Sơ đồ 3.8. Cách tiếp cận theo mô hình trình diễn
(Cải biên từfarrington và Martin, 1988 -Nguyễn Bá Ngãi, 1998)
• Cách tiếp cận theo khuyên nông khuyến lâm lan rộng Đây là cách tiếp cận dựa trên cách
tiếp cận: Từ nông dân nên nông dân, bắt đầu được thử nghiệm và áp dụng từ giữa thập
kỷ 80. Từ năm 1995 Chương trình hợp tác lâm nghiệp Việt Nam - ThuỵĐiển đã thử
nghiệm và áp dụng khuyến nông khuyến lâm lan rộng ở một. số tỉnh miền núi phía Bắc
dựa trên hình thức khuyến lâm từ ngườ
i dân. Phương pháp này đang góp phần khắc phục
những tồn tại chính hiện nay của hệ thống khuyến nông khuyến lâm nhà nước là chưa có
khả năng với tới được tất cả các thôn bản. Khuyến nông lan rộng dựa vào việc huy động
nông dân và các tổ chức địa phương tham gia vào việc mở rộng công tác khuyến cáo và
dịch vụ hỗ trợ sản xuất nông nghiệp thông qua mạng lưới hoạt động
ở địa phương. Theo
cách tiếp cận này, vai trò của người dân, cộng đồng là trung tâm trong các hoạt động phổ
cập, mở rộng, đặc biệt là khả năng tự quản lý và điều hành các hoạt động khuyến nông
khuyến lâm của người dân và cộng đồng. Cách tiếp cận này đòi hỏi phải tăng cường đào
tạo cho nông dân, hình thành các tổ chức khuyến nông khuyến lâm thôn bản như: nhóm
quản lý, nhóm cùng sở thích. Trong giai
đoạn đầu yêu cầu
phải lựa chọn các thôn điểm, phát động quá trình lan rộng từ thôn này sang thôn khác và
luôn tổng kết và bổ sung kinh nghiệm (Sơ đồ 3.9).
Sơ đồ 3.9. Tiếp cận theo khuyên nông khuyến lâm lan rộng
(Phạm Vũ Quyết, 1997)
3.5.4.3. Hệ thống khuyến nông khuyên lâm từ người dân
Hiện nay đang tồn tại hai hệ thống khuyến nông khuyến lâm là:
-Hệ thống khuyến nông khuyến lâm theo cấu trúc chiều dọc Đây là hệ thống khuyến
nông khuyến lâm chính thức của nhà nước theo quan hệ thứ bậc: Trung ương có Trung
lâm nhà nước Ở một số địa phương đã thành lập một số câu lạc bộ sau:
Câu lạc bộ thuộc hội nông dân.
Câu lạc bộ do chính nông dân lập ra.
Câu lạc bộ thành lập với sự hỗ trợ của khuyến nông khuyến lâm nhà nước.
- Nhóm nông dân cùng sở thích Đây là hình thức tổ chức rất phổ
biến ở các tỉnh miền
Bắc, được hình thành trên
cơ sở cùng chung một quan tâm hay điều kiện khả năng của các nông dân trong thôn bản,
như các nhóm sở thích sau:
Nhóm sở thích về trồng rừng và quản lý bảo vệ rừng.
Nhóm sở thích về cây ăn quả.
Nhóm sở thích về chăn nuôi.
Nhóm quản lý tín dụng thôn bản.
Nhóm sử dụng nước.
Nhóm sản xuất theo cùng ngành nghề.
+ Nhóm sản xuất theo dòng họ hay cụm dân cư Mỗi nhóm sở thích thường chọn ra một
nhóm trưởng làm nhiệm vụ liên lạc giữa các thành viên của nhóm và các cán bộ, tổ chức
khuyến nông khuyến lâm bên ngoài. - Nhóm quản lý khuyến nông khuyến lâm thôn bản
Mỗi thôn thành lập nhóm quản lý khuyến nông khuyến lâm thôn. Thành viên của nhóm
này từ 3 đến 5 người do dân bầu và tham gia tự nguyện. Thông thường họ là trưởng các
nhóm cùng sở thích. Nhóm này có trách nhiệm đôn đốc các hoạt động khuy
ến nông
khuyến lâm trong thôn và các nhóm cùng sở thích, làm cầu nối với ban khuyến nông
khuyến lâm xã hay ban quản lý dự án của xã (nếu xã có dự án) và có
quan hệ trực tiếp với các tổ chức khuyến nông khuyến lâm bên ngoài. Nhóm quản lý
khuyến nông khuyến lâm thôn bản phải có quy chế hoạt động.
-Ban quản lý khuyến nông khuyến lâm xã Mỗi xã cần thành lập ban quản lý khuyến
nông khuyến lâm. Ban này là một tổ
góp phần thành công của các hoạt động. Để làm tốt điều đó thúc đẩy cộng đồng là việc
làm cần thiết không thể thiếu.
4.1.2. Tiến trình
Thúc đẩy (Facilitating) là các hoạt động khuyến khích, động viên, lôi kéo và tăng
cường sự giao tiếp từ một đối t
ượng này sang một đối tượng khác. Như vậy thúc đẩy thực
ra là một quá trình giao tiếp. Tuy nhiên trong quá trình giao tiếp người ta nhấn mạnh nhiều
hơn sự trao đổi thông tin hai chiều, còn thúc đẩy người ta nhấn mạnh nhiều hơn đến thông
tin một chiều.
