Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx - Phần Mười: Triết học duy vật Pháp thế kỷ XVIII - Pdf 19

Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx

Phần Mười: Triết học duy vật Pháp
thế kỷ XVIII
I - BỐI CẢNH LỊCH SỬ:

Tình hình đấu tranh giai cấp ở Pháp thế kỷ XVIII:
Đối tượng cách mạng là chế độ phong kiến quý tộc.
Phong trào tiến bộ thì bao gồm những thành phần phức tạp.

Trên có tư sản quý tộc hóa và đại tư sản. Tư sản quý tộc là những nghị sĩ do mua
chức tước mà được quyền vị. Nghị viện Pháp lúc đó là toà [01] án thượng cấp có
ít nhiều quyền chính trị. Đại tư sản là bọn thầu thuế với nhả vua để kiếm lãi, ngân
hàng và bọn kinh doanh lớn.

Đại biểu cho tư sản quý tộc hóa là Montesquieu [02].
Đại biểu cho đại tư bản là Voltaire [03].

Những người này có tính chất tiến bộ, nhưng họ cũng đã có nhiều đặc quyền về
chính trị và kinh tế, liên quan với chế độ quân chủ.
Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx Sau đến là tư sản thường tức là tư sản công thương, đại biểu là những nhà duy vật
chủ nghĩa: Lamettrie [04], Helvétius [05], Diderot [06], Holbach [07]. Holbach là
một người Đức sang Pháp rồi Pháp hóa, đã mang cho tư tưởng Pháp một tính chất
khoa học của tư tưởng Đức, tuy có phần nặng nề nhưng có hệ thống và chính xác.

Dưới tư sản là đại bộ phận tiểu tư sản, đối lập với chế độ phong kiến, nhưng thực
tế không có điều kiện để nắm chính quyền, trong khi đó lại bị phương thức sản
xuất tư sản đe dọa, đi đến phá sản. Tiểu tư sản đối lập với chiều đi lên của lịch sử.

Trả lời là do tự nhiên, do đất mà ra. Vì lẽ đó mà gọi là “tự nhiên chủ”. Cái lãi đó
có tính chất tư sản, vì cũng chính là thặng dư giá trị. Nó tư sản ở chỗ có tính toán.
Nó tiến bộ vì nó có tổ chức sản xuất, nâng cao năng suất trong nông nghiệp.
Nhưng nó phong kiến hơn ở chỗ nó nhận định rằng lãi đó là do ở đất mà ra.

Với ta, thì món lãi đó là do sức lao động làm nên. Nhưng với bọn tư sản thì không
cho như thế. Theo chúng, lãi đó là do ở lao động trí óc, do tính toán giỏi mà có.
Đó cũng là chỗ khác với tư sản phong kiến hóa.

Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx

Phái “tự nhiên chủ” thì chủ trương rằng lãi đó là do đất mà ra, nên đối với họ các
nghề công thương căn bản là không có lời, do đó họ chủ trương rằng Nhà nước
không có quyền đánh thuế công thương. Chỉ có quyền đánh thuế ruộng đất mà
thôi. Ý nghĩa của chủ trương đó là: đánh thuế ruộng đất thì bọn địa chủ quý tộc
thiệt, vì chúng không có tổ chức sản xuất, nên năng suất kém. Do đó, không đủ
tiền đóng thuế thì phải bán ruộng đất cho hạng tư sản địa chủ hóa. Trái lại, bọn địa
chủ tư sản nhờ có tổ chức sản xuất để tăng năng suất được thì dù có phải đóng
thuế cũng không can gì. Mặt khác, công thương không phải đóng thuế thì tư sản
lại càng dễ dàng phát triển mạnh.

