Quy hoạch sử dụng đất xã cự thắng huyện thanh sơn tỉnh phú thọ giai đoạn 2007 – 2015 - Pdf 19

1.PHẦN THỨ NHẤT
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, đất đai cho sinh hoạt và sản xuất
luôn được đặt lên hàng đầu. Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá
đối với mỗi quốc gia, là điều kiện đầu tiên và là nền tảng tự nhiên của bất kỳ một quá
trình sản xuất nào đặc biệt là sản xuất nông nghiệp. khi nói tới vai trò của đất Mac đã
khẳng định “ Lao động chỉ là cha của của cải vật chất, còn đất là mẹ ” vì xét đến cùng
mọi hoạt động của con người đều liên quan tới đất đai, không có đất thì không thể có
sản xuất cũng như không có sự tồn tại của con người.
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên nên bị giới hạn về số lượng, con người có thể
cải tạo tính chất của đất, thay đổi mục đích sử dụng đất song lại không thể làm tăng
hay giảm diện tích đất theo ý muốn. Trong khi đó, với tình hình gia tăng dân số như
hiện nay cùng với sự phát triển của xã hội trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại
hoá đất nước đã dẫn đến nhu cầu đất đai ngày một tăng. Điều này đã gây áp lực ngày
càng lớn tới đất đai. Vấn đề này đã trở thành đòi hỏi bức thiết đối với công tác quản lý
đất đai dặc biệt là công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Tại điều 18, Hiến pháp 1992 đã nêu rõ “ Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ
đất đai theo quy hoạch và theo pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng và có hiệu quả …”.
Quy hoạch, kế hoạch về sử dụng đất là một trong 13 nội dung quản lý nhà nước
về đất đai được ghi nhận tại điều 6 Luật đất đai 2003. Quy hoạch sử dụng đất có vai
trò và chức năng rất quan trọng. Lập quy hoạch sử dụng đất là một biện pháp hữu hiệu
của Nhà nước nhằm tình trạng sử dụng đất không đúng mục đích, làm giảm sút
nghiêm trọng quỹ đất nông nghiệp, ngăn chặn các hiện tượng gây lãng phí đất, huỷ
hoại đất, gây ô nhiễm nguồn tài nguyên đất.
Trong quy hoạch sử dụng đất ặc biệt quan tâm đến quy hoạch sử dụng đất cấp xã
còn gọi là quy hoạch sử dụng đất chi tiết. Quy hoạch sử dụng đất cấp xã được coi là cơ
sở lập kế hoạch sử dụng đất hàng năm, đáp ứng nhu cầu sử dụng đất hiện tại và tương
lai của các ngành cũng như nhu cầu sinh hoạt của các đối tượng sử dụng đất trên địa
bàn xã. Nó chính là căn cứ để xây dựng các biện pháp bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và
1

+ Biểu hiện của tính kỹ thuật ở chỗ, đất đai được đo đạc, vẽ thành bản đồ, tính
toán và thống kê diện tích, thiết kế phân chia khoảnh thửa để giao cho các mục đích sử
dụng khác nhau.
+ Đất đai được Nhà nước giao cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng
vào các mục đích khác nhau. Nhà nước ban hành các văn bản pháp quy để điều chỉnh
các mối quan hệ đất đai. Các đối tượng sử dụng đất có nghĩa vụ chấp hành nghiêm
chỉnh các chủ trương chính sách đất đai của Nhà nước.
+ Khi giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân, cần xác định rõ mục đích
của việc sử dụng. Đó là biện pháp quan trọng nhất nhằm khai thác triệt để và có hiệu
quả cao tiềm năng đất. Ở đây thể hiện rõ tính kinh tế của quy hoạch sử dụng đất.
2.1.2. Đối tượng nghiên cứu của quy hoạch sử dụng đất
Khi tiến hành xây dựng quy hoạch sử dụng đất trên một vùng lãnh thổ xác định
cần nghiên cứu kỹ các yếu tố:
+ Đặc điểm khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng
+ Hình dạng, mục đích khoanh thửa
+ Đặc điểm thuỷ văn, địa chất
+ Đặc điểm thảm thực vật tự nhiên
+ Các yếu tố sinh thái
+ Mục đích, cơ cấu và đặc điểm phân bố dân cư
+ Tình trạng và sự phân bố cơ sở hạ tầng
+ Trình độ phát triển các ngành sản xuất
Do các yếu tố đó tác động đồng thời nên để tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý,
có hiệu quả cao kết hợp với bảo vệ đất và môi trường cần đề ra những quy tắc chung
3
và riêng về chế độ sử dụng đất, căn cứ vào các quy luật đã được phát hiện, tuỳ theo
từng điều kiện cụ thể và từng mục đích cần đạt. Do vậy đối tượng nghiên cứu của quy
hoạch sử dụng đất chính là:
+ Nghiên cứu các quy luật về chức năng của đất như là một tư liệu sản xuất chủ
yếu.
+ Đề xuất các biện pháp tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, có hiệu quả cao kết

Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong 13 nội dung của quản lý
nhà nước về đất đai. Thông qua quy hoạch Nhà nước tổ chức việc sử dụng đất như một
tư liệu sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp và cơ sở không gian để bố trí tất cả các
ngành nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất.
2.1.5.2. Quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch khác
* Đối với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội là một trong những tài liệu tiền kế
hoạch cung cấp căn cứ khoa học cho việc xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội, trong đó có đề cập đến dự kiến phương hướng sử dụng đất.
Ngược lại, quy hoạch sử dụng đất là quy hoạch tổng hợp chuyên ngành, lấy quy
hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội làm căn cứ, thống nhất, cụ thể hoá nội dung
của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội.
* Đối với quy hoạch đô thị và khu dân cư
Căn cứ vào yêu cầu của kế hoạch dài hạn phát triển kinh tế - xã hội và phát triển
đô thị, quy hoạch đô thị sẽ định ra tính chất, quy mô của đô thị cũng như hệ thống các
điểm dân cư, phân bố các khu chức năng trong đô thị và các điểm dân cư tạo điều kiện
thuận lợi cho đời sống và sản xuất. Quy hoạch sử dụng đất được tiến hành nhằm xác
định rõ vị trí, quy mô quỹ đất cho hệ thống đô thị và các điểm dân cư.
Quy hoạch đô thị và quy hoạch sử dụng đất có mối quan hệ diện và điểm, cục bộ
và toàn bộ. Sự cục bộ, quy mô sử dụng đất, các chỉ tiêu chiếm đất xây dựng trong quy
hoạch đô thị sẽ được điều hoà với quy hoạch sử dụng đất. Quy hoạch sử dụng đất tạo
điều kiện thuận lợi cho xây dựng và phát triển đô thị.
* Đối với quy hoạch phát triển nông nghiệp
Quy hoạch phát triển nông nghiệp xuất phát từ nhu cầu của phát triển kinh tế - xã
hội đối với sản xuất nông nghiệp để xác định được hướng đầu tư,biện pháp, bước đi
đảm bảo cho ngành nông nghiệp phát triển. Quy hoạch phát triển nông nghiệp là một
trong những căn cứ sử dụng đất, song nó phải tuân thủ theo quy hoạch sử dụng đất,
5
đặc biệt là việc xác định cơ cấu sử dụng đất đảm bảo quy hoạch nền nông nghiệp bền
vững.

