TRƯỜNG …………………
KHOA………………………
[\[\
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đề tài:
Hạch toán nghiệp vụ thanh
toán trong hoạt động kinh
doanh xuất nhập khẩu
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, cùng với các nước trong khu vực, Việt Nam
ngày càng cố gắng hoà nhập vào thị trường. Thế giới và hoạt động kinh doanh
xuất nhập khẩu đã đóng góp một vai trò không thể thiếu được, góp phần vào sự
phát triển này.
Xuất nhập khẩu là hoạt động mua bán với chức năng tổ chức lưu thông
hàng hoá giữa các nước và quốc tế, xuất nhập khẩu không phải là hành trình
mua bán hoá đơn lẻ mà cả hệ thống các quan hệ thương mại quốc tế có tổ chức.
Do đó phát sinh ra nhiều mối quan hệ phức tạp giữa bên nhập khẩu và bên xuất
khẩu, đòi hỏi giữa bên nhập khẩu và bên xuất khẩu phải có những htoả thuận
nhất định vè các phương tiện như: phương thức giao hàng, thời hạn giao hàng,
phương thức thanh toán, thời hạn thanh toán .
Một trong những vấn đề nổi bật nhất trong quan hệ giữa người nhập khẩu
và người xuất khẩu là hạch toán các nghiệp vụ thanh toán trong hoạt động kinh
doanh xuất nhập khẩu. Để giải quyết tốt vấn đề này và để nhằm ngày càng hoàn
thông qua các đòi hỏi hợp lý các chủ thể tham gia.
Đối tượng của hoạt động xuất nhập khẩu là những mặt hàng thuộc thế
mạnh của nền sản xuất trong nước như nguyên liệu, lâm sản, hải sản, khoáng
sản, hàng cơ chế, hàng gia công xuất khẩu
Đối tượng của hoạt động nhập khẩu chủ yếu là vật tư, máy móc, trang
thiết bị phục vụ sản xuất. Ngoài ra còn có hàng tiêu dùng thiết yếu phục vụ cho
nhu cầu trong nước.
Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu hành hoá có những đặc điểm sau:
+ Quá trình lưu chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu trải qua hai giai đoạn
mua và hai giai đoạn bán hàng: giai đoạn mua và bán hàng xuất khẩu, giai đoạn
mua và bán hàng nhập khẩu. Vì vậy, thời gian giao lưu chuyển hàng hoá dài hơn
thời gian lưu chuyển hàng hoá nội thương.
+ Hàng hoá xuất nhập khẩu có thể tiến hành theo phương trực tiếp hoặc
uỷ thác. Xuất nhập khẩu thực tiếp là phương thức mà trong đó các đơn vị xuất
khẩu trực tiếp giao dịch đàm phán, ký kết hợp đồng xuất nhập khẩu hàng hoá.
(hoặc giấy phép nhập khẩu ) hàng hoá tiến hành uỷ thác cho các đơn vị khác có
chức năng xuất, nhập khẩu tiến hành xuất, nhập khẩu hộ hàng hoá của mình và
phải trả cho các đơn vị này một khoản tiền thù lao gọi là hoa hồng uỷ thác.
+ Việc giao, nhận hàng và thanh toán tiền hàng xuất nhập khẩu phụ thuộc
vào những điều khoản ký kết trong hợp đồng và phù hợp với các điều kiện thanh
toán quốc tế trong ngoại thương (như điều kiện về tiền tệ, điều kiện về địa điểm,
điều kiện về thời gian và điều kiện về phương thức thanh toán).
+ Việc giao nhận hàng hoá giữa người nhập khẩu và người xuất khẩu có
thể tiến hành trực tiếp hoặc thông qua một đơn vị trung gian (đơn vị vận tải) và
theo địa điểm quy định trong hợp đồng. Trường hợp xuất, nhập khẩu theo điều
kiện FOB, CIF thì quá trình giao nhận hàng được coi là hoàn tất khi bên mua
nhận được bằng chứng của việc giao hàng, đó là chứng từ vận tải.
