1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Giống vi khuẩn Haemophilus là một trong những loại vi khuẩn ký sinh
ở đường hô hấp người và một số loài động vật. Loài H. influenzae là căn
nguyên của một số bệnh nhiễm trùng ở người (có thể từ viêm đường hô hấp
cho đến viêm màng não). H.influenzae typ b (Hib) đã được thế giới xác định
là một trong những căn nguyên chớnh gõy viờm màng não do vi khuẩn, đặc
biệt ở trẻ em dưới 5 tuổi [24], [89].
Tại những nước phát triển như khu vực Bắc Mỹ, Tây Âu, châu Úc hầu
hết những nghiên cứu đã cho thấy tỷ lệ mang Hib ở họng rất cao ở trẻ nhỏ,
đặc biệt là những trẻ được chăm sóc tại các trung tâm giữ trẻ ban ngày có thể
mang Hib đến 15% [52], [69]. Bên cạnh đó, Hib cũng được đánh giá là
nguyên nhân hàng đầu gõy cỏc bệnh nhiễm trùng nguy hiểm cho trẻ nhỏ như
viêm màng não, viêm phổi để lại di chứng và tỷ lệ tử vong cao (khoảng
10%). Gánh nặng bệnh tật do Hib đã giảm đáng kể nhờ có vacxin phòng bệnh
tại các nước này [89]. Tuy nhiên, một số nước trên thế giới sau khi đánh giá
quá trình thực hiện phòng bệnh do Hib bằng vacxin đã cho thấy tỷ lệ thất bại
của vacxin cũng không nhỏ. Xuất phát từ vấn đề này, đã có nhiều nghiên cứu
về đặc điểm sinh học phân tử (phổ biến nhất là sử dụng kỹ thuật PFGE) của
Hib được tiến hành để đỏnh giá dịch tễ học phân tử của vi khuẩn này dựa trên
nghiên cứu so sánh với đặc điểm các chủng Hib phõn lập từ người khỏe mạnh
và người tiếp xúc mang vi khuẩn [82], [100], [105], [111], [112].
Tại Việt Nam, một số nghiên cứu đã đánh giá tỷ lệ trẻ khỏe mạnh mang
vi khuẩn H. influenzae nói chung [1] và Hib nói riêng [7], tỷ lệ mắc viêm
màng nóo do H.influenzae (chưa có điều kiện xác định typ huyết thanh) ở trẻ
-lactamase
và mức độ nhạy cảm với kháng sinh của các chủng Hib phân lập
được từ trẻ khỏe mạnh dưới 5 tuổi tại một số nhà trẻ, mẫu giáo.
3. So sánh đặc điểm sinh học giữa Hib gây viêm màng não ở trẻ dưới 5
tuổi với Hib được phân lập từ trẻ khỏe mạnh mang vi khuẩn.
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Haemophilus influenzae typ b (Hib)
1.1.1. Haemophilus influenzae: lịch sử và tên gọi
Haemophilus influenzae (H.influenzae) được phân lập lần đầu tiên bởi
Richard Pfeiffer từ đờm của một bệnh nhân bị viêm phổi trong đại dịch cúm
năm 1890. Lúc đó, vi khuẩn này được hiểu lầm là nguyên nhân gây ra bệnh
cúm nên được gọi là trực khuẩn cúm (Influenzae bacteria). Mãi cho đến khi đại
dịch cúm xảy ra trong những năm 1918-1919, người ta mới biết H.influenzae
chỉ là thành viên của hệ vi khuẩn ký sinh ở đường hô hấp trên và không phải
lúc nào cũng gây bệnh. Năm 1933, khi phát hiện ra virus cúm là căn nguyên
của bệnh cúm, vai trò của H.influenzae mới được làm sáng tỏ: virus cúm gây ra
bệnh cúm, còn H.influenzae chỉ là vi khuẩn “ăn theo” (second invader) sau khi
ca nhiễm khuẩn xõm hại do Hib).
Hình 1.1 Hình thể của Hib trên tiêu bản nhuộm Gram dịch não tuỷ dưới
kính hiển vi quang học (độ phóng đại ì 1000) [99].