6
+ Điều tra cơ bản nhằm thu thập tư liệu, số liệu, thông tin cần thiết phục vụ cho
việc xây dựng các phương án quy hoạch ở bước sau. Công tác này được tiến hành theo
2 giai đoạn sau:
- Công tác nội nghiệp: điều tra, thu thập số liệu, thông tin cần thiết trong
điều kiện trong phòng.
- Công tác ngoại nghiệp: thực chất là công tác khảo sát ngoài thực địa nhằm
bổ sung và chính xác hóa các thông tin thu thập được ở trong phòng.
Bước 2: Xây dựng các phương án quy hoạch
Các phương án quy hoạch được tiến hành theo trình tự và có nội dung nhất định
phụ thuộc vào cấp làm quy hoạch, nhưng thường gồm các bước sau:
+ Xây dựng đề cương nghiên cứu quy hoạch
+ Xây dựng chương trình điều hoà phối hợp nghiên cứu
+ Viết báo cáo tổng hợp thể hiện các kết quả nghiên cứu
Bước 3: Thẩm định và phê duyệt quy hoạch
Bước 4: Kiểm tra và tổ chức chỉ đạo thực hiện
UBND cấp làm quy hoạch có nhiệm vụ tổ chức chỉ đạo thực hiện theo phương án
quy hoạch.
UBND và cơ quan Tài nguyên và Môi trường cấp trên có trách nhiệm chỉ đạo
kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc thực hịên quy hoạch.
2.2. Cơ sở pháp lý của quy hoạch sử dụng đất
Trong quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đang diễn ra ở nước ta, nền kinh
tế chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng
ngành công nghiệp và dịch vụ, đồng thời với tốc độ đô thị hoá như hiện nay đã và
đang gây áp lực lớn đối với nguồn tài nguyên đất.
Việc sử dụng đất hợp lý có liên quan chặt chẽ tới mọi hoạt động của từng ngành,
từng lĩnh vực, quyết định tới hiệu quả sản xuất cũng như cuộc sống của người dân.
Chính vì vậy Đảng và Nhà nước ta luôn coi đây là vấn đề bức xúc cần được quan tâm
hàng đầu.
Mọi chủ trương,chính sách của Đảng về vấn đề đất đai đều được thể hiện trong

+Thông tư số 30/2004/TT- BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ trưởng Bộ Tài
nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất.
8
+ Quyết định số 04/2005/QĐ- BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày
30/06/2005 về việc ban hành các quy tắc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất.
2.3. Tình hình nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất trong và ngoài nước
2.3.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới công tác quy hoạch sử dụng đất đã được tiến hành từ nhiều năm
trước đây. Nó chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội
của mỗi quốc gia, đặc biệt là trong quá trình sản xuất.
Đối với các nước như Liên Xô (cũ), Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Australia … đã xây
dựng cơ sở lý luận của ngành quản lý đất đai tương đối hoàn chỉnh. Do đặc điểm khác
nhau của mỗi quốc gia nên trên thế giới có rất nhiều mô hình quy hoạch sử dụng đất,
nhưng nhìn chung có 2 trường phái chính sau:
+ Tiến hành quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đảm bảo cho sự phát
triển các mục tiêu một cách hài hoà sau đó đi sâu nghiên cứu quy hoạch chuyên ngành,
tiêu biểu cho trường phái này là Đức, Australia.
+ Tiến hành quy hoạch nông nghiệp làm nền tảng cơ bản, sau đó lập sơ đồ phát
triển và phân bố lực lượng sản xuất theo yêu cầu của cơ chế tập trung với lao động và
đất đai là 2 yếu tố cơ bản của vấn đề nghiên cứu, tiêu biểu cho trường phái này phải kể
đến Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây.
Tuy nhiên để có một phương pháp chung làm cơ sở khoa học cho công tác quy
hoạch đất đai trên thế giới, năm 1992 FAO đã đưa ra quan điểm quy hoạch đất đai
nhằm sử dụng một cách hợp lý, hiệu quả cả về kinh tế, xã hội, môi trường ở hiện tại và
tương lai.
Phương pháp này đã được nhiều quốc gia áp dụng và đem lại hiệu quả nhất định
tiêu biểu là : Ở Thái Lan và Philippin, quy hoạch được lập ở cả 3 cấp, quy hoạch cấp
quốc gia hình thành các hướng dẫn, chỉ đao chung, quy hoạch cấp vùng triển khai một