2. Vai trò của hoạt động kinh doanh xuất khẩu đối với sự phát triển
kinh tế :
a. Hoạt động kinh doanh xuất khẩu tạo nguồn vốn để phuch vụ công
c. Xuất, nhập khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế
đối ngoại của nước ta:
Chúng ta thấy rõ xuất, nhập khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác
động qua lại phụ thuộc lẫn nhau. Xuất, nhập khẩu là một trong những hoạt động
của kinh tế đối ngoại. Có thể nói hoạt động xuất, nhập khẩu có sớm hơn các hoạt
động các hoạt động kinh tế đối ngoại khác, tạo điều kiện thúc đẩy các quan hệ
này phát triển. Chẳng hạn như: Xuất nhập khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng, đầu
tư, mở rộng vận tải quốc tế Mặt khác chính các quan hệ kinh tế đối ngoại trên
lại tạo điều kiện , tiền đề cho việc mở rộng xuất nhập khẩu.
d. Xuất, nhập khẩu có tác động tích cực đến giải quyết công ăn việc làm
và cải thiện đời sống nhân dân:
- Tác động của xuất, nhập khẩu đến đời sống bao gồm rất nhiều mặt.
Trước hết hoạt động xuất nhập khẩu là nơi thu hút hàng triệu lao động vào làm
việc và có thu nhập không thấp.
- Xuất nhập khẩu phục vụ và đáp ứng ngày một phong phú nhu cầu tiêu
dùng của nhân dân.
II. HỢP ĐỒNG MUA BÁN NGOẠI THƯƠNG:
1. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng mua bán ngoại thương (hợp
đồng nhập khẩu):
a. Khái niệm: Hợp đồng xuất nhập khẩu về bản chất là hợp đồng mua
bán quốc tế, là sự thoả thuận giữa các bên mua bán ở các nước khác nhau. Trong
đó quy định bên bán phải cung cấp hàng hoá, chuyển giao những chứng từ liên
quan đến hàng hoá, bên mua phải có nghĩa vụ thanh toán tioền hàng và nhận
hàng.
b. Đặc điểm:
So với hợp đồng mua bán trong nước, hợp đồng xuất nhập khẩu có ba đặc
điểm sau:
- Đặc điểm thứ nhất: Chủ thể của hợp đồng - người mua, người bán - có
cơ sở kinh doanh đăng ký tại hai quốc gia khác nhau.
- Đặc điểm thứ hai: Đồng tiền thanh toán có thể là một ngoại tệ nào đó mà
3. Nội dung các điều khoản của một hợp đồng mua bán ngoại thương:
3.1. Nhóm điều khoản về hàng hoá:
a. Điều kiện tên hàng: (Commodiffy)
Điều khoản này phải xác định được tên gọi của hàng hoá cần mua bán
một cách chính xác và ngắn gọn. Để làm được điều này người ta thường dùng
các biện pháp sau:
- Ghi tên hàng bao gồm têh thông thường, tên thương mại, tên khoa học.
- Ghi tên kèm theo tên địa phương sản xuất ra nó
- Ghi tên hàng kèm với tên của nhà sản xuất ra nó
- Ghi tên hàng kèm với công dụng của nó.
b. Điều kiện về chất lượng hàng hoá: (Quality)
“Phẩm chất ” là điều khoản nói lên mặt “Chất” của hàng hoá mua bán quy
định tính năng, quy cách, kích thước, tác dụng, công suất, hiệu suất của hàng
hoá đó.
Có nhiều phương pháp để xác định chất lượng hàng hoá, dưới đây là một
số phương pháp chủ yếu:
- Xác định phẩm chất dựa vào mẫu hàng.
