu quả kinh tế cao thì vùng kinh tế
trọng điểm Miền Trung nói chung và tỉnh Hà Tĩnh nói riêng năng suất và hiệu
quả kinh tế mang lại chưa tương xứng với tiềm năng của cây Cao Su.
Hương Khê là vùng đồi núi thuộc về phía tây của Thành Phố Hà Tĩnh, đây
là vùng trọng điểm về cây Cao Su của tỉnh Hà Tĩnh, đã đóng vai trò không
nhỏ tới nền kinh tế xã hội môi trường của vùng, huyện Hương Khê và tỉnh Hà
Tĩnh, tuy nhiên thu nhập của người dân từ việc trồng cây Cao Su vẫn còn
1
* Khí hậu
- Nhiệt độ: Cây cao su cần nhiệt độ cao và đều với nhiệt độ thích hợp nhất
là từ 25 - 30
0
C, trên 40
0
C cây khô héo, dưới 10
0
cây có thể chịu đựng trong
thời gian ngắn nếu kéo dài cây sẽ bị nguy hại như cây bị héo, rụng, chồi ngon
ngưng tăng trưởng, thân cây cao su KTCB bị nứt nẽ, xì mũ… Nhiệt độ thấp
5
0
C kéo dài sẽ dẫn đến chết cây. Ở nhiệt độ 25
0
C năng suất cây đạt mức tối
hảo, nhiệt độ mát dịu vào buổi sáng sớm (1 - 5 giờ sáng) giúp cây sản xuất mủ
cao nhất.
- Lượng mưa: Cây cao su có thể trồng ở các vùng có lượng mưa từ 1500 -
2000 mm/năm. Tuy vậy đối với các vùng có lượng mưa thấp dưới 1500
mm/năm thì lượng mưa cần phải được phân bổ đều trong năm, đất phải có
khả năng giữ nước tốt, đất phải có thành phần sét khoảng 25%. Ở những nơi
không có điều kiện đất thuận lợi, cây cao su cần lượng mưa 1800 - 2000
mm/năm.
- Gió: Gió nhẹ 1 - 2 m/s có lợi cho cây cao su vì gió giúp cho vườn cây
thông thoáng, hạn chế được bệnh và giúp cho võ cây mau khô sau khi mưa.
Kinh nghiệm tại Mã Lai cho thấy: Khi gió có tốc độ 8 - 13,8 m/s làm lá cao su
non bị xoắn lại, lá bị rách, phiến lá dày nên nhỏ lại, có ảnh hưởng làm chậm
tăng trưởng. Khi gió có tốc độ trên 17,2 m/s cây cao su bị gãy cành và thân.
- Giờ chiếu sáng, sương mù: Giờ chiếu sáng ảnh hưởng đến cường độ
+ Thành phần hạt (sa cấu): Đất có thể trồng cao su phải có thành phần sét
ở lớp đất mặt (0 - 30 cm) tối thiểu 20% và lớp đất sâu hơn trên 30 cm tối thiểu
là 25%. Ở nơi có mùa khô kéo dài đất có tỷ lệ sét 20 - 25% (đất pha sét) được
xem là giới hạn cho cây cao su. [6], [7]
4
Trên đây là một số điều kiện chung để phát triển cây cao su, nhưng để phát
triển một cách có hiệu quả cần có những tiêu chí kỹ thuật và dựa vào các điều
kiện sau:
- Đất trồng phải đạt các tiêu chuẩn
+ Tầng đất canh tác dày trên 80 cm
+ Mực nước ngầm về mùa mưa sâu hơn 1 m
+ Độ dốc dưới 30%
+ Hàm lượng mùn ở lớp đất mặt trên 15%
+ Đất có khả năng thấm và tiêu nước tốt không bị ngập úng
- Thiết kế đường đi lại
+ Đường liên lô rộng trên 6 m
+ Đường lô rộng 4 m
+ Đường liên lô và đường lô phải thông với trục chính
- Thiết kế đai rừng chắn gió
+ Đai rừng chính rộng 15 m, đai rừng phụ rộng 6 m
+ Hướng đai rừng
+ Đai rừng chính vuông góc với hướng gió chính, đai rừng phụ vuông góc
với đai rừng chính.