hướng dẫn lập quy hoạch sử dụng đất. Đây là thông tư đầu tiên về vấn đề đất đai kể từ
khi Tổng cục được thành lập, nó hướng dẫn một cách cụ thể việc lập quy hoạch sử
dụng đất. Qua những năm đầu thực hiện nhiều tỉnh đã lập kế hoạch cho một nửa số xã
trong tỉnh bằng kinh phí địa phương tuy nhiên các cấp hành chính lớn hơn chưa được
thực hiện.
(Nguyễn Hợi, 2006)
2.3.2.4. Từ khi ban hành Luật đất đai năm 1993 đến nay
10
Sau khi Luật đất đai năm 1993 được công bố công tác quy hoạch sử dụng đất đã
được chú trọng hơn. Trong quá trình thực hiện Luật đất đai 1993 đã nảy sinh nhiều bất
cập, nên ngày 26/11/2003 Quốc hội đã ban hành Luật đất đai 2003 với nhiều điều luật
mới, bổ sung hoàn chỉnh cho các văn bản luật trước đây. Trong đó một lần nữa khẳng
định vai trò của quy hoạch sử dụng đất, là một trong 13 nội dung của công tác quản lý
nhà nước về đất đai.
Theo kết quả nghiên cứu tình hình quy hoạch sử dụng đất hiện nay ở Việt Nam ta
nhận thấy:
+ Quy hoạch sử dụng đất cả nước: Theo Báo cáo quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất đai cả nước đến năm 2010 mà Chính phủ đã trình Quốc hội khoá XI và được phê
duyệt tại kỳ họp thứ 5. Theo quy hoạch sử dụng đất đến 2010, diện tích đất phi nông
nghiệp là 3.925.300 ha chiếm 11,92% tổng diện tích đất tự nhiên cả nước, trong đó đất
ở đô thị là 93.300 ha chiếm 0,35%, đất chuyên dùng là 2.145.400 ha chiếm 6,52%.
+ Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh: có 60/64 tỉnh, thành phố trược thuộc Trung
ương hoàn thành lập quy hoạch sử dụng đất đến 2010 đã được Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt.
+ Quy hoạch sử dụng đát cấp huyện: có 369 huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc
tỉnh, thành phố thuộc Trung ương hoàn thành quy hoạch sử dụng đất chiếm 59,1% số
đơn vị cấp huyện, trong đó chủ yếu mới lập quy hoạch sử dụng đất của các huyện, còn
quy hoạch đất đô thị ở hầu hết các quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh chưa được
lập.
+ Quy hoạch sử dụng đất cấp xã: có 3.597 xã, phường, thị trấn của 36 tỉnh, thành

12
3. PHẦN THỨ BA
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Nội dung
Xuất phát từ mục đích và để đảm bảo yêu cầu đặt ra của đề tài chúng tôi tiến
hành nghiên cứu các nội dung sau:
3.1.1. Nghiên cứu, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
+ Điều kiện tự nhiên: xác định vị trí địa lý, địa hình vùng nghiên cứu, xem xét
các điều kiện khí hậu gồm tài nguyên đất, nước, rừng, khoáng sản, tài nguyên nhân
văn, cảnh quan môi trường.
+ Điều kiện kinh tế - xã hội: nghiên cứu tình hình dân số, lao động, tình hình sản
xuất của các ngành, tình hình cơ sở hạ tầng.
3.1.2. Nghiên cứu tình hình sử dụng đất và biến động đất đai
+ Đánh giá tình hình quản lý đất đai của xã trong thời gian qua
+ Đánh giá hiện trạng sử dụng đất năm 2007
+ Đánh giá tình hình biến động đất đai, phân tích nguyên nhân gây ra biến động
theo các loại đất: đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp, đất chưa sử dụng.
3.1.3. Xây dựng phương hướng, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và phương
hướng sử dụng đất
+ Phương hướng, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
+ Phương hướng sử dụng đất
3.1.4. Xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất
+ Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp
+ Quy hoạch sử dụng đất phi nông nghiệp
+ Quy hoạch sử dụng đất chưa sử dụng
3.1.5. Xây dựng kế hoạch sử dụng đất
+ Kế hoạch sử dụng đất hàng năm từ 2007 đến 2010
+ Kế hoạch sử dụng đất 5 năm giai đoạn 2011 - 2015
13
3.1.6. Đánh giá hiệu quả phương án quy hoạch