- Xác định phẩm chất dựa vào tiêu chuẩn
- Xác định phẩm chất dựa vào nhãn hiệu hàng hoá
- Xác định phẩm chất dựa vào hàm lượng của một chất nào đó trong sản
phẩm
- Xác định phẩm chất dựa vào chỉ tiêu đại khái quen dùng như:
+ FAQ: Phẩm chất trung bình khá
+ GMQ: Phẩm chất tiêu thụ tốt
c. Điều khoản về bao bì và ký hiệu mã hiệu:
Trong điều khoản này các bên giao dịch thường thoả thuận với nhau về
+ Yêu cầu chất lượng bao bì
+ Phương thức cung cấp bao bì
+ Giá cả bao bì
3.2 Nhóm điều kiện về vận tải và giao hàng :
Trong điều kiện vận tải của hợp đồng, người ta thường nêu lên những vấn
đề sau:
- Quy định về con tàu chuyên chở.
- Xác định cảng bốc hàng, dở hàng, địa điểm giao hàng, địa điểm chuyển
tải.
- Phana chia các chi phí bốc hàng.
- Lựa chọn mẫu hợp đồng thuê tàu, mẫu vận đơn.
d. Điều kiện bảo hiểm:
Trong buôn quốc tế rủi ro có thể xảy ra với những hàng hoá, để an toàn
các bên thường quan tâm đến vấn đề bảo hiểm và chú trọng những nội dung sau:
- Mua bảo hiểm tại công ty nào?
- Mua bảo hiểm bằng đồng tiền nào?
- Mua bảo hiểm cho giá trị hàng hoá với giá trị bao nhiêu?
- Mua bảo hiểm trong thời gian nào?
- Mua bảo hiểm từ địa điểm nào đến địa điểm nào?
3.3. Nhóm điều kiện về tài chính:
a. Điều kiện giá cả:
Điều kiện giá cả là một điều kiện quan trọng trong giao dịch mua bán
quốc tế.
+ Đồng tiền tính giá: là đồng tiền của nước ngoài xuất khẩu hoặc của
nước ngoài nhập khẩu hoặc của nước thứ ba. Tuy nhiên vấn đè quan trọng hơn
cả vẫn là thị trường thuộc về ai và người đó muốn đồng tiền nào để tính giá.
+ Mức giá trong các hợp đồng ngoại thương là giá quốc tế.
+ Trong buôn bán quốc tế người ta thương lượng quy định giá theo các
loại: giá cố định. Giá linh hoạt và giá di động.
Ngoài ra, trong việc xác định giá cả, người ta luôn định rõ điều kiện cơ sở
giao hàng có liên quan với giá đó.
b. Điều kiện thanh toán:
- Điều kiện đảm bảo hối đoái.
Để tránh tổn thất xảy ra cho các đồng tiền trên Thế giới tăng giá hoặc
này không đảm bảo quyền lợi cho người xuất khẩu, dễ bị người nhập khẩu
chiếm dụng vốn, phương thức này chỉ được áp dụng trong các trường hợp sau:
+ Mua bán với số lượng không lớn.
+ Dùng để thanh toán các chi phí ngoại thương: trả tiền vận tải, bảo hiểm,
tiền hoa hồng
2. Phương thức ghi sổ:
Phương thức ghi sổ được thể hiện bằng cách người xuất khẩu mở một tài
khoản trên đó ghi các khoản tiền mà người nhập khẩu nợ tiền mua hàng và các
chi phí khác liên quan đến việc mua hàng. Người nhập khẩu định kỳ thanh toán
nợ hình thành trên tài khoản cho người xuất khẩu. Thường là người nhập khẩu
cũng mở tài khoản ghi, nó chỉ có giá trị theo dõi chứ không có giá trị thanh toán
hai bên.
3. Phương thức nhờ thu:
Là phương thức thanh toán trong đó tổ chức xuất khẩu sau khi đã giao
hàng sẽ ký hối phiếu đòi tiền người mua, nhờ ngân hàng thu hộ số tiền ghi trên
hối phiếu đó.