2.1.1.2. Vị trí, vai tò và ý nghĩa kinh tế của cây Cao Su
Việt Nam là một nước nông nghiệp với 70% dân số sống ở vùng nông
thôn và có tổng diện tích đất tự nhiên là 32.925,1 ha. Nên việc phát triển
ngành nông nghiệp để tạo công ăn việc làm cho người lao động nông thôn
cũng như sử dụng quỹ đất có hạn này là vấn đề hết sức có ý nghĩa. Chương
trình 327CT, dự án đa dạng hoá nông nghiệp trong đó có chương trình phát
triển Cao Su quốc doanh đã là một giải pháp tích cực cho vấn đề này.
động sẽ đảm nhận được từ 2,5 - 3,5 ha và ổn định lâu dài suốt 28 - 35 năm.
Do vậy đây là điều kiện để tạo việc làm ổn định cho lao động nông thôn, cũng
như phân bố hợp lý giữa vùng thành thị và vùng nông thôn. [3], [6], [7]
2.1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.1.2.1. Tình hình sản xuất Cao Su trên thế giới
Cuối thế kỷ XIX, khi rời vùng nguyên quán Amazone (Nam Mỹ), cây Cao
6
Su Hévéa Brasiliensis đã được phát triển rất nhanh ở nhiều nước trên thế giới,
nhất là ở vùng Đông Nam Á. Do yêu cầu về mủ Cao Su thiên nhiên ngày càng
tăng, gắn liền với việc phát triển nền nông nghiệp hiện đại nên cây Cao Su
được trồng ở Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh.
Diện tích Cao Su thiên nhiên tăng mạnh trong những năm đầu của thế kỷ
XX. Năm 1905 toàn thế giới trồng được 52.000 ha, sản lượng Cao Su khoảng
49,9 nghìn tấn. Đến năm 1910 được 455.000 ha với sản lượng Cao Su đạt
mức cao nhất là 80.000 tấn. Theo viện nghiên cứu Malaysia thì tổng diện tích
hiện nay là 8,5 triệu ha được trồng trên 30 nước. Châu Á, đặc biệt là các nước
Đông Nam Á chiếm khoảng 90% sản lượng Cao Su thiên nhiên trên thế giới
và trên 75% sản lượng Cao Su thiên nhiên được sản xuấn ở Thái Lan,
Inđonesia, Malaysia. Châu Phi phát triển Cao Su chậm hơn trong những năm
gần đây, Nigienia và Liberia là hai nước có diện tích trồng Cao Su tương đối
lớn ở châu lục này. Ở Châu mỹ, Brazin là nước trồng nhiều Cao Su nhất. [2],
[10], [15]
Để biết được sự biến động sản lượng Cao Su thế giới ta xem xét bảng 1
sau:
Bảng 1: Sản lượng Cao Su của một số quốc gia trên thế giới qua
các năm 2003 - 2005
ĐVT: 1000 tấn
Quốc gia Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005
Thái Lan
Indonesia
lên 420 nghìn tấn tương ứng với 5,25% so với năm 2003. Năm 2005, sản
lượng Cao Su thế giới tăng lên 272 nghìn tấn tương ứng với 3,23%. Tuy
nhiên, do nhiều hạn chế về điều kiện đất đai khí hậu nên diện tích trồng cây
Cao Su ít được mở rộng, trong khi đó ở những vùng có điều kiện thích hợp lại
khó khăn về vốn, lao động nên sản lượng Cao Su tăng lên không đáng kể. Cao
Su là một mặt hàng quan trọng, đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu của mỗi
quốc gia khá lớn. Qua bảng 2 sau chúng ta sẽ biết được tình hình xuất khẩu
Cao Su của các nước trên thế giới. [15]