Trên thực tế, nếu nhuộm Gram bệnh phẩm dịch nóo tủy mà trên vi
trường cho thấy nhiều vi khuẩn Gram (-) nhỏ, đa hình thái và nhiều bạch cầu
đa nhõn thì đõy là dấu hiệu rất quan trọng gợi ý cho chẩn đoán sớm viêm
màng nóo do H. influenzae [89].
1.1.2.2. Sức đề kháng [127]
H. influenzae là loại vi khuẩn chịu đựng rất kém với các yếu tố ngoại
cảnh. Trong bệnh phẩm, chúng chết nhanh chóng nếu để ánh sáng mặt trời
Hib
Bạch cầu đa nhân 5
chiếu trực tiếp, để khô hoặc lạnh giá. Các chất sát khuẩn thông thường tiêu
diệt vi khuẩn này một cách dễ dàng.
Vì vậy, bệnh phẩm để chẩn đoán vi khuẩn này nên được vận chuyển về
phòng thí nghiệm trong vòng 1 giờ, hoặc không quá 6 giờ ở nhiệt độ phòng
thí nghiệm (24 - 28
o
C). Nếu là tăm bông bệnh phẩm phải giữ trong môi
trường vận chuyển (môi trường bảo quản), có thể giữ ở nhiệt độ 4 - 8
o
C tối đa mọc trờn cỏc loại thạch mỏu khỏc (ví dụ máu thỏ) thỡ khụng gõy tan máu và
khuẩn lạc nhỏ hơn nhiều so với trên chocolate trong cựng cỏc điều kiện nuôi
cấy. Cũng trên thạch máu, người ta thấy khuẩn lạc H. influenzae mọc xung
quanh các khuẩn lạc Staphylococcus aureus bội nhiễm rất to, trong khi đó ở
những vùng xa thì khuẩn lạc hoặc là không mọc, hoặc là rất bé. Hiện tượng này
gọi là hiện tượng “vệ tinh” (satellitism), do khả năng tiết ra yếu tố V của vi
khuẩn bội nhiễm đó giúp H. influenzae phát triển được thạch mỏu thụng
thường.
Hình 1.2: Hiện tượng "vệ tinh", khuẩn lạc của H. influenzae mọc xung
quanh khuẩn lạc của S. aureus trờn môi trường thạch máu thỏ
Môi trường nuôi cấy và đặc điểm khuẩn lạc:
Để nuôi cấy H. influenzae, có 3 loại môi trường có thể được được sử
dụng [19], [43], [89], [127]:
- Thạch chocolate có hoặc không có 300g bacitracin/ml môi trường
(có tác dụng ức chế một số vi khuẩn khác, đặc biệt là liên cầu) để phõn lập
H.influenzae. Đõy là loại môi trường thường được sử dụng nhất trong nuôi
cấy và phõn lập vi khuẩn này.
- Thạch máu thỏ tươi 7% và thạch Levinthal 7 Tính chất sinh hóa đặc trưng của H. influenzae là nhu cầu đòi hỏi bắt
buộc 2 yếu tố phát triển là X và V trong môi trường nuôi cấy. Tính chất này có
thể được xác định bằng thử nghiệm XV hoặc thử nghiệm "vệ tinh" [19], [127]:
Hình 1.4: Thử nghiệm với bằng 3 khoanh giấy X, V và XV (1); thử
nghiệm "vệ tinh" (2), cho thấy H. influenzae đòi hỏi bắt buộc phải có cả 2 yếu
tố X và V cho sự phát triển
H. influenzae được phân biệt với những loại Heamophilus khác ở các
đặc điểm sau đây:
Bảng 1.1: Những đặc điểm sinh học để phân biệt H. influenzae với các
Haemophilus khác [127].