- Nhờ thu phiếu trơn: là phương thức thanh toán trong đó người xuất khẩu
uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người nhập khẩu, cùng với việc gửi hàng
cho người nhập khẩu, người xuất khẩu gửi thẳng chứng từ hàng hoá vho người
nhập khẩu thông qua ngân hàng để đi nhận hàng.
- Nhờ thu kèm chứng từ: là người bán uỷ thác cho ngân hàng thu hộ số
tiền ở người mua không những căn cứ vào hối phiếu mà còn căn cứ vào bộ
chứng từ gửi ngân hàng kèm theo với những điều kiện: người mua trả tiền hoặc
chấp nhận trả tiền hối phiếu thì ngân hàng mới trao bộ chứng từ gửi hàng cho
người mua để nhận hàng.
4. Phương thức tín dụng chứng từ:
L/C phải được bên nhập khẩu mở tại ngân hàng đại diện trước khi nhiệm
vụ kinh doanh xuất nhập khẩu được tiến hành. Giá trị tiền mở L/C được xem
như là một khoản thế chấp để cho nhiệm vụ kinh doanh xuất nhập khẩu có thể
diễn ra. Phương thức này được áp dụng cho những đối tác thương mại mà quan
tổng giá thanh toán. Còn đối với hàng hoá không thuộc đối tượng nộp thuế
GTGT hoặc nộp thuế theo phương pháp trực tiếp thì kế toán cũng lập hoá đơn
bán hàng nhưng trên hoá đơn ghi giá có thuế đồng thời lập phiếu xuất kho.
Nếu hàng hoá thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu
trừ thuế thì kế toán ghi sổ doanh thu bán hàng là doanh thu chưa có thuế GTGT:
Nợ TK 111,112,131 : Tổng giá thanh toán
Có TK 3331 : Thuế GTGT phải nộp
Có TK 511 : Doanh thu bán hàng (giá chưa thuế GTGT)
Nếu hàng hoá không thuộc đối tượng nộp thuế GTGT hoặc nộp thuế
GTGT theo phương pháp trực tiếp, kế toán ghi:
Nợ TK 111,112 : Tổng giá thanh toán
Có TK 511 : Doanh thu bán hàng
2. Hạch toán thanh toán với người mua nước ngoài:
Khi hàng xuất khẩu được xác định là tiêu thụ doanh nghiệp lập "Hoá đơn
GTGT" với mức thuế 10% gởi đến cho người mua và làm cơ sở ghi sổ doanh
thu, kế toán phản ánh doanh thu và giá vốn.
+ Phản ánh doanh thu theo giá thực tế:
Nợ TK 111 (1112), 112 (1122) : Tỷ giá thực tế
Nợ TK 131 : phải thu khách hàng: tỷ giá thực tế
Có TK 811 : Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Nếu thu tiền bằng ngoại tệ kế toán ghi nợ TK 007: ngoại tệ các loại.
+ Phản ánh giá mua của hàng xuất khẩu:
Nợ TK 632 : Giá vốn hàng bán
Có TK 157 : hàng gởi đi bán
Có TK 156 (1561) : giá mua hàng hoá.
* Nếu doanh nghiệp không sử dụng tỷ giá hạch toán:
Nợ TK 151: Tỷ giá thực tế
Có TK 331: Tỷ giá thực tế
Có TK 333: Tỷ giá thực tế
Khi dùng tiền gửi ngân hàng hoặc tiền mặt bằng ngoại tệ để thanh toán
(2) Hàng về được tính là nhập
khẩu, chấp nhận thanh toán
TK 144
Đ
ã ký qu
ỹTK 3333
Thu
ế
XNK
TK 007
III. HẠCH TOÁN THANH TOÁN VỚI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC:
Trong quá trình kinh doanh các doanh nghiệp xuất nhập khẩu phải thực
hiện nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước dưới hình thức nộp thuế, nộp các khoản
SD: Số thuế, phí, lệ phí và các khoản
còn phải nộp NSNN.
