1
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ NHU CẦU CHĂM
SÓC SỨC KHỎE TẠI GIA ĐÌNH, ĐỀ XUẤT GIẢI
PHÁP PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI Y HỌC GIA
ĐÌNH
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: PGS.TS. PHẠM NHẬT AN
CƠ QUAN CHỦ TRÌ: TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỌI HÀ NỘI- 2009 2
BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ NHU CẦU CHĂM
SÓC SỨC KHỎE TẠI GIA ĐÌNH, ĐỀ XUẤT GIẢI
2.4. Đối tượng nghiên cứu, tiêu chuẩn chọn, cỡ mẫu và phương pháp thu thập
thông tin: 42
2.4.1. Người dân tại HGĐ 42
2.4.2. Y tÕ th«n, b¶n, ®−êng phè, cộng tác viên dân số, dinh dưỡng, tiêm chủng mở
rộng (sau đây gọi tắt là y tế thôn bản) : 45
2.4.3. Tr−ëng th«n, tr−ëng b¶n, tæ tr−ëng tæ d©n phè: 46
2.4.4. Cán bộ TYTX: 46
2.4.5. Cán bộ UBND xã, các đoàn thể: 46
2.4.6. Cán bộ quản lý, hoạch định chính sách y tế, các nhà nghiên cứu và theo dõi về
CSSK tại HGĐ của địa phương (huyện, tỉnh) 46
2.4.7. Cán bộ tuyến Trung ương 47
2.4.8. Y tế tư nhân: 47
2.4.9. Bác sĩ CKI YHGĐ: 48
2.4.10. Sổ sách, thống kê, các công trình nghiên cứu tại các tuyến 48
2.5. Công cụ thu thập thông tin: 50
2.6. Sai số và cách khắc phục: 50
2.7. Phương pháp nghiên cứu nhu cầu, kiến thức, thực hành về CSSK tại HGĐ của
người dân và một số quy định trong đề tài (phụ lục 6). 50
2.8. Làm sạch và xử lý số liệu: 51
2.9. Đạo đức nghiên cứu: 51
CHƯƠNG 3 53
12
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 53
3.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 53
3.2. Thực trạng về CSSK tại HGĐ 54
3.2.1. Thực trạng về tổ chức và quản lý CSSK tại HGĐ 55
3.2.2. Thực trạng về nhân lực, trang thiết bị, thuốc trực tiếp thực hiện CSSK tại
HGĐ ở tuyến xã/phường, thôn/bản/đường phố. 56
3.2.3. Thực trạng về một số kết quả CSSK HGĐ 59
13
MỤC LỤC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 1.1. Nhu cầu thiếu hụt về CSSKBĐ tại Việt Nam [2, 3] 34
Bảng 2.1. Chọn chủ đích T/TP 43
Bảng 2.2. Sơ đồ mẫu đối tượng nghiên cứu 49
Bảng 3.1. Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu: Người dân 53
Bảng 3.2. Số lượng đối tượng nghiên cứu: CBYT, CTV, chính quyền, ban, ngành các cấp
54
Bảng 3.3: Nhân lực trực tiếp cung cấp dịch vụ CSSK tại HGĐ tuyến xã/phường 56
Bảng 3.4: Trang thiết bị và thuốc trực tiếp phục vụ CSSK tại HGĐ ở tuyến xã/phường 58
Bảng 3.5.Thực trạng về một số kết quả dịch vụ CSSK tại HGĐ (tại các xã nghiên cứu
thuộc các T/TP) 59
Bảng 3.6. Thực trạng về một số kết quả thực hành của người dân về CSSK tại HGĐ (quan
sát và chấm điểm của điều tra viên) 61
Bảng 3.7. Thực trạng về hành vi, quyết định của người dân khi bị ốm 12 tháng qua 62