Tính chất
Loài
Tan huyết
Cần yếu tố X
Cần yếu tố V
Cần CO
2
H. influenzae
-
+
+
+
H. parainfluenzae
-
-
+
1.1.3.1. Đặc điểm phân loại H. influenzae theo typ huyết thanh [19], [43], [89]
Năm 1930, H. influenzae được xác định thành 2 nhúm chớnh, đó là loài
không vỏ (khụng xỏc được typ huyết thanh - non typeable) và loài có vỏ (xác
định được typ huyết thanh - typeable). Dựa trên tính đặc hiệu kháng nguyên của
vỏ polysaccharide, vi khuẩn H. influenzae có vỏ được chia ra thành 6 typ huyết
thanh từ a đến f. Theo hầu hết các nghiên cứu cho thấy vi khuẩn H. influenzae
gây bệnh thuộc loại có vỏ, nhiều nhất là H. influenzae typ b.
1.1.3.2. Đặc điểm phân loại H. influenzae theo typ sinh học (biotype)
Bảng 1.2: Phân loại H. influenzae theo typ sinh học của Killian [43]
Biotype
Các tính chất hoá học
Test Urease
Test Indol
Ornithin decarboxylase (ODC)
I
+
+
+
II
+
+
-
III
+
-
-
IV
+
tương tự với ba phản ứng sinh hoá ở trên. Sau này, cũng với những thử
nghiệm tương tự, Kilian đã bổ sung thêm 4 biotype từ V đến VIII. Vì vậy,
H. influenzae được chia ra làm 8 typ theo tiêu chuẩn của Killian [43].
1.1.4. Miễn dịch [28], [89]
Miễn dịch tự nhiên của cơ thể đối với Hib rất đa dạng, bao gồm một sự
hợp tác phức tạp của nhiều thành phần trong hệ thống miễn dịch: 1) Các yếu
tố miễn dịch niêm mạc, 2) Kháng thể dịch thể, 3) Sự opsonin hóa và quá trình
hoạt hóa các phản ứng viêm qua trung gian bổ thể, 4) Khả năng thực bào, diệt
vi khuẩn bởi những đại thực bào và tế bào đa nhân, 5) Chức năng miễn dịch
Đại thực bào
đi trong những tháng tuổi đầu tiên, đồng thời với nguy cơ nhạy cảm theo tuổi
giữa tháng tuổi thứ 6 cho đến 2 - 4 tuổi nên để bảo vệ cơ thể cần phải thông
qua việc gây miễn dịch chủ động.
Mặc dù đặc điểm miễn dịch tự nhiên đối với vi khuẩn Hib là miễn dịch
đáp ứng với vài loại kháng nguyên bề mặt của vi khuẩn này, song kháng thể
kháng polysaccharide vỏ thuộc typ b (PRP) dường như có tầm quan trọng
nhất. Đối với loài H. influenzae typ b, 90% tổng số những kháng thể kháng
PRP có khả năng hoạt hóa bổ thể giúp tăng hoạt động thực bào và diệt vi
khuẩn nhờ opsonin hóa để bảo vệ cơ thể. Ở người, trước khi có kháng sinh,
việc sử dụng thụ động globulin miễn dịch chống lại Hib đã là phương pháp để
điều trị hiệu quả bệnh nhiễm khuẩn lan tràn này. Tuy nhiên, kháng nguyên vỏ
của Hib lại không được nhận biết bởi đại thực bào và tế bào lympho T nhưng
lại kích thích cỏc dũng tế bào lympho B đặc hiệu, do đó được gọi là kháng 12
nguyên độc lập với tế bào T. Vì vậy, kháng nguyên vỏ của Hib sẽ bị hạn chế
về khả năng đáp ứng miễn dịch, không hoạt hóa được các tế bào lympho T hỗ
trợ đặc hiệu. Tế bào T hỗ trợ tác động đến sự chín muồi, biệt hóa và tăng sinh
các tế bào B để những tế bào này trở thành tương bào sản xuất kháng thể. Tế
bào T hỗ trợ cũng có thời gian sống dài và tạo nên trí nhớ miễn dịch cần thiết
cho đáp ứng tăng cường tiếp theo khi cơ thể tiếp xúc trở lại với kháng nguyên
này. Kết quả của những đáp ứng kháng thể thiếu sự tham gia của tế bào T thì
hiệu lực miễn dịch sẽ thấp. Để khắc phục nhược điểm này, trong sản xuất
vacxin, thành phần PRP đã được cộng hợp (liên kết cộng hóa trị) với nhiều
loại protein có tính sinh miễn dịch làm tăng cường khả năng nhận biết của đại
đột ngột tiến triển trong vài giờ. Những dấu hiệu và triệu chứng của viêm
màng nóo do vi khuẩn này cũng giống hệt như triệu chứng và dấu hiệu gặp
trong viêm màng nóo do các vi khuẩn gây bệnh khác.