Tài khoản này có thể có số dư bên nợ, phản ánh số thuế, phí, lệ phí đã nộp
lớn hơn số phải nộp, hoặc là số thuế thoái thu, sóo được trợ cấp, trợ giá nhưng
chưa được thực hiện.
1. Hạch toán thuế GTGT:
Căn cứ vào hoá đơn GTGT về số sản phẩm hàng hoá dịch vụ (gồm doanh
thu bán hàng và phụ thu) kế toán phản ánh doanh thu bán hàng chưa có thuế
GTGT ở TK 511, số tiền thuế GTGT đầu ra ở TK 3331.
Nợ TK 111,112,131 : Tổng giá thanh toán
Có TK 511 : Doanh thu bán hàng
Có TK 3331 : Thuế và các khoản phải nộp
Trình tự hạch toán các nghiệp vụ chủ yếu liên quan đến thuế GTGT thể
hiện trên sơ đồ: TK 111
TK 136,138
TK 511,515
Thuế GTGT hàng xuất
nhập khẩu, hàng sử dụng
n
ộ
i b
ộThuế GTGT hàng dùng để
trả lương
Thuế GTGT của hàng bán
nội bộ khoản thu khác
2. Thuế xuất nhập khẩu:
Khi xuất khẩu hàng hoá, kế toán phản ánh doanh thu bán hàng bao gồm cả
thuế xuất khẩu. Thuế xuất khẩu có thể tính và nộp bằng ngoại tệ hoặc bằng đồng
Việt Nam.
Trong trường hợp tính và nộp bằng ngoại tệ cần xác định khoản chênh
lệch tỷ giá ngoại tệ để ghi vào TK 413.
Nợ TK 131,111,112
Nợ (hoặc Có) TK 413 : Chênh lệch tỷ giá
Có TK 511 : Doanh thu bán hàng
Khi xác định số tiền thuế xuất khẩu phải nộp, kế toán ghi:
Nợ TK 511 : Doanh thu bán hàng
Có TK 3333 : Thuế xuất nhập khẩu
Khi dùng ngoại tệ để nộp thuế xuất nhập khẩu kế toán xác định khoản
Nếu doanh nghiệp chưa thực xuất khẩu hoặc chưa xuất khẩu hết số sản
phẩm tương ứng thì doanh nghiệp phải nộp thuế nhập khẩu về số nguyên liệu
tương ứng với số sản phẩm chưa xuất khẩu. Khi có sản phẩm thực xuất khẩu thì
doanh nghiệp sẽ được hoàn thuế nhập khẩu đã nộp của số nguyên vật liệu nhập
khẩu tương ứng, kế toán ghi:
Nợ TK 111,112 (nếu hoàn lại bằng tiền)
Nợ TK 3333 (Nếu được trừ vào thuế nhập khẩu phải nộp kỳ sau)
Có TK 632 : Giá vốn hàng bán
Có TK 711 : Thu nhập bất thường
Trong trường hợp hàng tạm nhập khẩu để tái xuất khẩu theo phương thức
kinh doanh hàng tạm nhập tái xuất. Khi nhập khẩu kế toán phản ánh số thuế
nhập khẩu phải nộp như sau:
Nợ TK 151, 156
Có TK 3333: Thuế xuất nhập khẩu
Khi được hoàn thuế nhập khẩu thì kế toán ghi:
Nợ TK 111,112: hoàn lại bằng tiền
Nợ TK 3333: Trừ vào thuế phải nộp kỳ sau
Có TK 632 : Chưa kết chuyển giá vốn
Có TK 7212: đã kết chuyển giá vốn
Trong trường hợp hàng tạm xuất khẩu đưa ra nước ngoài gia công và tái
nhập khẩu sản phẩm, hàng hoá gia công hoàn thành được hoàn thuế nhập khẩu.