Bảng 3.8. Thực trạng về hành vi tự đi khám/kiểm tra sức khỏe của người dân 63
Bảng 3.9. Kiến thức về lợi ích của chính sách y tế 64
Bảng 3.10. Kiến thức về vệ sinh hộ gia đình của người dân 65
Bảng 3.11. Kiến thức của người dân về một số sơ cứu tại nhà 66
Bảng 3.12. Kiến thức của các bà mẹ có thai hay nuôi con nhỏ<1 tuổi về chăm sóc bà mẹ và
trẻ em 67
Bảng 3.13. Kiến thức về phòng, xử lý sớm và chăm sóc một số bệnh hay gặp tại nhà của
người dân 68
Bảng 3.14.Nhu cầu về kiến thức chính sách y tế của người dân 69
Bảng 3.15. Nhu cầu v
ề kiến thức vệ sinh hộ gia đình của người dân 70
ĐẶT VẤN ĐỀ
CSSK theo phương thức truyền thống thường là xây dựng các cơ sở
dịch vụ y tế để người dân tới sử dụng. Phương thức này có nhược điểm lớn là
thụ động, ngồi chờ người dân tới và thường thì người dân mắc bệnh rồi, đôi
khi mắc bệnh đã nặng mới chịu tới cơ sở y tế. Do tính chủ động chưa cao kể
c
ả về phía người CCDV và người SDDV nên hiệu quả CSSK cũng chưa cao,
thể hiện ở công tác dự phòng hạn chế, việc phát hiện bệnh sớm, điều trị sớm
và triệt để còn nhiều bất cập [11, 19]. Để khắc phục tình trạng trên, phương
thức CSSK tại HGĐ được hình thành, nhằm mang dịch vụ y tế tới tận ngõ,
xóm, HGĐ, từng cá nhân. Khi dịch vụ y tế tiện lợ
i và sẵn có như vậy sẽ tạo
điều kiện cho người dân chủ động nhiều hơn trong CSSK, kể cả dự phòng,
nâng cao sức khỏe, phát hiện bệnh sớm, điều trị sớm và triệt để. Vì vậy CSSK
tại HGĐ có ý nghĩa to lớn không chỉ về khía cạnh sức khỏe mà cả về khía
cạnh kinh tế, xã hội và mang tính nhân văn sâu sắc. Có hai hướng đi tới vấn
đề
CSSK tại HGĐ: a)Với người CCDV: Dịch vụ gì cần đưa tới HGĐ? Cần
chính sách gì? Ai đưa dịch vụ tới ngõ xóm, HGĐ? Cung cấp ngân sách,
thuốc, trang thiết bị ra sao? Cơ chế quản lý và tổ chức thế nào? b) Với người
SDDV: Trách nhiệm của họ ra sao? Họ phải làm những gì? Về tư duy nhận
thức phải thay đổi ra sao? Họ tham gia ở mức nào? Một loạt các câu hỏi trên
đang ch
ờ được làm sáng tỏ.
CSSK tại HGĐ thực ra đã được thực hiện từ lâu. Ngày xưa khi các cơ
sở khám chữa bệnh chưa phát triển thì các thầy thuốc, ông lang, bà mế được
mời tới nhà khám chữa bệnh cho người dân [44]. Y tế thôn bản, cộng tác viên
dân số, dinh dưỡng đã vào tận từng nhà để tuyên truyền, vận động người dân
thực hiện chính sách CSSK hay dự phòng bệnh; các bác sĩ tư nhân, thầy thuốc
17
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. Khái niệm và nguyên tắc Y học gia đình
CSSKBĐ là chăm sóc thiết yếu cho mỗi cá nhân, mỗi thành viên trong
xã hội. Thực hiện tốt CSSKBĐ ngay tại gia đình và cộng đồng có ý nghĩa to
lớn về nhân văn, kinh tế, văn hóa và xã hội (Tuyên ngôn Hội nghị Alma Ata-
1978). CSSKBĐ cũng là nội dung cơ bản của Y học gia đình [13].