Phương pháp này cũng có một số hạn chế, nó bị giới hạn về số lượng phương án
và việc lựa chọn phương án chỉ là kết quả so sánh tương đối giữa các phương án với
nhau, chứ chưa tìm được phương án thực sự tối ưu.
4. PHẦN THỨ TƯ
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Nghiên cứu, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
4.1.1. Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1. Vị trí địa lý
Cự Thắng là một xã miền núi của huyện Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ, cách trung tâm
huyện (phố Vàng) khoảng 10 km về phiá Nam theo đường tỉnh lộ 316 đi Hoà Bình.
Địa giới hành chính của xã như sau:
+ Phía Bắc giáp xã Thục Luyện
+ Phía Nam giáp xã Cự Đồng, Võ Miếu
+ Phía Đông giáp xã Tất Thắng
+ Phía Tây giáp xã Võ Miếu
Trên địa bàn chỉ có duy nhất một con đường chạy qua (đường 316 từ huyện
Thanh Sơn đi Hoà Bình) với chiều dài 40 km nhưng đường đất khó đi, do vậy việc đi
lại, thông thương buôn bán, trao đổi hang hoá và giao lưu về các vấn đề xã hội khác
giữa Cự Thắng và các xã lân cận hết sức khó khăn.
4.1.1.2. Địa hình
Địa hình xã Cự Thắng tương đối phức tạp, phần lớn là gò đồi có độ dốc lớn, hơn
nữa phía Bắc, phía Nam của xã lại có một dãy núi và một dãy đồi chạy song song theo
tỉnh lộ 316 (núi Lưỡi Hái và Đồi Ròng) gây nhiều khó khăn trong đi lại và các hoạt
động sản xuất nông nghiệp của người dân. Với địa hình cao ở phía Nam (núi Lưỡi Hái
cao 1017 m) và thấp dần về phía Bắc đã cản trở rất nhiều tới việc phát triển kinh tế -
xã hội và thông thương hàng hoá.
4.1.1.3. Khí hậu
15
Nằm trong vùng miền núi phía Tây, đồi núi cao nên khí hậu xã Cự Thắng chịu
ảnh hưởng của gió mùa rõ rệt với mùa lạnh đến sớm và kết thúc muộn.

16
thích hợp với một số cây lâm nghiệp và cây công nghiệp cùng một số cây ăn quả khác
như nhãn, vải …
b. Tài nguyên nước
Tài nguyên nước của xã bao gồm nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm.
Nguồn nước mặt: trong xã vào mùa mưa nước ở các con suối, ao đập dâng cao,
còn vào mùa khô chỉ có một số ao đập có nước để phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt của
người dân. Nguồn nước mặt của xã không ổn định, bị ảnh hưởng khi khai thác cây lâm
nghiệp chủ yếu nhất là cây bạch đàn.
Nguồn nước ngầm: có chất lượng tốt, hiện nay nhân dân trong xã đang khai thác
và sử dụng phần lớn nước ngầm trong sinh hoạt bằng giếng đào và thong qua các
chương trình tài trợ của tổ chức UNICEF và các chương trình nước sạch ở nông thôn
xây bể ở trên núi dẫn nước bằng đường ống về cho người dân sử dụng.
Tình trạng thiếu nước sinh hoạt vãn thường xuyên xảy ra nhất là về mùa khô chủ
yếu với các hộ ở trên sườn đồi hoặc gò cao. Tuy nhiên với nguồn nước ngầm tốt, chưa
bị ô nhiễm và nói chung là ổn định nên hiện tại vẫn đủ cung cấp cho sinh hoạt phục vụ
đời sống của người dân, độ sâu bình quân khai thác bằng nước giếng là 8- 10m.
c. Tài nguyên rừng
Hiện nay diện tích rừng của xã Cự Thắng là 2144,71 ha (theo số liệu thống kê
2007)
d. Tài nguyên khoáng sản
Trên địa bàn xã có mỏ sắt tại xóm Chòi với diện tích 14,5 ha nằm vào đất trồng
rừng của xã. Hiện nay có 2 công ty Đông Phương Hồng và Tân Phong đang khai thác
nguồn tài nguyên này.
e. Tài nguyên nhân văn
Hiện nay toàn xã có 4 dân tộc anh em đang sinh sống là Kinh, Dao, Mường, Thổ
(hiện nay dân tộc Thổ chỉ còn rất ít). Và có 2 tôn giáo là Phật giáo và Thiên chúa giáo,
nên yêu cầu được đặt ra ở đây là xã phải có những chính sách phát triển hợp lý để thắt
chặt hơn nữa tình đoàn kết dân tộc và tôn giáo trên địa bàn xã.
Nhân dân trong xã vẫn giữ được những nét truyền thống tốt đẹp của con người