- Khi xuất nguyên liệu hàng hoá đưa đi gia công, kế toán ghi:
Nợ TK 154 : Chi phí SXKD dở dang
Có TK 152 : Nguyên liệu, vật liệu
Có TK 156: hàng hoá
+ Khi phản ánh số thuế xuất khẩu phải nộp của hàng tạm xuất tái nhập, kế
toán ghi:
Nợ TK 154 : Chi phí SXKD dở dang
Có TK 3333: thuế xuất nhập khẩu
+ Khi nhập khẩu lại số sản phẩm, hàng hoá gia công hoàn thành được
Có TK 3333 : thuế xuất nhập khẩu
+ Trong trường hợp đối tượng nộp thuế nhầm lẫn trong kê khai thiếu hàng
xuất khẩu hoặc thuế nhập khẩu thì phải truy thu tiền trong thời hạn một năm kể
từ ngày kiểm tra phát hiện có sự nhầm lẫn, kế toán ghi:
Nợ TK 511 (trong niên độ có hàng xuất khẩu được bán)
Nợ TK 811 (trong niên độ không có hàng xuất khẩu được bán)
Có TK 3333 : thuế xuất nhập khẩu
Khi dùng tiền nộp thuế do truy thu được, kế toán ghi:
Nợ TK 3333 : Thuế xuất nhập khẩu
Có TK 111,112
+ Trường hợp được miễn giảm thuế nhập khẩu theo chế độ quy định, nếu
doanh nghiệp sử dụng khác với mục đích đã được miễn giảm thì phải truy thu đủ
số thuế đã được miễn giảm, kế toán ghi:
Nợ TK 152,153,156,211
Có TK 3333 :Thuế xuất nhập khẩu
3. Hạch toán thuế tiêu thụ đặc biệt của hàng xuất nhập khẩu:
- Khi bán hàng hoá, dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Phản
ánh doanh thu tiêu thụ.
Nợ TK 111,112,131
Có TK 511,512
- Phản ánh số thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp.
Nợ TK 511,512
Có TK 333 (3332)
- Khi nhập khẩu hàng hoá thuộc đối tượng chịu thuế TTĐB, căn cứ vào
hoá đơn mua hàng nhập khẩu và thông báo nộp thuế, phản ánh số thuế phải nộp.
Nợ TK 151,152,156
Có TK 333 (3332)
- Khi nộp thuế tiêu thụ đặc biệt cho ngân sách
Nợ TK 333 (3332) : Số thuế TTĐB đã nộp
Có TK 111,112,131
nghiệp vụ cao cũng như phải am hiểu những thông lệ, luật quốc gia, luật quốc
tế
Như chúng ta đã biết hiện nay đa số các công ty có hoạt động kinh doanh
xuất nhập khẩu đều thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ. Do đó để
hoàn thiện hơn công tác thanh toán trong kinh doanh xuất nhập khẩu
Nhằm không tạo ra những sơ hở để đối phương nắm bắt, gây khó khăn
cho doanh nghiệp thì doanh nghiệp cần phải hoàn thiện các công tác sau:
* Công tác mở L/C:
Việc mở L/C đúng hạn sẽ tăng thực hiện hợp đồng của cả hai bên. Thật
vậy, trong hợp đồng thường không quy định điều này nhưng mở L/C là quyền và
nghĩa vụ của doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu, nếu thực hiện đúng lúc
sẽ giúp doanh nghiệp tránh được những trường hợp bên đối tác không mi\uốn
nhận hàng sớm, nên kéo dài thời hạn mở L/C. Việc xay ra do nhiều lý do như:
Do dự báo về hàng hoá của bên nhập khẩu trong năm không chính xác, do các
điều kiện về thời tiết, khí hậu hoặc do hàng trong kho chưa xuất đi không có chỗ
cho hàng nhập về vì những cân nhắc này nên khách hàng lưỡng lự trong việc
mở L/C. Một yêu cầu đúng lúc sẽ giúp khách hàng quyết định rõ ràng hơn, nhắc
nhở khách hàng thực hiện hợp đồng với doanh nghiệp. Hơn nữa trong hợp đồng
thường không qui định ngày mở L/C cũng như một số điều kiện ràng buộc trách
nhiệm của khách hàng đối với doanh nghiệp.