Y học gia đình (YHGĐ) được coi là một dịch vụ cung cấ
p kỹ thuật
chăm sóc sức khỏe đầy đủ, toàn diện, liên tục và bền vững cho cá nhân và gia
đình, không phân biệt tuổi, giới, hay bệnh tật, trong sự lồng ghép giữa sinh
học, y học lâm sàng và các khoa học hành vi (Định nghĩa của AAFP). Y học
gia đình làm giảm tối đa tỉ lệ mắc, chết các bệnh, tai nạn, thương tích, tăng
cường sức khỏe cho cá nhân và gia đình [57].
YHGĐ không đơn thuần là bệ
nh viện hay phòng khám ngồi chờ người
dân tới để phục vụ. YHGĐ chủ động mang dịch vụ CSSK tới tận gia đình,
từng cá nhân với chất lượng cao và giá thành hợp lý. Thầy thuốc YHGĐ là
thầy thuốc của mọi nhà, có thể được coi như một đối tác rất tin cậy và đồng
cảm sâu sắc, cung cấp cả dịch vụ y tế và dịch vụ phi y tế.
Với cách hiể
u và cách tiếp cận như trên, YHGĐ đòi hỏi Sáu nguyên tắc
quan trọng là:
- Chăm sóc toàn diện: Con người là một thực thể của xã hội, sinh trưởng
và phát triển trong một môi trường đa dạng, có nhiều mối quan hệ.
Chính vì vậy con người cần sự chăm sóc toàn diện không những về y tế
(như khám chữa bệnh, phòng bệnh) mà còn đòi hỏi về chăm sóc ngoài y
18
sau khi ra viện lại trở lại điều trị với anh ta một cách liên tục.
19
- Chăm sóc phối hợp: “Người thầy thuốc gia đình giống như một nhạc
trưởng trong việc chǎm sóc cho từng bệnh nhân. Người thầy thuốc gia
đình còn xác định những người cung ứng và các nguồn chǎm súc sức
khỏe khác cần thiết để hỗ trợ cho việc chǎm sóc chung cho bệnh nhân.
Những nguồn này bao gồm các chuyên gia bên ngoài còng như những
cán bộ chuyên môn y tế khác bên trong phụng khoản của thầ
y thuốc gia
đình. Hướng dẫn bệnh nhân tiếp cận với hệ thống chǎm sóc sức khỏe là
trách nhiệm của thầy thuốc gia đình” [57]. Cũng theo tác giả này, người
thầy thuốc gia đình phải am hiểu sâu sắc gia đình người bệnh về mọi
khía cạnh. Tổ chức cho gia đình người bệnh phối hợp tốt trong chăm
sóc và điều trị người bệ
nh. Người thầy thuốc gia đình còn phải vẽ được
sơ đồ gia đình và cây phả hệ của người bệnh. Vì vậy, các nghiên cứu về
YHGĐ giống như các nghiên cứu chăm sóc sức khỏe thông thường
song cần nghiên cứu thêm về các yếu tố gia đình như kinh tế, văn hóa,
mối quan hệ huyết thống, lịch sử bệnh tật…
- Quan tâm tới phòng bệnh: Phòng bệnh chủ
động và tích cực như vệ
sinh môi trường, vệ sinh cá nhân, vệ sinh thực phẩm, xử lý chất thải,
tiêm chủng, phòng chống các tác nhân, nguy cơ gây bệnh và các tai
nạn, thương tích…nâng cao sức khỏe…Bác sĩ gia đình không những chỉ
chữa bệnh mà còn phải giúp bệnh nhân của mình phòng chống các nguy
cơ bệnh tật. Phòng bệnh bao gồm yếu tố nguy cơ mắc bệnh, làm chậm
lại các hậu quả của bệnh tật, khuy
ến khích lối sống lành mạnh, dự đoán
các vấn đề sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe nội tâm của bệnh nhân và gia
trong cả hai việc chẩn đoán và điều trị bệnh nhân (57).Người bác sĩ gia
đình coi bệnh nhân là một thành viên của gia đình họ, thừa nhận ảnh
hưởng của bệnh tật đế
n gia đình và ngược lại. Họ nắm bắt được những
21
yếu tố của gia đình để phục vụ cho phát hiện bệnh, chẩn đoán, điều trị
và phục hồi chức năng. Một gia đình được định nghĩa rộng rãi là nơi mà
người bệnh có thể trông mong hỗ trợ ở quá khứ, hiện tại và tương lai.