Bảng 2: Tình hình xuất khẩu Cao Su của các nước trên
thế giới năm 2003 - 2005
ĐVT: 1000 tấn
Quốc gia Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005
Thái Lan
Indonesia
Malaysia
Philipin
Liberia
Nước khác
2.354
1.532
430
45
109
830
2.593
1.661
510
56
104
796
Tinh có tốc độ tăng trưởng sản xuất lớn nhất thế giới trong thập kỷ tới với tốc
độ dự báo là 5%/năm. Trong đó, Brazin là nước sản xuất Cao Su thiên nhiên
lớn nhất khu vực do điều kiện thời tiết, đất đai mầu mỡ và chi phí lao động
thấp. Tuy nhiên, do sản lượng thấp (Brazin chỉ sản xuất 31.000 tấn giai đoạn
1998 - 1999) nên họ vẫn là nước sản xuất Cao Su thiên nhiên thấp trên thế
giới. [9]
Với mức độ tiêu dùng Cao Su thiên nhiên như hiện nay có xu hướng tăng
lên rất nhanh, chủ yếu là ở các nước công nghiệp đứng đầu là Mỹ, tiếp sau là
Anh, Pháp, Đức chiếm 60% tổng mức Cao Su thiên nhiên trên thế giới.
Trong những năm gần đây, Trung Quốc và các nước công nghiệp mới (NICs)
cũng tăng mức tiêu thụ. Vào đầu thế kỷ XX việc sử dụng Cao Su nhân tạo dể
thay thế Cao Su thiên nhiên bị gảm sút.
Thị trường giá cả Cao Su thường biến động lớn. Năm 1994, giá Cao Su
tăng mạnh nhưng vào những năm 1996 đến 1998 giá Cao Su giảm xuống.
Nguyên nhân chủ yếu là do cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ ở khu vực
Đông Nam Á năm 1997. Từ những năm 2000 đến nay, giá Cao Su trên tại
9
trường thế giới tăng rất mạnh và nhiều nhà kinh tế nước ngoài vẫn dự đoán là
giá Cao Su tiếp tục tăng và sẽ đạt được 2100 USD/tấn vào năm 2020 (theo tài
liệu về thị trường Cao Su của Burger và Smith năm 1994). [10]
2.1.2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ Cao Su ở nước ta
Cây Cao Su được di nhập vào Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1878 do
Pierre đưa hạt giống vào trồng ở vườn Bách Thảo Sài Gòn nhưng không sống
được cây nào. Đến năm 1897 Raul, một dược sỹ hải quan Pháp mang một số
hạt giống Cao Su từ vườn thực nghiệm Buitorg (ở Zava) đem trồng lần đầu
tiên tại trạm thí nghiệm của ông Yệm (Sông Bé) và tại trạm thí nghiệm của
viện Pasteur tại Suối Dầu Nha Trang do bác sỹ Yersin nhận 200 cây giống
Cao Su từ vườn Bách Thảo Sài Gòn đã tổ chức nhân trồng. Sau đó ông Yersin
đã nhập nhiều hạt giống Cao Su từ Srilanca để thành lập đồn điền Cao Su đầu
tiên ở nước ta. Nhưng thực tế từ năm 1914 về sau việc trồng Cao Su mới được
2002
2003
2004
344,9
412,0
415,8
428,8
440,8
450,9
344,9
412,0
415,8
428,8
440,8
450,9
Nguồn: Niêm giám thống kê Việt Nam năm 2006
Như vậy, những năm qua một số địa phương đã có những cố gắng tích cực
trong công tác phát triển diện tích trồng cây Cao Su do đường lối đúng đắn
của Đảng, chính sách của Nhà nước, các tổ chức và người dân thật sự thấy
được giá trị mang lại từ vườn cây Cao Su. Vì vậy, diện tích và sản lượng Cao
Su đã tăng lên qua các năm.