Doanh nghiệp có thể dùng các ừơng tiện liên lạc như: Điện thoại, điện tín,
Fax hay các phương tiện liên lạc nhanh chóng khác để đôn đốc khách hàng mở
L/C.
* Công tác kiểm tra thư tín tín dụng và tu chỉnh thư tín dụng:
-Kiểm tra thư tín dụng:
Như chúng ta đã biết tiến trình thanh toán L/C luôn đi theo một quy trình
và một nguyên tắc nhất định, thủ tục thanht oán thì phức tạp và cứng nhắc, đôi
khi máy móc một cách tiêu cực gây khó khăn cho tiến trình thanh toán. Vì vậy
tất cả mọi chứng từ liên quan đến L/C đều được yêu cầu chính xác một cách
tuyệt đối từng chữ, từng từ một và nếu có sự khác biệt nào dù nhiều hay ít nhiều
không ghi rõ thuộc loại nào thì coi như là không huỷ ngang.
+ Kiểm tra ngân hàng mở L/C: là ngân hàng đảm bảo cho việc trả tiền cho
doanh nghiệp. Do đó cần kiểm tra tính chân thực và thực hiện của ngân hàng mở
là việc cần thiết.
+ Kiểm tra ngày phát hành L/C: ngày phát hàng thư tín dụng cũng là ngày
bắt đầu tính thời hạn hiệu lực của L/C. Doanh nghiệp xem xét để có kế hoạch
giao hàng cũng như thủ tục thanh toán trong thời hạn hiệu lực của L/C.
+ Kiểm tra ngày và địa điểm hết hiệu lực của L/C: đây là điểm đáng quan
tâm trong khi kiểm tra L/C vì tại nơi đó, thời điểm đó doanh nghiệp sẽ không
nhận được sự thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ. Doanh nghiệp
phải dựa vào khả năng của mình và tính chất của từng thương vụ để quyết định
ngày này sao cho hợp lý.
- Tu chỉnh thư tín dụng:
Tu chỉnh khâu tín dụng là khâu công việc chỉ xuất hiện khi nội dung của
thư tín dụng không thoả mãn yêu cầu của một trong hai bên đối tác. Thông
thường bên nhập khẩu ít khi đề nghị ngân hàng tu chỉnh L/C. Phần lớn việc đề
nghị tu chỉnh là từ bên xuất khẩu. Trên thực tế thư tín dụng thường qua ít nhất
một lần sửa đổi. Khi tiến hành tu chỉnh tín dụng, công ty cần nắm rõ các nguyên
tắc sau:
+ Người bán và người mua muốn tu chỉnh L/C phải thông báo cho phía
đối tác biết ý định, nội dung các quy định cần tu chỉnh và L/C chỉ được tu chỉnh
khi bên kia đồng ý và yêu cầu ngân hàng mở L/C sửa đổi.
+ Sự tu chỉnh phải thông qua ngân hàng và được xác nhận cuối cùng của
ngân hàng mở. Nếu không việc tu chỉnh không có giá trị hợp pháp.
+ Sửa đổi L/C phải được thực hiện trong thời hạn hiệu lực của nó.
+ Các nội dung liên quan đến nội dung tu chỉnh thì phải thực hiện bằng
văn bản.
+ Sau khi thực hiện thông báo tu chỉnh L/C thì nội dung tu chỉnh L/C trở
thành một bộ phận của L/C, có giá trị pháp lý đầy đủ và có nội dung cũ liên
quan hoặc ý nghĩa chống lại nó.
hoàn thiện hơn.