Chủ nghĩa kinh tế học về “tự nhiên chủ” là thuyết đầu tiên có tính chất tư bản chủ
nghĩa hẳn hoi, vì trước kinh tế học mới có tính chất thương nghiệp chủ nghĩa.
Tầng lớp tư sản địa chủ hóa có tính chất tiến bộ, vì nó có tác dụng chống lại quí
tộc. Nhưng về mặt chính trị, nó cũng chưa đặt vấn đề đánh đổ nhà vua, vì nó còn
cần mua ruộng đất. Thực tế, nó mới chỉ muốn cải tiến phần nào chế độ quân chủ
bằng cách chỉ đánh đổ bọn quý tộc cũ: mục đích đấu tranh của tầng lớp này được
thể hiện và phát triển trong phạm vi tư tưởng, đại biểu là Montesquieu và Voltaire.
Montesquieu đứng trên lập trường một nhà luật học, tức là một nghị sĩ để đấu
tranh. Voltaire thì đại biểu cho bọn tư sản, đứng về phương diện văn học, triết học

duy vật, chuyển sang duy tâm, thậm chí lại có hướng phần nào dựa vào phong
kiến. Quá trình Cách mạng Pháp từ 1789-1802 (khi Nã - phá - Luân [14] lên cầm
quyền) đã chứng minh điều đó: đối với cách mạng tư sản Pháp nói chung do giai
Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx

cấp tư sản Pháp lãnh đạo, nhưng lúc gay go nhất, lúc thử thách quyết định (đánh
đổ nhà vua chẳng hạn) thì tư sản không lãnh đạo được mà phải có bộ phận tiểu tư
sản, gần quần chúng hơn, huy động quần chúng mới đánh đổ được chế độ quân
chủ.

Tính chất không triệt để của cách mạng tư sản Pháp đã thể hiện trong triết học thế
kỷ XVIII như thế nào?

- Một mặt, vũ trụ quan của triết học là duy vật nhưng máy móc;

- Mặt khác, nhân sinh quan (tư tưởng đạo đức, chính trị, xã hội) có phần máy móc,
lại có phần duy tâm.

A - Vũ trụ quan của các nhà duy vật Pháp.

l - Về vũ trụ quan, các nhà duy vật Pháp có quan niệm duy vật. Đó là quan niệm
vật chất của Descartes, nhưng có cải tiến nhờ những phát minh khoa học ở thế kỷ
XVIII, do đấy vật chất không thể định nghĩa đơn thuần bằng tính căng dãn và vận
động trong căng dãn, mà bằng bản chất của nó là nguyên tử và phân tử. Cái mà
Descartes gọi là thể chất tinh thần hay linh hồn, thì cái ấy trong vũ trụ quan duy
vật máy móc được quan niệm là do một cấu tạo đặc biệt của vật chất gây ra. Tư
tưởng của ta có thể so với một bài nhạc do một cây đàn tự nhiên gẩy. Sự gẩy này
Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx

là do ảnh hưởng của những vật xung quanh đàn tác động làm đàn gẩy (sự vật

XVIII lại càng chuyển sang duy tâm. Ví dụ:

- Tư tưởng người ta ở đâu mà ra?

- Vì sao mà người ta xấu hay tốt?

Trên lập trường duy vật máy móc, các nhà duy vật Pháp cho là do ảnh hưởng
khách quan, do điều kiện xã hội, do sự giáo dục mà ra. Đó là vì họ quan niệm ảnh
hưởng một cách máy móc, thành ra không nắm được cái cơ sở và cái thực chất của
cái ảnh hưởng ấy. Họ có mộng ảo nếu thay đổi phương pháp giáo dục người ta sẽ
tốt, cho nên muốn làm cách mạng chỉ cần đấu tranh tư tưởng và giáo dục tư tưởng
thì thay đổi con người. Thay đổi được con người thì thay đổi được xã hội. Mác đã
phê bình những nhà duy vật Pháp: Nói người ta là do ảnh hưởng của giáo dục,
nhưng vấn đề là ai giáo dục những nhà giáo dục? Đặt vấn đề như vậy, vì thực ra
chính những nhà giáo dục ấy đã được chế độ ấy giáo dục. Các nhà triết học Pháp
không nắm được điểm này, vì tư tưởng của họ xuất phát từ quyền lợi của giai cấp
tư sản. Họ có thể thay đổi được sự cần thiết thay đổi phương pháp giáo dục, nhưng
không thể thay đổi được cơ sở của phương pháp giáo dục.

Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx

2) Cũng do quan điểm duy tâm trên mà các nhà tư tưởng Pháp đã phê bình các nhà
tư tưởng phong kiến một cách máy móc, cho cái gì của phong kiến cũng là tuyệt
đối xấu: tôn giáo là hoàn toàn mê tín, do ở tình trạng ngu dốt mê muội của nhân
dân và thủ đoạn lừa dối của bọn thống trị mà ra. Họ duy tâm vì họ không thấy cơ
sở của tôn giáo của xã hội phong kiến nó có một khách quan nào đấy xây dựng.
Đó là do quyền lợi giai cấp trong xã hội mà nó phải bảo vệ. Cho nên cũng có
những người rất thành thực đã hy sinh cho tôn giáo. Những nhà duy vật Pháp
không hiểu như thế mà cho là tính điên của con người.


Về tư tưởng, có 3 hướng:

l) Hướng tự nhiên thần luận có tính chất tư sản (Montesquieu, Voltaire);

2) Hướng vô thần (duy vật máy móc) của tư sản;

3) Hướng bình quân chủ nghĩa đi đến xã hội chủ nghĩa không tưởng của tiểu tư
sản, Rousseau, Mably, Morelly. Hướng này, về mặt vũ trụ quan thì trở lại tự nhiên
thần luận, nhưng về nhân sinh quan và cả chủ trương về xã hội, nó đối lập với
Voltaire. Chủ trương của Rousseau là chủ trương của những người tiểu nông, tiểu
công phát triển đều đều, tự túc, không bóc lột ai. Hướng này chống sự bóc lột,
Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx

nhưng chỉ đi đến lý tưởng bình quân, chưa phải là xã hội không tưởng. Nó chủ
trương sản xuất cá thể, cho nên nó được phản ánh trong vũ trụ quan tự nhiên thần
luận. Vì sao lại thế: vì ai phối hợp những sản xuất cá thể? Trên cơ sở tiểu tư sản,
không có một cái căn bản nào để phối hợp các cá thể ấy, cho nên phải quan niệm
một ông Thượng đế. Nhưng đứng về mặt đấu tranh giai cấp trong toàn bộ xã hội,
thì chính tầng lớp tiểu tư sản giữ vai trò quyết định vì nó là một lực lượng quan
trọng chống phong kiến, chống những tư tưởng có phần lạc hậu, mơ mộng trở lại
quá khứ, lý tưởng hóa dĩ vãng.

Rousseau thì còn là bình quân. Nhưng đến Mably và Morelly thì đã có hướng xã
hội chủ nghĩa không tưởng. Đó là nguồn gốc của chủ nghĩa xã hội không tưởng
sau này. GHI CHÚ

l) Thế nào là quy luật noã lực (inertie)?: là quy luật nói vật nào vận động cứ vận

thần linh hóa, nhưng với hướng quý tộc hóa của nó, nó lại công nhận ông thần
Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx

quan niệm theo lý tính do suy diễn lý luận mà có, phủ nhận giáo hội, lấy triết gia
thay cho tăng lữ.

- Cổ điển: theo sách giáo khoa Pháp, duy tâm trước Kant [15] là Cổ điển. Nhưng
đối với chúng ta, tất cả cái duy tâm, trước Mác đều là Cổ điển.

Duy tâm Cổ đại và Cận đại:

Cổ đại trình bày duy tâm một cách khách quan, ý niệm của Platon hay hình thức
của Aristote có vẻ khách quan.

Cận đại cũng có khách quan và chủ quan, nhưng đặc điểm là nó đặt trọng tâm vào
vấn đề ý thức (Descartes: Je pense donc je suis, Berkeley: tôi tri giác). Sách tư sản
cho rằng sở dĩ ý thức được đề cao ở thời cận đại là vì ảnh hưởng Gia tô (cứu thế
linh hồn). Thực tế là do phương thức sản xuất tư sản tất yếu đề cao cá tính, đề cao
chủ quan một cách tuyệt đối (ngày nay cũng cần đề cao nhưng bằng cách khác).