Những dấu hiệu không đặc hiệu, bao gồm: sốt, ngủ gà, kích thích, chán
ăn, nôn, suy hô hấp và rối loạn tõm thần. Đối với trẻ lớn thường có nhức đầu,
cứng gáy, sợ ánh sáng. Các dấu hiệu Brudzinski, Kernig và cứng gáy đặc
trưng ít thấy ở trẻ dưới 15 tháng tuổi. Thêm vào đó, những dấu hiệu khu trú
có thể xuất hiện sớm, có đến 1/3 số bệnh nhõn bị co giật trước khi nhập viện.
Tỷ lệ tử vong bởi viêm màng nóo do Hib khoảng 5% và tỷ lệ mắc bệnh
kéo dài là 15 – 30%.
1.1.6. Phương pháp chẩn đoán phòng thí nghiệm viêm màng não do Hib
H. influenzae là loại vi khuẩn khó nuôi cấy, chỉ mọc trên môi trường
giàu chất dinh dưỡng có chứa đầy đủ hai yếu tố phát triển X (hemin), V
(NAD hoặc NADP) và không có khả năng mọc trờn cỏc môi trường thông
thường. Vì vậy, việc chẩn đoán viêm màng nóo do Hib chủ yếu được thực
hiện ở bệnh viện tuyến tỉnh hoặc tuyến trung ương dựa vào phương pháp nuôi
cấy phân lập nên gặp rất nhiều khó khăn. Thêm vào đó, đõy cũng là phương
pháp thường được áp dụng nhất ở Việt Nam nhưng khả năng phát hiện căn
nguyên vi khuẩn Hib lại có độ nhạy thấp (khoảng xấp xỉ 50%) [12], [14].
Hiện nay, bên cạnh phương pháp nuôi cấy phân lập truyền thống,
những phương pháp chẩn đoán có độ nhạy và độ đặc hiệu cao cũng được áp 14
dụng để phát hiện Hib trong chẩn đoán viêm màng nóo. Tuy nhiên, hầu hết
các phương pháp hiện đại có thể giúp chẩn đoán nhanh Hib gây bệnh, nhưng dương tính của một trong hai kỹ thuật này đều cho thấy bằng chứng nhiễm
trùng, thậm chí nuôi cấy có thể thất bại.
+ Tiến hành ly tâm dịch não tủy 20 phút với tốc độ 2000 vũng/ phỳt.
+ Dùng pippett nhỏ giọt sạch vô trùng hút nước nổi chuyển sang một
ống nghiệm sạch vô trùng có nắp đậy.
+ Tiến hành nhuộm Gram một tiêu bản từ cặn bệnh phẩm DNT vừa ly
tâm. Để khô tiêu bản.
+ Soi tiêu bản ở vật kớnh ì 100 để tìm vi khuẩn gây bệnh. Nếu trên tiêu
bản xuất hiện các trực khuẩn Gram (-) nhỏ, đa hình thái (có thể ở dạng cầu
trực khuẩn, trực khuẩn hoặc mảnh dài như sợi chỉ) thì đõy là dấu hiệu gợi ý
quan trọng định hướng chẩn đoán viêm màng nóo do Hib.
- Nuôi cấy:
+ Lấy đầy một ăng cặn bệnh phẩm nuôi cấy vào mụt trường thạch
chocolate có bổ sung IsoVitalex.