1.2. Ý nghĩa và tầm quan trọng của Y học gia đình
YHGD mang dịch vụ CSSK tới từng cá nhân và từng gia đình cho nên
mang ý nghĩ
a rất lớn về y học còng như xã hội.
Về y học, YHGĐ cung cấp dịch vụ CSSK gần dân nhất nên rất sát với
nhu cầu về CSSK của từng người dân và gia đình. Trước hết YHGD cung cấp
các dịch vụ về truyền thông- giáo dục sức khỏe (TT-GDSK) như cung cấp các
kiến thức về chính sách y tế của nhà nước/ địa phương, kiến thức về vệ sinh cá
nhân và cộng đồ
ng, kiến thức về dự phòng các bệnh hay gặp tại cộng đồng,
kiến thức về phòng chống các bệnh, dịch, tai nạn thương tích YHGĐ còn
cung cấp cho người dân kiến thức về phát hịện sớm các bệnh, tật, xử lý sớm
và ban đầu các bệnh, tật hay các cấp cứu tại nhà và cộng đồng. Chính vì vậy
mọi người dân và gia đình luôn đạt được tình trạng sức khỏe tốt nhất có th
ể
có, giảm được nhiều số lượng còng như tỉ lệ mắc, chết của bệnh, tật hay tai
nạn, thương tích ngay tại gia đình và cộng đồng. YHGĐ giúp người dân tự
bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho bản thân và gia đình.
Người cung cấp dịch vụ YHGD (như bác sĩ, hộ sinh, điều dưỡng )
phát hiện sớm các nguy cơ có hại cho sức khỏe của người dân t
ại gia đình và
Có nhiều công trình nghiên cứu khoa h
ọc về nhu cầu YHGĐ của người
dân. Tại Hoa kỳ, cứ 1000 người thì có 800 người được báo cáo là có triệu
chứng của bệnh, tuy nhiên chỉ có 217 người là đi thăm khám ở các cơ sở y tế
23
(chiếm 27,1%), 21 người đi khám ở phòng khám ngoại trú thuộc các bệnh
viện (2,6%). Dịch vụ y học gia đình chỉ phục vụ có 14 người (1,75%). Số liệu
này cho thấy tại Hoa kỳ, một đất nước công nghiệp phát triển mạnh nhưng
nhu cầu khám chữa bệnh (KCB) của người dân rất lớn. YHGĐ đã phát triển từ
lâu nhưng mới đáp ứng được phần nhỏ nhu cầu này. T
ỉ lệ 72,9% có biểu hiện
triệu chứng lâm sàng chưa đi khám ở bất kì nơi nào là một nhu cầu rất lớn mà
YHGĐ chưa tiếp cận được. Theo một tác giả khác - Ken White nghiên cứu tại
Anh và Hoa Kỳ, cho thấy trong tổng số 250 người bệnh đến thầy thuốc thì có
94% số này được chăm sóc ngay tại nơi làm việc của họ bởi thầy thuốc chăm
sóc sức khỏe ban đầu t
ức thầy thuốc gia đình. Số ít còn lại mới phải vào bệnh
viện hay các phòng khám của trung tâm y tế. Rõ ràng nhu cầu về chăm sóc
sức khỏe của người dân là rất lớn, vấn đề là cần xác định được nhu cầu đó và
tổ chức các dịch vụ YHGĐ đáp ứng với nhu cầu này.