Việt Nam xuất khẩu Cao Su trên thị trường 46 nước, đối tác lớn nhất là
Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản. Ngoài ra, có các nước như Singapore, Malaysia,
Hàn Quốc là khách hàng mới nhưng khối lượng mua tăng nhanh. Theo đánh
giá xếp hạng mới công bố của Hiệp hội Cao Su Thế giới thì Việt Nam đứng
thứ 6 về sản xuất và đứng thứ 4 về xuất khẩu Cao Su trên Thế giới (sau Thái
Lan, Indonesia, Malaysia), giá bán Cao Su bằng 80- 90% giá bình quân của
thị trường thế giới. Tuy nhiên, chủ yếu là do chất lượng sản phẩm chưa cao,
tổ chức sản xuất chưa tốt. Ở Việt Nam tồn tại 3 mô hình sản xuất như sau:
- Cao Su quốc doanh do Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam (Viet
những người sản xuất phải hiểu được bản chất của đối tượng sản xuất của
mình để từ đó có những kế hoạch, phương hướng sản xuất phù hợp hơn.
Ngành nông nghiệp cũng như vậy, do đối tượng sản xuất của ngành là cây
trồng - vật nuôi, đều là những cơ thể sống, do đó nhân tố tự nhiên sẽ ảnh
hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất của chúng ta đặc biệt là ngành trồng
trọt.
Từ những đặc điểm thực vật học của cây Cao Su mà nó yêu cầu về điều
12
kiện sinh thái nhất định. Để trồng Cao Su có năng suất và hiệu quả kinh tế cao
cần chú ý đến nhóm nhân tố tự nhiên sau:
- Điều kiện địa hình: Cây Cao Su có khả năng sinh trưởng tốt ở địa hình
không cao so mực nước biển, thường địa hình bằng phẳng hoặc dốc dưới 5
0
là
tốt nhất nhưng phải tránh tình trạng ngập úng. Do vậy, cây Cao Su được phân
bố chủ yếu ở trên vùng đất gò đồi và vùng núi thấp, có địa hình chia cắt nhẹ,
dốc thoải thoát nước tốt. Nếu địa hình quá cao so mực nước biển thì cây càng
chậm lớn và năng suất càng thấp. Hơn nữa, những diện tích trên đất dốc sẽ
phải có hệ thống về đê mương, cũng như gặp khó khăn trong công tác cạo mủ,
thu mủ và vận chuyển mủ về nhà máy chế biến.
- Điều kiện về đất đai: Cây Cao Su có thể phát triển trên các loại đất khác
nhau, ở vùng khí hậu nhiệt độ ẩm ướt nhưng đối với mỗi loại đất sẽ ảnh
hưởng đến tốc độ sinh trưởng, năng suất, tuổi thọ cũng như chất lượng sản
phẩm mủ Cao Su. Nhìn chung, cây Cao Su thích hợp với nhóm đất đỏ bazan
và đất phù sa cổ. Do vậy, việc lựa chọn các vùng đất thích hợp cho cây Cao
Su là một vấn đề cơ bản cần được đặt ra. Các yếu tố cần được chú ý:
+ Độ sâu tầng đất, lý tính và hóa tính của đất. Nếu tầng đất canh tác sâu 2
m và trong đó không có tầng trở ngại cho sự tăng trưởng của rễ cây Cao Su
như lớp Laterit hóa dày đặc, lớp đá tảng Cây tốt thường được trồng trên đất
tơi xốp, thoát nước tốt, phải có độ pH thích hợp cho cây Cao Su 4,5 - 5,5 và
tiểu khí hậu ẩm ướt tạo cơ hội cho các loại nấm phát triển và tấn công cây
Cao Su, chẳng hạn như bệnh nấm trắng. [6]
2.1.3.2. Nhóm nhân tố kỹ thuật
Cây Cao Su là cây trồng lâu năm, đòi hỏi kỹ thuật cao. Mỗi biện pháp kỹ
thuật trong quy trình sản xuất đều ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế.