+ Ủ ở 37
o
C với khí trường 5 - 10% CO
2
khoảng 18 - 24 giờ. Nếu có
khuẩn lạc mọc trên đĩa thạch chocolate sau khi ủ, quan sát hình thái khuẩn lạc
của Hib thường có đặc điểm: khuẩn lạc có kích thước 1,0 - 1,5mm, vồng nhẹ,
sáng bóng, nhày ướt, óng ánh khi ánh sáng chiếu vào và khụng gõy tan máu.
Ngoài ra, môi trường nuôi cấy vi khuẩn thuần nhất thường có mùi hăng đặc
biệt (hăng indol).
- Xác định
+ Nhuộm Gram: nhuộm vi khuẩn từ khuẩn lạc mọc được trên đĩa thạch
(Chú ý: không để cho không khí lọt vào trong tĩnh mạch)
+ Bơm máu vào môi trường dùng để cấy máu theo nguyên tắc vô trùng
(thông thường nên sử dụng chai cấy máu có môi trường pha chế sẵn của Hãng
Becton – Dickinson) [12].
+ Ngay lập tức vận chuyển bình cấy máu về phòng xét nghiệm vi sinh.
Bình cấy máu có thể được giữ ở nhiệt độ phòng (20
o
- 25
o
C) khoảng 4 - 6 giờ
trước khi ủ ấm ở 35
o
- 37
o
C, thông khí với khí trường 5 - 10% CO
2
.
(Chú ý: Bình cấy máu không được giữ trong tủ lạnh. Ủ ấm trong quá
trình vận chuyển có thể sử dụng nhiệt độ 25
o
- 35
o
C).
+ Trong một số trường hợp cần lấy máu để thực hiện phương pháp
chẩn đoán khỏc, nờn lấy vào các ống nghiệm chân không vô trùng. 17
+ Bio Merieux Slidex meningite KIT (HT đa giá)
- Tiến hành kỹ thuật:
+ Tiến hành ly tâm dịch não tủy 20 phút với tốc độ 2000 vũng/ phỳt.
+ Dùng pippett nhỏ giọt sạch vô trùng hút nước nổi chuyển sang một
ống nghiệm sạch vô trùng có nắp đậy. 18
+ Đun nước nổi DNT trong nồi cách thủy ở nhiệt độ 100
o
C/5 phút.
+ Lắc đều lọ kháng thể mẫu có gắn hạt latex cho đến khi có huyền dịch
thuần nhất.
+ Nhỏ một giọt của mỗi loại kháng thể mẫu gắn hạt latex lên lam kính
ở giữa vòng tròn đã được khoanh bằng bút viết kính hoặc phiến giấy dùng
một lần để thực hiện các phản ứng ngưng kết.
+ Nhỏ 30 - 50 àl dịch não tủy vào từng loại kháng thể mẫu đã được nhỏ
lên lam kính hoặc phiến giấy.
+ Xoay tròn lam kính hoặc phiến giấy làm phản ứng 2 - 10 phút (hoặc
dựng mỏy lắc tròn với tần số 100 vũng/ phỳt)
- Đọc kết quả:
+ Phản ứng âm tính khi huyền dịch làm phản ứng vẫn đục đều và có
màu sữa nhạt.
+ Phản ứng dương tính khi xuất hiện các hạt ngưng kết xảy ra trong
vòng 2 phút sau khi thực hiện phản ứng và huyền dịch trở nên trong.
1.1.6.3. Phương pháp điện di đối lưu phát hiện kháng nguyên đặc hiệu của
là 5mm.
+ Nhỏ hàng trên là kháng thể (kháng huyết thanh) 5àl/ giếng; hàng dưới
nhỏ 5àl bệnh phẩm (dịch não tủy); chứng dương là 5àl polysaccharide typ b
của Hib + 1àl thuốc nhuộm bromophenol.
+ Đặt vào bể điện di, chạy với tốc độ 8mA/30 phút.
+ Đọc kết quả sau 1 - 3 giờ dừng chạy điện di, nếu dương tính sẽ thấy
vạch tủa trắng gần phía giếng kháng thể (cực dương).