Một nghiên cứu khác cũng tại Hoa kỳ cho thấy có tới 6- 9 triệu trẻ em
và vị thành niên có các biểu hi
ện của rối loạn tâm thần, đó là một nhu cầu
không nhỏ, tuy nhiên đa số các trẻ em này không nhận được chăm sóc y tế
[56]. Trong một nghiên cứu khác cho thấy có tới 20% trẻ em và vị thành niên
tại Mỹ có biểu hiện rối loạn hành vi và rối loạn tâm lý. 2/3 số trẻ này không
nhận được chăm sóc y tế. YHGĐ có nhiệm vụ mang dịch vụ cho những trẻ
em này [55].
1.4. Phát triển của Y học gia
gửi khám ban đầu. Khi bệnh nhân cầ
n gặp thầy thuốc, thông thường họ được
chuyển bằng xe cứu thương tới một trung tâm y học để được gặp một bác sĩ
chuyên khoa. Thầy thuốc này ít khi có thời giờ, trình độ hoặc quan tâm điều
trị thỏa đáng một cách toàn diện cho bệnh nhân.
25
Thực tế, những cuộc thǎm tại nhà của thầy thuốc đã bị giảm sút, trong
khi đó các khía cạnh khác của chǎm sóc tại nhà thì lại tǎng lên rất nhiều.
Chẳng có gì phải ngạc nhiên. Các thầy thuốc gia đình và những nhân viên
thực hành đa khoa thường có tần suất thǎm tại nhà cao nhất, ngay cả trong
trường hợp chỉ là những cuộc viếng thǎm không thường xuyên như qui định.
Các bác sĩ
mới tết nghiệp thường ít đến thǎm tại nhà hơn là các bác sĩ lớn tuổi
. Mở phòng mạch chi phí cao, đi thǎm bệnh nhân tại nhà thì hiệu xuất thấp,
được trả giá thấp và những ý nghĩ là chất lượng bị tổn hại thường được kể là
những trở ngại cho các thầy thuốc thǎm tại nhà.
Tuy vậy, những người bệnh biết giá trị của chǎm sóc tạ
i nhà bao gồm
cả thǎm khám bệnh tại nhà của các thầy thuốc. Những người già cả muốn
được chǎm sóc tại nhà riêng của họ hơn là phải đến các cơ sở, chưa tính đến
những khó khǎn vô vàn để đi đến được nơi đó. Hơn nữa, những người bệnh
trẻ hơn thường coi mỗi cuộc thǎm viếng tại nhà như là một sự kiệ
n tạo sự ràng
buộc của họ với một thầy thuốc, những thầy thuốc đã đến thǎm khám chữa
bệnh tại nhà thường hiểu biết người bệnh sâu hơn. Trong tương lai, khi số
người già tǎng lên, việc chǎm sóc tại nhà của thầy thuốc có thể sẽ lại phát
triển. Gần đây Medicare trả thù lao chǎm sóc y tế cho các dịch vụ thầy thuốc
tạ
i nhà tǎng lên có lẽ sẽ tạo thuận lợi cho sự phát triển theo chiều hướng này.
mà phải đi đến bệnh viện hoặc phòng khám của thầy thuốc thì thực là
vô cùng bất tiện. Vì nghỉ ngơi và thuốc men thường làm cho bệnh đỡ
nhanh nên thǎm khám, chữa tại nhà là cách tố
t nhất để bắt đầu điều trị
những bệnh nhân được lựa chọn.
- Các bệnh nhân khó hiểu hoặc có vấn đề tâm lý xã hội: Một điều hiển
nhiên phổ biến trong y học gia đình là khi một bệnh nhân đang thất
27
vọng thì người thầy thuốc phải tìm hiểu hoàn cảnh gia đình của bệnh
nhân đó. Đến thǎm tại nhà thường là cách tốt nhất để thu thập thông tin
này.
- Những người bị tàn tật vĩnh viễn, đặc biệt là những người phải nằm
tại giường: Hầu hết các thầy thuốc gia đình chǎm sóc cho những người
họ đến thǎm ở nhà là do rất khó
đưa những người này vào bệnh viện.
Các bệnh nhân bị đột quỵ nặng, sơ cứng rải rác tiến triển, các bệnh
thoái hóa như loạn dưỡng cơ đều cần phải chǎm sóc lâu dài tại giường.