Cao Su là cây công nghiệp dài ngày, sau 7 - 8 năm của thời kỳ KTCB, cây
Cao Su sẽ chuyển sang thời kỳ khai thác mủ và chu kỳ kinh tế kéo dài 28 - 35
năm. Năng suất cây Cao Su phụ thuộc vào mức độ thâm canh của thời kỳ
KTCB. Do vậy việc trồng và chăm sóc cây Cao Su thời kỳ KTCB là yếu tố
hết sức quan trọng để mang lại hiệu quả kinh tế cho Cao Su kinh doanh sau
này.
* Quy trình kỹ thuật canh tác
- Quy trình kỹ thuật bao gồm các khâu: Chọn đất, chuẩn bị đất trồng, thiết
kế lô thửa, đào hố, bón phân lót, phân vô cơ, chọn gống, trồng dặm…
Đầu tiên yếu tố chọn đất cần phải dựa vào đặc điểm thích nghi của cây cao
su thích hợp với loại đất nào mới được chọn. Đất xám trên phù sa cổ là phù
hợp nhất.
Chuẩn bị đất trồng: Bao gồm các khâu khai hoang, dùng xe ủi hoặc dụng
cụ lao động ủi đổ gốc, rà gốc, đào gốc rể… Đối với đất ở vùng gió mạnh phải
trừa lại hệ thống đai rừng phòng hộ khoảng 6 - 10 m.
- Thiết kế lô thửa và hàng trồng: Tùy từng khu vực và hình thức trồng cao
su mà thiết kế lô thửa có kích thước khác nhau.
14
Đào hố và bón lót: Hố trồng cao su được trồng với kích thước 60 x 60 x
dài 70. Đào hố để ải đất trước khi bón phân lấp hố 15 ngày. Bón lót mỗi hố 15
kg phân chuồng và 0,2 kg Lân.
Giống: Cần phải chọn gống có năng suất cao, sản lượng ổn định lâu dài,
chất lượng và hàm lượng mủ tốt đồng thời phải thích ứng với điều kiện tự
nhiên của vùng. Các giống phổ biến hiện nay là GT1, RRIM 600, PB 235, VN
515, RRIC 110… Cần trồng một loại giống trên cùng một đơn vị diện tích.
+ Vốn: Là đầu vào cho mọi quá trình sản xuất kinh doanh. Kinh doanh cây
Cao Su không thể loại trừ yếu tố quan trọng này. Đặc biệt cây Cao Su là loại
cây có chu kỳ sống khá dài từ 28 - 35 năm, vốn đầu tư cho thời kỳ KTCB rất
lớn, số vòng quay của vốn chậm. Do vậy, việc huy động vốn và sử dụng vốn
một cách có hiệu quả là nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề kinh doanh Cao Su.
+ Lao động: Bất cứ một hình thức sản xuất kinh doanh nào cũng cần đến
lao động. Đây là yếu tố quan trọng quyết định đến quá trình sản xuất kinh
doanh, là tiền đề cơ sở để đào tạo ra mọi của cải xã hội. Trong lĩnh vực nông
nghiệp cũng vậy, lao động ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả sản xuất. Cây Cao
Su là loại cây công nghiệp dài ngày, thường được trồng trên diện tích lớn nên
yêu cầu rất nhiều về lao động ở thời kỳ KTCB củng như thời kỳ kinh doanh.
Vì vậy, việc đáp ứng được nhu cầu về lao động có ý nghĩa rất lớn. Hơn nữa,
để có được năng suất cao thì thì vấn đề trồng và khai thác cây Cao Su yêu cầu
về lao động phải am hiểu kỷ thuật cao, có kiến thức chuyên môn vững vàng.
[7]
+ Cơ sở hạ tầng: Cơ sở hạ tầng phát triển tốt kéo theo sản xuất phát triển.