1.1.6.4. Phương pháp phát hiện đoạn ADN đặc hiệu của Hib trong DNT bằng
kỹ thuật PCR (Polymerase Chain Reaction)
PCR được biết là kỹ thuật chẩn đoán cho kết quả nhanh, nhạy và đặc
hiệu với vi khuẩn Hib ở DNT. Hơn thế nữa, kỹ thuật này cũng góp phần nâng
cao tối đa khả năng quản lý các trường hợp viêm màng não nhằm giảm tỷ lệ
trầm trọng, tỷ lệ chết và những phức tạp trong điều trị các bệnh nhiễm trùng
xâm hại do Hib. Tại những cơ sở xét nghiệm lâm sàng, kỹ thuật PCR truyền
thống thường được dùng nhất trong chẩn đoán vi khuẩn Hib. Tuy nhiên, hiện 20
nay kỹ thuật Realtime-PCR cũng đã được sử dụng trong phân loại và xác định
vi khuẩn H. influenzae nói chung và Hib nói riêng với độ nhạy, độ đặc hiệu
rất cao [12], [71], [74], [90].
Kỹ thuật PCR truyền thống [90]
- Hóa chất và sinh phẩm:
+ Enzym Taq ADN Polymerase 2.5U.
+ dNTPs gồm : ATP, TTP, GTP, CTP.
+ Cặp mồi được sử dụng để xác định Hib là Haem Right:
Haemophilus influenzae (ATCC 35056 Difco làm chứng dương), 40àl nước
khử ion và cặp mồi (mồi 1,2: 2 àl hoặc 40pm) cho mỗi ống.
/ Hỗn hợp phản ứng được chạy theo chương trình cài đặt của máy điều
nhiệt (Eppendorf, Germany) khoảng 35 chu kỳ, mỗi chu kỳ cú cỏc thông số
dưới đây: giai đoạn biến tính khoảng 2 phút ở 94
o
C; giai đoạn gắn mồi
khoảng 2 phút ở 56
o
C; giai đoạn kéo dài khoảng 2 phút ở 72
o
C. Trong đó, giai
đoạn biến tính đầu tiên cần 10 phút ở 94
o
C và giai đoạn kéo dài cuối cùng là 8
phút ở 72
o
C. Sau khi kết thúc 35 chu kỳ, mẫu ADN sau khi khuếch đại có thể
được giữ ở 4
o
C cho đến khi phân tích. Sản phẩm của phản ứng PCR để chẩn
đoán Hib được phát hiện bởi kết quả điện di trên thạch agarose.
Kỹ thuật Real-time PCR [12], [74]
- Hóa chất và sinh phẩm:
+ QIAamp blood kit (Qiagen, Hilden, Germany)
+ Mồi (primer):
/ Mồi xuôi: 5’-CAAGATACCTTTGGTCGTCTGCTA-3’ (vị trí 5481
đến 5504).
/ Mồi ngược: 5’-TAGGCTCGAAGAATGAGAAGTTTTG-3’ (vị trí
thống phát hiện trình tự, phiên bản 1.7.
1.1.6.5. Đánh giá các kỹ thuật phát hiện Hib trong chẩn đoán viêm màng nóo
Giá trị chẩn đoán của các kỹ thuật phát hiện Hib gây viêm màng nóo
được giới thiệu ở trên đó cú một số nghiên cứu, đánh giá và cho thấy độ nhạy,
độ đặc hiệu của từng phương pháp.
- Phương pháp nuôi cấy chẩn đoán Hib thường có độ nhạy không cao
(khoảng 50 - 55%), nhưng độ đặc hiệu là 100%. Ngoài ra, phương pháp này
cũn giỳp cho những nhà vi sinh lõm sàng xác định được mức độ nhạy cảm với
kháng sinh của những chủng Hib gây bệnh phân lập được mà các phương
pháp khác thường không thể thực hiện [12].
- Phương pháp ngưng kết hạt latex phát hiện kháng nguyên đặc hiệu
của Hib trong dịch não tủy là phương pháp thực hiện rất đơn giản nhưng có
độ nhạy và độ đặc hiệu khá cao (độ nhạy 95%, độ đặc hiệu 99,6%) [12].