+Số sinh trong năm Người 62 82 77 80 78
+Số chết trong năm Người 14 18 17 25 18
-Tỷ lệ tăng dân số cơ học % -0,14 -0,26 -0,26 -0,37 -0,08
+Số chuyển đi Người 7 14 10 7 23
+Số chuyển đến Người 14 27 23 26 19
3.Tổng số khẩu cuối năm Người 4971 5022 5069 5105 5169
4.Tổng số hộ Hộ 1017 1029 1044 1059 1073
5.Tổng số cặp kết hôn Cặp 27 20 26 31 35
6.Tổng số lao động Người 2501 2543 2597 2633 2671
-Lao động nông nghiệp Người 2321 2352 2397 2425 2430
-Lao động phi nông nghiệp Người 180 191 200 208 241
Qua bảng kết quả số liệu ta thấy:
18
Năm 2003 toàn xã có 4930 nhân khẩu, năm 2007 có 5105 nhân khẩu tăng so với
năm 2003 là 198 người.
Số hộ cũng tăng thêm 56 hộ từ 1017 hộ (năm 2003) lên 1073 hộ (năm 2007),
trung bình mỗi năm tăng thêm 11 hộ.
Tỷ lệ phát triển dân số của toàn xã năm 2007 là 1,24% so với năm 2003 là 0,84%
đã tăng 0,41% có thể do một số nguyên nhân như: do y tế ngày càng phát triển thì
ngày càng có điều kiện chăm sóc sức khoẻ cho người dân, điều này dẫn đến tăng tuổi
thọ bình quân. Đồng thời do y tế phát triển nên khả năng ngăn chặn dịch bệnh bùng
phát là rất cao …
b. Biến động lao động
Tình hình lao động của xã được thể hiện trong bảng 2.
Bảng 2. Tình hình phân bố dân cư và đất đai của xã Cự Thắng năm 2007
Chỉ tiêu
Toàn

Thôn
Chòi Xuân

các thôn không đồng đều, thôn có quy mô lớn nhất là thôn Sụ Ngoài với 1871 khẩu và
376 hộ, thôn có quy mô nhỏ nhất là thôn Xuân Thắng với 216 khẩu và 53 hộ.
19
Tổng số lao động của xã là 2671 người chiếm 51,67% dân số của cả xã, trong đó
lao động nông nghiệp là 2430 người chiếm 90,97% tổng số lao động, còn lại khoảng
9,03% (tương ứng với 241 người) là lao động phi nông nghiệp. Điều này cho thấy Cự
Thắng là một xã thuần nông, người dân trong xã chủ yếu là làm nông nghiệp, lao động
trong các ngành nghề khác chiếm tỷ lệ rất nhỏ.
4.1.2.2. Tình hình sản xuất của các ngành năm 2007
a. Ngành nông nghiệp:
* Ngành trồng trọt:
Cự Thắng là xã chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp trong đó trồng trọt là một
trong những ngành chính của xã, là nguồn thu nhập chính của người dân. Tổng diện
tích đất nông nghiệp của xã là 2493,86 ha, bình quân diện tích đất nông nghiệp tính
theo đầu người vào khoảng 4824,6 m
2
/ người thuộc vào loại cao. Song trình độ thâm
canh tăng vụ ở đây còn thấp, đất sản xuất nông nghiệp của xã chủ yếu là đất 2 vụ lúa
nên sản lượng tương đối ổn định, các giống lúa chính của xã như: Q5, Khang Dân 18,
Hương thơm số 1 đã cho năng suất và chất lựợng khá cao. Sự chỉ đạo của Đảng uỷ và
UBND xã Cự Thắng là khuyến khích nhân dân tập trung phát triển nông nghiệp đặc
biệt là trồng trọt.
Diện tích, năng suất, sản lượng cây trồng của xã trong giai đoạn 2003 – 2007 thể
hiện ở bảng 3.
Bảng 3. Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính của xã qua các
năm
Cây trồng ĐVT Năm
20
2003 2004 2005 2006 2007
1.Lúa xuân