Do đặc điểm của cây Cao Su đòi hỏi phải trồng tập trung, tính chuyên môn
hóa cao và thường được trồng trên những vùng gò đồi nên bố trí kết cấu hạ
tầng như: Điện, thủy lợi, giao thông, nhà máy chế biến phải phù hợp để sản
xuất Cao Su mang lại hiệu quả kinh tế cao. Do vậy, với cơ sở hạ tầng đảm bảo
ở nơi sản xuất cây Cao Su thì sẽ tạo điều kiện rất thuận lợi, giảm thiểu được
rất nhiều rủi ro và ngược lại. Ở những địa phương không đảm bảo vấn đề này
thì nhìn chung vấn đề phòng chống thiên tai và tiêu thụ sản phẩm sẽ gặp rất
nhiều khó khăn.
+ Thị trường - giá cả: Trong nền kinh tế thị trường vừa là điều kiện vừa là
phương tiện để thực hiện tái sản xuất là khâu trung gian cần thiết giữa người
16
sản xuất và người tiêu dùng. Xác định thị trường cho sản phẩm của mình có
tác dụng quan trọng nhằm xác định đúng mục tiêu, kế hoạch sản xuất của
ngành. Vì vậy, nghiên cứu thị trường luôn là vấn đề quan tâm đối với các đơn
tiêu thụ sản phẩm. [9]
PHẦN III
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trực tiếp của đề tài là cây cao su. Do đó chúng tôi đã
đi vào tìm hiểu tình hình sinh trưởng, hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội ban
đầu mà cây cao su đem lại.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các diện tích cao su thuộc phạm vi quản
lý của nông trường Truông Bát, công ty cao su Hà Tĩnh.
3.2. Phương pháp nghiên cứu
Nhằm đạt được mục tiêu của đề tài, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi
sủ dụng các phương pháp sau:
3.2.1. Phương pháp điều tra, phỏng vấn
- Chọn điểm điều tra: Căn cứ vào thời điểm trồng Cao Su và mức đầu tư
của các nông trường chúng tôi quyết định chọn địa bàn Nông trường Truông
Bát làm địa điểm điều tra.
- Chọn mẩu điều tra: Chúng tôi chọn nông trường Truông Bát thuộc công
ty Cao Su Hà Tĩnh để nghiên cứu, do đây là đơn vị tiền thân của công ty và có
diện tích Cao Su nhiều nhất có ở các cấp tuổi. Để thông tin khách quan chúng
tôi đã tiến hành phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên không lặp theo khoảng
cách đã được định trước trong danh sách của đơn vị. Ngoài ra chúng tôi tiến
hành khảo sát hiện trường, lập ô tiêu chuẩn, thu thập và xử lý số liệu.
3.2.2. Phương pháp thu thập số liệu
- Thu thập số liệu sơ cấp
Thu thập bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp công nhân theo bảng câu
hỏi điều tra chuẩn bị trước kết hợp với quan sát hiện trạng để thu thập thông
tin.
- Thu thập số liệu thứ cấp
Các tài liệu liên quan đến cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động sản xuất
18
xuất bình quân 1 ha Cao Su là giá trị sản phẩm sản xuất trong năm của 1ha
19
tính theo giá trị thị trường.
DT = Qi . Pi
Trong đó: DT là doanh thu thu được trên 1ha diện tích cây Cao Su (1000đ)
Qi là sản lượng mủ của 1ha Cao Su (kg)
Pi là giá bán 1kg mủ (1000 đ)
* Tổng chi phí sản xuất: Là toàn bộ những chi phí bằng tiền hoặc vật chất
của đơn vị bao gồm:
- Chi phí trực tiếp (DI): Là bộ phận cấu thành tổng giá trị sản xuất bao
gồm những chi phí bằng tiền mặt của đơn vị.
- Chi phí khác bao gồm: Chi phí vật chất, công lao động, khấu hao tài sản
cố định, trả lãi tiền vay, nộp thuế và phí các loại.