Những người sǎn sóc trong gia đình thường không tiếc gì để giữ người
thân của họ ở nhà sẽ rất cảm kích khi một thầy thuốc đến thǎm nhà
mình.
- Nhữ
ng bệnh nhân mới cao tuổi bị mắc nhiều bệnh tật: Các cuộc
thǎm khám ở tại nhà cho người già góp thêm một tầm cỡ quyết định đối
với việc đánh giá bệnh. Nhìn vào tủ thuốc và bàn để cạnh giường
thường là cách tốt nhất để biết được người bệnh đang uống thuốc gì.
Nói chuyện với những người sǎn sóc bệnh nhân và các thân nhân trong
gia đình có thể phát hi
ện những vấn đề và những điều hữu ích bất ngờ.
Cuối cùng, một cuộc thǎm hỏi tại nhà là cách duy nhất tìm ra những
các cú điện thoại mời đến nhà. Điều này có thể hiểu được. Việc có sẵn nhân
viên điều dưỡng, khoa điện quang, phòng xét nghiệm và các khoa phòng hỗ
trợ làm cho môi trường bệnh viện trở thành an toàn hơn đối với những người
được đào tạo thành thầy thuốc. ở tại bệnh viện việc kiểm soát được dễ dàng
hơn, khác với khi đến thǎm khám tạ
i nhà, bệnh nhân được ở ngay trên mảnh
đất riêng của họ.
29
Các sinh viên và người bác sĩ thường trú bǎn khoǎn về việc cần đem
thiết bị gì đến nhà bệnh nhân khi có điện thoại gọi. Có bảng danh sách những
thứ cần có của túi đi khám bệnh tại nhà đã được xuất bản nhưng số lượng
trang bị thực sự cần thiết đem theo lại tuỳ thuộc vào loại thǎm khám tại nhà.
Đến thǎm để đánh giá nói chung chẳ
ng cần gì nhiều hơn là đôi mắt, đôi tai của
thầy thuốc và có lẽ 1 cái ống nghe bệnh. Đến thǎm để điều trị đòi hỏi phải có
thuốc men, đơn thuốc để kê đơn, hoặc một trang thiết bị gì đó (ví dụ, một bộ
ống thông cho bệnh nhân có ống thông Foley cần thay thế).
Cách tốt nhất để khắc phục nỗi e ngại đi thǎm khám bệ
nh nhân tại nhà
là cứ làm rồi quen. Bạn bắt đầu cảm thấy dễ chịu sau khi bạn thực hiện được
24 lần tới thǎm khám tại nhà cho những bệnh nhân khác nhau. Như vậy, tự
bạn được cổ vũ tìm kiếm và tranh thủ các mặt ưu việt của những cơ hội đến
thǎm khám tại nhà. Những cơ hội đó ngày càng tǎng lên vì bạn được gặp gỡ
bệnh nhân. Đồng thời, những khía cạnh tế nhị của thǎm khám tại nhà cần
nhiều nǎm mới hoàn thiện được, do đó bạn được khuyến khích tìm kiếm cơ
hội để có những cuộc thǎm khám kết hợp với một thầy thuốc cộng đồng giàu
kinh nghiệm, một người cùng khoa hoặc một người cung ứng chǎm sóc sức
khỏe tại nhà [57].
1.6.2. Khởi đầ
ng cụ thể thích hợp với việc chǎm
sóc cho một người tại nhà. Những kiến thức và kỹ nǎng này bao gồm:
- Đánh giá các hoạt động trong cuộc sống hàng ngày (ADLs - Activities
of daily living) và các hoạt động có dụng cụ trong sống hàng ngày
(IADLs - Instrumental activities of daily living).
- Đánh giá môi trường tự nhiên.
31
- Đánh giá về mặt xã hội.
- Hiểu biết về các dịch vụ chǎm sóc tại nhà đã có sẵn ở cộng đồng.