- Tự nhiên thần luận của Rousseau hướng về cảm tính và Voltaire hướng về lý
tính.

Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx

- Nhân văn và lý tính thống nhất, vì Raison đề cao lý tính là đề cao con người (có
khi Rousseau đề cao cả cảm tính).

Lý tính ở đây không siêu nhiên như đối với thế kỷ 17, nhưng ở đây kết hợp chặt
chẽ kinh nghiệm (tuy quan niệm kinh nghiệm còn hẹp) với lý luận. Nó dùng lý

Thượng đế sắp xếp, khác Thượng đế phong kiến nhưng là Thượng đế linh báo cho
mỗi người cái phải làm. Lương tâm là bản năng thần thánh (Oh ! conscience,
instinct divin) [17]. Tư sản không thể quan niệm một Thượng đế ở trên ra lệnh - cá
nhân chủ nghĩa -, chỉ nhận cái lương tâm do Thượng đế linh báo trong mỗi con
người.
Trần Đức Thảo
(Lịch sử Tư tưởng trước Marx, tr. 374-385)
Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx

[01] In nhầm là “toàn án”. Đã sửa lại trong bài.
[02] Charles-Louis de Secondat, baron de la Brède et de Montesquieu (1689-
1755), nhà chính trị, nhà văn, triết gia Pháp. Tác phẩm chính: Lettres Persanes
(1721), L’Esprit des Lois (1748).
[03] Voltaire (François Marie Arouet, 1694-1778), nhà văn và triết gia biểu trưng
cho thế kỷ Ánh Sáng ở Pháp. Tác phẩm chính: Candide (1759), Lettres
philosophiques hay Lettres Anglaises (1734), Essai sur les mœurs et l'esprit des
nations (1756), Dictionnaire philosophique (1764)
[04] Julien Offroy de La Mettrie (1709-1751), y sĩ và triết gia Pháp. Tác phẩm
chính: L’Homme machine (1748).
[05] Claude Adrien Helvétius (1715-1771), triết gia Pháp. Tác phẩm chính: De
l’Esprit (1758), De l’Homme, de ses facultés intellectuelles et de son éducation
(1772).
[06] Denis Diderot (1713-1784), nhà văn và triết gia biểu trưng cho thế kỷ Ánh
Sáng ở Pháp. Xuất bản chung với Jean Le Rond d’Alembert Encyclopédie hay

Tác phẩm chính: Critique de la raison pure (1781, 1787), Prolégomènes à toute
métaphysique future qui voudra se présenter comme science (1783), Idée d'une
histoire universelle d'un point de vue cosmopolitique (1784), Réponse à la
Lịch Sử Tư Tưởng trước Marx

question: “Qu'est-ce que les Lumières?” (1784), Fondation de la métaphysique
des mœurs (1785), Critique de la raison pratique (1788), Critique de la faculté
de juger (1790).
[16] Đối thoại triết lý tưởng tượng giữa hai nhân vật: Tôi (triết gia) và Hắn (Jean-
François Rameau, cháu của nhà soạn nhạc và nhạc lý trứ danh Jean-Philippe
Rameau, 1683-1764). Thực ra, đây là cuộc độc thoại của Diderot về vai trò và ảnh
hưởng của triết gia trong xã hội: Tôi đề cao lý trí, đức hạnh, tài năng, lương thiện),
và sống như kẻ lạ trong xã hội của mình; trong khi Hắn (nhân vật độc đáo, ngông
nghênh, kỳ quặc, đầy mâu thuẫn) trâng tráo bênh vực nếp sống hưởng thụ vật chất,
và có cuộc sống thích nghi với xã hội nhưng trống rỗng và vô ích.
[17] Đoạn văn nói về ý thức đạo lý của con người. Trong nguyên bản:
“Conscience! conscience! instinct divin, immortelle et céleste voix ” = “Ôi,
lương tri! lương tri!, bản năng linh thiêng, bất diệt và tiếng nói thiên thần”
(Trích dẫn từ: Jean-Jacques Rousseau, đoạn La profession de foi du vicaire
savoyard, trg : Emile ou de l’Education).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status