- Phương pháp điện di đối lưu phát hiện kháng nguyên đặc hiệu của
Hib trong dịch não tủy có độ nhạy 97%, độ đặc hiệu 100% [12], [14].
- Phương pháp phát hiện đoạn ADN đặc hiệu của Hib trong dịch não
tủy bằng kỹ thuật PCR có độ nhạy 100%, độ đặc hiệu 99% [12], [74].
1.2. Tỷ lệ trẻ khỏe mạnh dưới 5 tuổi mang Hib, tình hình viêm màng não
do Hib ở trẻ dưới 5 tuổi trong nước và trên thế giới
1.2.1. Tỷ lệ trẻ khỏe mạnh dưới 5 tuổi mang Hib
1.2.1.1. Khái niệm về người khỏe mạnh mang vi khuẩn (Hib) 23
Người khỏe mạnh mang vi khuẩn (carriers) là những người mang vi
khuẩn gây bệnh trong cơ thể mà không có biểu hiện triệu chứng hoặc không
Họng miệng
Thanh quản-hầu
(vùng dưới hầu)
Thực quản 24
Hình 1.6: Hình ảnh giải phẫu đường hô hấp trên
Trạng thái người khỏe mạnh mang Hib thường được xác định bằng các
kỹ thuật nuôi cấy. Vì vậy, tất cả các bước thực hiện trong kỹ thuật xét nghiệm
dùng cho nghiên cứu điều tra vi sinh này cần phải đạt được độ chuẩn xác tối
đa. Những sai số có khả năng xảy ra trong quá trình xác định tỷ lệ Hib ký sinh
ở họng người khỏe mạnh, bao gồm: kỹ thuật ngoáy họng lấy bệnh phẩm (đây
là kỹ thuật khó duy trì ổn định), sự sống sót của vi khuẩn trong quá trình vận
chuyển bệnh phẩm cho đến khi nuôi cấy vào môi trường; và sự xuất hiện
nhiều vi khuẩn khác nhau có trong bệnh phẩm nhưng lại có sự tương đồng về
hình thái khuẩn lạc, nên có thể dẫn đến chọn khuẩn lạc nhầm. Sự khác biệt
của các phương pháp nuôi cấy được sử dụng trong phân lập Hib từ tăm bông
bệnh phẩm ngoáy họng là yếu tố chính dẫn đến những khó khăn và phức tạp
trong việc giải thích các số liệu từ các nghiên cứu khác nhau [28].
1.2.1.3. Dịch tễ học của trẻ khỏe mạnh mang Hib và một số yếu tố ảnh hưởng
Những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến dịch tễ học của Hib, đó là
yếu tố xã hội học (soccial) và nhân khẩu học (demographic). Khả năng mang
Hib ở trẻ nhỏ dường như có liên quan rất gần đến khả năng, mức độ phơi
nhiễm đối với vi khuẩn này [28].
H. influenzae là thành viên của hệ vi khuẩn bình thường ký sinh ở
khỏe mạnh mang vi khuẩn Hib.
- Ảnh hưởng của điều kiện sống lên tỷ lệ trẻ khỏe mạnh mang Hib
Điều kiện sống đông đúc như ở các căn hộ, trung tâm chăm sóc trẻ ban
ngày cũng góp phần làm cho tỷ lệ mang vi khuẩn Hib ở trẻ nhỏ có thể cao lên
một cách đáng kể. Mặc dù trên thực tế cho thấy tỷ lệ trẻ mang Hib thường ít
hơn 5%, nhưng tỷ lệ mang vi khuẩn Hib tại các trung tâm chăm sóc trẻ ban
ngày được báo cáo chiếm khoảng 15 - 25% [52], [69], [120]. Trong một gia
đình khi có một trường hợp bị nhiễm bệnh nhiễm trùng do Hib xảy ra, tỷ lệ
nhiễm vi khuẩn này đã được khảo sát là 60 - 70% giữa các anh em ruột và
20% ở các bậc cha mẹ [28], [69].