- Nǎng lực xây dựng một kế hoạch điều trị toàn diện.
- Một số hiểu biết về lợi ích của Medicare và những dịch vụ gì được
Medicare cung ứng tại nhà.
Các hoạt động trong cuộc sống hàng ngày (ADLs) bao gồm
ǎn uống,
mặc quần áo, đi vệ sinh, khả nǎng chuyển từ giường nằm hoặc ghế sang tư thế
đứng và khả nǎng đi dạo quanh nhà. ở gia đình bệnh nhân, người thầy thuốc
có thể quan sát được một hoặc một số hoạt động của người bệnh để đánh giá
nǎng lực cá nhân thực hiện chức nǎng một cách độc lập.
Các hoạt động có dụng cụ trong cuộc sống hàng ngày (IADLs) bao gồm
đi chợ và cửa hàng, nấu bếp, lau nhà cứa, gọi điện thoại, trả tiền các biên lai
và lái xe hơi. Người thầy thuốc nhặt ra những đầu mối các vấn đề về IADLs
bằng cách quan sát thư không mở, báo chí còn rải rác ở sân trước hoặc nhà
không có người trông nom.
Đánh giá môi trường cần phải có con mắt quan sát. Tình trạng sạch sẽ
và trang trí cho thấy những tâm tính và thói quen c
ủa gia đình. Đối với những
người có con cái nhỏ ở nhà, ta có thể quan sát những điều liên quan đến an
toàn như có những bảo vệ ở lối ra vào, đặt các chất độc hại ở trên giá cao.
Phải tìm ra được chuông báo động khói và lửa. Bình cứu hoả phải có ở trong
t
kế hoạch chǎm sóc tại nhà tốt thường nhằm vào những nhu cầu y tế trong môi
trường gia đình và hoàn cảnh xã hội. Đối với những bệnh nhân phải quản lý
tại nhà, cả người chǎm sóc và bệnh nhân cần phải được quan tâm.
Nhiều thầy thuốc gia đình là thành viên của đội đa khoa không chính
thức của cộng đồng, thông qua sự sát nhập với một cơ quan y tế tư nhân hoặc
33
công cộng. Các thành viên chủ yếu của đội nói chung gồm một thầy thuốc,
một nhân viên xã hội và một y tá gia đình. Các thành viên bổ sung của đội có
thể bao gồm một nhà vật lý trị liệu, nghề nghiệp trị liệu và các chuyên gia y tế
khác. Thường thường họ cùng với thầy thuốc thực hiện một kế hoạch chǎm
sóc chung, nhưng khi có sự tham gia của một cơ quan chǎm sóc sức khỏe tại
nhà thì "Người quản lý ca bệnh" sẽ vạch ra một kế hoạch trước hết để một
thầy thuốc duyệt rồi mới thực hiện. Các thành viên của đội thường liên lạc với
nhau bằng điện thoại. Tuy nhiên, khi công việc chǎm sóc tại nhà tǎng quá
nhiều, người ta gặp nhau hàng tuần, thường vào lúc ǎn sáng để xem xét lại các
bệnh nhân cùng với nhân viên của cơ quan chǎm sóc tại nhà.
Các thầy thuố
c thường thấy những nhân viên xã hội, những người quản
lý ca bệnh và những người hành nghề y tế khác là những người hiểu biết về
môi trường và hệ thống hỗ trợ người bệnh. Họ quan tâm lãng nghe điều thầy
thuốc nói. Họ sẵn sàng giúp người bệnh làm theo lời khuyên về y tế. Họ có
thể thông báo những biến đổi thể chất và tâm lý trong cuộc sống của người
bệ
nh. Thái độ của các thầy thuốc khi nói chuyện với những người hành nghề
chuyên môn này sẽ là một yếu tố quan trọng trong việc chia sẻ và sử dụng
thông tin như thế nào. Tôn trọng sự am hiểu của những người này là một cách
để thu được tin tức có ích về bệnh nhân và giúp cho việc thực hiện kế hoạch
điều trị [57].