* Thu nhập hỗn hợp: Là phần giá trị sản xuất còn lại sau khi đã trừ đi các
khoản (chi phí trực tiếp, chi phí tài chính, nộp thuế và phí)
GM = chi phí trực tiếp - chi phí tài chính - thuế - phí
* Lợi nhuận kinh tế: Là phần thu nhập hỗn hợp còn lại sau khi đã trừ đi
các khoản sau: Khấu hao, công lao động, chi phí vật chất.
EP = GM - chi phí lao động - khấu hao tài sản cố định - chi phí vật chất
Các chỉ tiêu hiệu quả như sau:
- Hiệu quả sử dụng chi phí trực tiếp:
GO/DI: Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng chi phí trực tiếp bỏ ra trong
năm mang lại bao nhiêu đồng giá trị sản xuất trong năm.
GO/DI = Tổng giá trị sản xuất / chi phí trực tiếp
GM/DI: Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng chi phí trực tiếp bỏ ra trong
năm mang lại bao nhiêu đồng thu nhập hỗn hợp.
GM/DI = Thu nhập hỗn hợp / chi phí trực tiếp
EP/DI: Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng chi phí trực tiếp bỏ ra trong năm
mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận kinh tế.
EP/DI = Lợi nhuận kinh tế / chi phí trực tiếp
hình việc làm của cán bộ công nhân viên được ổn định, các chế độ của chính
sách của người lao động được đảm bảo. Tổng quỷ lương thực hiện 17,16 tỷ
đồng, trong đó quỹ lương KTCB là 10,92 tỷ đồng, quỷ lương kinh doanh là
6,24 tỷ, tiền lương bình quân của công nhân là 1.200.000 đ/người/tháng.
Quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch SXKD của công ty gặp không ít khó
khăn đó là năm 2007 chịu ảnh hưởng trực tiếp của cơn bảo số 5 đã gãy đổ trên
825 ha Cao Su, gần 700 ha rừng tập trung thiệt hại trên 32 tỷ đồng, cuối năm
rét đậm rét hại kéo dài làm cho vườn cây Cao Su trồng mới từ tuổi 1 đến tuổi
4 bị bệnh nặng, như khô ngọn, khô cành, chết cháy Nhiều vườn cây bị hại
nặng nhất là vùng Hương Khê, công ty phải đầu tư tiền của và sức lao động
để khắc phục với khối lượng rất lớn, một số vườn cây có nguy cơ phải thanh
lý trồng lại do chết rét.
Về trồng mới mở rộng thêm diện tích cũng khó khăn do quỹ đất trong quy
hoạch không còn, việc bổ sung quy hoạch mới và thuê đất liên kết góp vốn,
góp đất với các doanh nghiệp không triển khai được. Bên cạnh đó giá cả vật
tư, nguyên liệu tăng cao làm ảnh hưởng đến suất đầu tư và tính chủ động thực
22
hiện kế hoạch của công ty. Tuy nhiên được sự quan tâm chỉ đạo của trực tiếp
của Tập đoàn, sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, sự phối hợp của chính quyền
các cấp, cùng sự nhiệt tình tâm huyết với cây Cao Su, có truyền thống trồng
rừng và sản xuất lâm nghiệp của cán bộ công nhân viên công ty. Vì vậy năm
2007 công ty Cao Su Hà Tĩnh cơ bản hoàn thành nhiệm vụ sản xuất kinh
doanh được giao, sản lượng khai thác Cao Su đạt và vượt kế hoạch, các chỉ
tiêu khai hoang trồng mới, chỉ tiêu lâm nghiệp đều đạt, chăn nuôi được quan
tâm, một số dự án đầu tư quan trọng được triển khai, đời sống cán bộ công
nhân được cải thiện. Công ty đã sớm tập trung khắc phục hậu quả bảo lụt
thiên tai để đi vào ổn định sản xuất kinh doanh.