Hiện nay nhận thức về giá trị cây màu như khoai tây, khoai lang … còn thấp, do
chính quyền địa phương không chú trọng tới cây vụ đông mà chỉ chú trọng đến việc
chuyển đổi cây trồng và thâm canh lúa chất lượng cao, do đó diện tích cây trồng vụ
đông không đáng kể.
* Ngành chăn nuôi:
Bên cạnh ngành trồng trọt, xã cũng chú trọng đến phát triển chăn nuôi. Quy mô
ngành chăn nuôi được thống kê trong bảng 4.
21
Bảng 4. Tình hình chăn nuôi của xã qua một số năm.
Hạng mục ĐVT
Năm
2003 2004 2005 2006 2007
1.Tổng đàn trâu Con 813 795 810 796 800
2.Tổng đàn bò Con 1070 1050 1041 1033 1020
3.Tổng đàn lợn Con 2230 2267 2314 2397 2450
- Nái sinh sản Con 156 159 162 168 171
- Lợn thịt Con 2074 2108 2152 2229 2279
4.Tổng đàn gia cầm Con 23000 23472 24500 24700 25000
5.Thuỷ sản Tấn 14,3 14 14,7 15,5 16
6.Ong Đàn 182 200 234 271 300
Qua bảng thống kê kết quả ngành chăn nuôi cho thấy:
Ngành chăn nuôi của xã tương đối phát triển, chủ yếu là chăn nuôi theo hộ gia
đình, đặc biệt là phong trào chăn nuôi gia súc, gia cầm ngày càng được quan tâm đáng
kể như phong trào nạc hoá đàn lợn, sind hoá đàn bò đã được thực hiện trong địa
phương. Trên địa bàn xã đã hình thành quy mô trang trại, hệ thống chuồng trại được
các hộ đầu tư xây dựng đảm bảo vệ sinh môi trường.
Nhìn chung, qua các năm tổng đàn trâu và đàn bò đang có xu hướng giảm đi do
nhu cầu cày kéo ngày càng giảm, con người đã đưa máy móc vào trong sản xuất.
Ngược lại quy mô đàn lợn và đàn gia cầm lại tăng lên đáng kể đáp ứng nhu cầu của
người dân chủ yếu do việc chăn nuôi chúng đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu ít, thời gian