4.1.2. Tình hình sản xuất của công ty cao su Hà Tĩnh
Cùng với sự lớn mạnh của cao su Việt Nam, cao su của công ty cao su Hà
Tĩnh đã nổ lực trồng, chăm sóc và thu hoạch mủ nên diện tích và sản lượng
3.910
800
1.020
1.250
1.400
1.700
2.200
2.630
2.415
2.828
3.112
2.890
-
-
-
-
-
-
-
805
942
1.321
1.020
Nguồn: Báo cáo tình hình sản xuất của công ty năm 2008
23
Số liệu bảng 4 ta thấy, ban đầu với diện tích 800 ha công ty đã đầu tư vật
tư trang thiết bị vào việc trồng chăm sóc vườn cây sau 10 năm diện tích vườn
cây đã tăng lên 4.433 ha vào năm 2006. Trong các năm gây dựng vườn cây
thì cho đến năm 2004 (năm thứ 7) công ty mới có được những đơn vị mủ đầu
tiên đưa lại thu nhập cho toàn đơn vị và hứa hẹn nhiều tiềm năng cho toàn
47,36%).
Điều này đã được kiểm nghiệm tại địa bàn nghiên cứu, thực tế nơi đây khá
phù hợp với những yêu cầu mà giống RRIM 600 cần đáp ứng, do vậy công ty
24
cũng đã và đang mở rộng loại giống này ngày càng nhiều để đưa lại số lượng
và chất lượng mủ tốt nhất có thể đáp ứng nhu cầu ngày càng khó tính của thị
trường trong và đặc biệt là xuất khẩu.
Ngoài diện tích trồng cao su (4.475 ha) là chủ yếu, công ty còn có 1.229 ha
đất rừng kinh tế, rừng lâm nghiệp nhằm tăng nguồn thu cho đơn vị, trong thời
gian tới số diện tích này sẽ giảm xuống do chuyển đổi sang trồng cao su theo
kế hoạch đề ra của công ty.
* Kết quả sản xuất nông nghiệp năm 2007
- Khai thác, chế biến và kinh doanh Cao Su: Diện tích Cao Su khai thác
1020 ha, đến tháng 10 giãm 301,5 ha do bảo số 5 làm gãy đổ. Sản lượng khai
thác 533 tấn, tiêu thụ 535 tấn, trong đó mủ chế biến RSS3 là 200 tấn, doanh
thu về Cao Su: 16,2 tỷ đồng, giá bán bình quân: 30,3 triệu đồng/tấn mủ khô,
lợi nhuận 2,2 tỷ đồng, nộp ngân sách 400 triệu đồng. Quy trình khai thác đảm
bảo, tay nghề công nhân được nâng lên, quản lý sản lượng và chất lượng được
quan tâm, đời sống công nhân lao động được cải thiện. Năm 2007 đã hình
thành và ra đời dây chuyền chế biến mủ từ nguyên liệu mủ nước, bước đầu đã
chế biến được 200 tấn đảm bảo chất lượng. Sản phẩm đã sản xuất đi
Xingapore, Hồng Kông, Trung Quốc và đã được khách hàng đánh giá cao so
với Cao Su trong khu vực.
- Khai hoang trồng mới: Thực hiện khai hoang 459 ha đạt 100% kế hoạch
đề ra, tái canh và trồng mới 459 ha trong đó tái canh 209 ha, chất lượng tái
canh trồng mới ngày càng được nâng lên, tỷ lệ sống trên 90%.
- Chăm sóc Cao Su KTCB: Tổng diện tích cao su là 3.909,99 ha (giảm
523,6 ha do bão số 5 làm gảy đổ), trong đó diện tích kéo dài 169,5 ha, các đều
chăm sóc theo đúng quy trình kỹ thuật của Tập đoàn ban hành, ngoài ra công
ty còn có chủ trương hạ độ dốc, bón phân tăng cường trên diện tích vườn cây