b. Về thuỷ lợi:
Xã Cự Thắng có 8,07 ha đất thuỷ lợi chiếm 3,71% đất chuyên dùng. Với 3 trạm
bơm và với số lượng kênh mương như hiện nay luôn luôn chủ động cung cấp nước
tưới cho sản xuất nông nghiệp. Trong tương lai không cần quy hoạch mở rộng hệ
thống kênh mương mà chỉ cần cứng hoá kênh mương để chủ động hơn trong vấn đề
tưới tiêu, hang năm cần nạo vét và tu sửa lại hệ thong mương máng nội đồng phục vụ
tưới tiêu cho đồng ruộng.
c. Về xây dựng cơ bản:
Trụ sở UBND xã đã được xây dựng khang trang, có đủ các phòng làm việc và
phòng họp, có đầy đủ trang thiết bị và điều kiện làm việc tốt.
Trạm y tế xã: hiện tại trên địa bàn xã có 01 trạm y tế đã được xây dựng trên diện
tích 0,12 ha, có vị trí thuận lợi cho việc khám chữa bệnh cho người dân trong xã, với
tổng số phồng là 10 phòng. Với đội ngũ y, bác sĩ là 7 người trong đó có 01 bác sĩ, 03 y
sĩ, 03 y tá và nữ hộ sinh. Đội ngũ y tế xã đã hoàn thành chương trình kế hoạch chăm
sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân, công tác phòng chống các dịch bệnh, vệ sinh môi
trường đạt kết quả cao. Trong tương lai cần quan tâm tới việc nâng cao trình độ
23
chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ y tế và đầu tư trang thiết bị kỹ thuật cho trạm y tế
xã, xây dựng thêm phòng khám và phòng điều trị.
Trường trung học cơ sở với một dãy nhà 2 tầng với tổng số phòng học là 12
phòng, 4 phòng nhà hành chính của trường vẫn tồn tại nhà cấp 4, với đội ngũ giáo viên
30 người, có 550 học sinh chia thành 12 lớp.
Trường cấp I có 27 phòng học nằm trên thôn Đồng Lạc, trường có một dãy nhà 2
tầng, hiện tại có 36 giáo viên và 750 học sinh chia thành 26 lớp.
Nhà trẻ mẫu giáo có 20 giáo viên, 300 cháu chia thành 13 lớp được bố trí ở thôn
Đồng Lạc với dãy nhà 2 tầng, trang thiết bị giảng dạy tương đối đầy đủ.
Ngoài ra trong xã còn có một số công trình xây dựng cơ bản khác như: nghĩa
trang liệt sĩ, trạm biến áp, bưu điện văn hoá xã.
Ta có bảng hiện trạng một số công trình xây dựng cư bản của xã như sau:
Bảng 5. Hiện trạng các công trình xây dựng cơ bản của xã Cự Thắng

trong xã, thương mại dịch vụ ở đây chưa phát triển. Cách không xa thị trấn phố Vàng
của huyện Thanh Sơn nhưng con đường duy nhất chạy qua xã lại gồ ghề, lởm chởm đá
làm cước vận chuyển hang hoá cao, nên các mặt hang dùng trong sinh hoạt nghèo nàn
và ít chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân. Cự Thắng được đánh giá là một trong
ngững xã nghèo nằm trong vùng an toàn khu …
4.2. Tình hình quản lý và sử dụng đất
4.2.1. Tình hình quản lý đất đai
Năm 1994 dưới sự chỉ đạo của UBND, Sở Địa chính tỉnh Phú Thọ và của UBND
huyện Thanh Sơn, xã Cự Thắng đã thực hiện Chỉ thị 364/CT của Chính phủ về phân
định và giải quyết các tồn tại về địa giới hành chính và diện tích của xã. Tổng diện tích
đất tự nhiên của cả xã là 2957 ha. Ranh giới giữa xã Cự Thắng với các xã lân cận đều
rõ ràng. Các mốc địa giới ổn định, dọc tuyến không có tranh chấp .
a. Công tác đăng ký thống kê và đo đạc bản đồ
Thực hiện Chỉ thị 299/TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc đo đạc lập bản đồ,
Cự Thắng đã đo đạc được 32 tờ bản đồ giải thửa tỷ lệ 1: 1000 nhưng đến nay đã nhàu
nát.
Được sự giúp đỡ của tỉnh, huyện, xã Cự Thắng đã xây dựng đươcj bản đồ địa
chính 364 (10 tờ tỷ lệ 1: 5000), bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2002 và năm 2007,
bản đồ hành chính kinh tế xã cùng với 7 quyển sổ địa chính, 5 quyển sổ mục kê, 3
25

Trích đoạn Quy hoạch đất nông – lâm nghiệp Đất trồng lúa LUA 234,36 233,76 0,
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status