Thúc đẩy có các ý nghĩa như sau trong phát triển nông lâm nghiệp và nông thôn:
Thúc đẩy là cơ sở để tạo ra sự chia sẻ thông tin trong nhóm;
Thúc đẩy là cơ sở để chuyển từ quá trình bị
động sang chủ động trong học tập;
Thúc đẩy tạo ra niềm tin và hào hứng trong học tập;
-Thúc đẩy là một công cụ quan trong để thực hiện toàn bộ các hoạt động phát triển
nông lâm nghiệp, như phát hiện các vấn đề, ý tưởng, lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và
giám sát đánh giá.
Dự án hỗ trợ LNXH từ năm 1996 - 2004 do Chính phủ Thuỵ Sỹ tài trợđã hỗ trợ Khoa
Lâm nghi
ệp, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên tiến hành nhiều hoạt động phát triển
cộng đồng có sự tham gia như thúc đẩy hội họp, thúc đẩy đánh giá nông thôn, thúc đẩy tạo
lập nhóm sở thích, thúc đẩy tìm hiểu ý tưởng, thúc đẩy tập huấn kỹ thuật, quản lý rừng
cộng đồng và xây dựng các mô hình nông lâm kết hợp. Từ kết quả thực hiện đó chúng tôi
rút ra được quy trình thúc đẩy cộng đồng theo các bước sau:
B
ước 1. Công tác chuẩn bị
Đối với người thúc đẩy căn cứ vào kết quả và mục đích cần đạt của hoạt động cần
xác định rõ các công cụ sử dụng trong thúc đẩy là gì? Đặt câu hỏi, động não, thảo luận
nhóm, biểu 2 mảng, biểu 4 mảng, sơ đồ SOWT hay sơ đồ tư duy? Từđó chuẩn bị đầy đủ
Sau 5 năm thực hiện thúc đẩy cộng đồng tham gia vào các hoạt động quản lý bảo vệ
rừng, canh tác bền vững trên đất dốc, chúng tôi đã thực hiện được một số kết quả sau:
Điều tra đánh giá nông thôn, được 10 thôn
đó là: thôn Bản Vài, thôn Nữ Niểng. Nà Niềm
xã Khang Ninh, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kim (7/1999) ; thôn Cây Khế, thôn Đá Mài, thôn
Gia Trống, thôn Phố Trào xã Yên Đổ, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên (5/1999) ; thôn
Vầu, thôn Dạt xã Văn Lăng, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (4/2000) ; thôn Vang, thôn
Nhâu xã Liên Minh, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (6/2001), các kết quảđiều tra đánh
giá này được người dân sử dụng để xây dựng các kế hoạch phát triển nông lâm nghiệp, từ
các nguồn vốn hỗ trợ trong và ngoài n
ước.
Đã thúc đẩy thành lập được 5 nhóm sở thích đó là: Nhóm nông lâm kết hợp. Nhóm
phát triển rừng, Nhóm phát triển chè, Nhóm chăn nuôi thú y và Nhóm trồng cây ăn quả tại
thôn Vầu xã Văn Lăng, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Hiện nay nhóm đang tồn tại
phát triển tết có nhiều đóng góp nâng cao đời sống cho chính họ từ các hoạt động sản xuất
cây giống lâm nghiệp, cây ăn quả, làm giàu rừng, xây dựng mô hình nông lâm kết hợp,
gây trồng m
ộc nhĩ, trồng cây ăn quả, nuôi lợn, gà,
Sau đây là một số kinh nghiệm trong thúc đẩy tạo lập nhóm sở thích:
Bước 1. Thâm nhập cộng đồng và phát hiện nhu cầu
Đây là giai đoạn đầu tiên nhằm thu thập, phân tích thông tin, phát hiện nhu cầu của
cộng đồng. Chúng tôi đã sử dụng một số công cụđánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA)
để cùng làm việc với người dân như:
-Xây dựng sơ đồ sử dụng
đất và sơ đồ xã hội của thôn bản;
-Điều tra luyến (đi lát cắt) của thôn;
-Xây dựng biểu đồ mô phỏng xu hướng thay đổi tỷ trọng các thành phần trong cơ cấu
thu nhập của hộ gia đình hiện tại và dựđoán cho 5 đến 10 năm sau;
-Phân loại và phân tích kinh tế hộ gia đình;
-Phỏng vấn cá nhân, nhóm. Bằng những công cụ trên, cán bộ làm công tác phát triển nhóm
-Tiêu chuẩn người lãnh đạo nhóm là gì?
-Người lãnh đạo nhóm có những trách nhiệm gì? Sau khi thảo luận những câu hỏi này, các
thành viên trong nhóm có cơ sở xác định được sự cần thiết phải có người điều hành nhóm,
ai trong nhóm có thể tham gia làm lãnh đạo nhóm. Hãy đề nghị họ tự bầu ra nhóm tr
ưởng
và nhóm phó. Khi nhóm đã có nhóm trưởng, nhóm phó, mọi hoạt động tiếp cần giao cho
nhóm trưởng nhóm phó điều hành càng sớm càng tết. Người làm công tác phát triển nhóm
đóng vai trò của người thúc đẩy, quan sát không được gợi ý và đưa ra bất cứ một quyết
định áp đặt nào.
Hãy đề nghị nhóm bắt đầu công việc của họ bằng cách để cho lãnh đạo nhóm điều
hành thảo luận các chủ đề như:
-Mục đích của nhóm là gì?
-Các bạn mong đợi gì khi tham gia nhóm cùng sở thích này?
-Người tham gia hoạt động nhóm có trách nhiệm gì và có quyền lợi gì? Nên khuyên
họ lựa chọn một thư ký ghi chép những ý kiến thảo luận và những thống nhất chung của
nhóm. Khi nhóm thảo luận người điều h, anh và người làm công tác phát triển nhóm cần
lắng nghe, có thể đặt thêm những câu hỏi phụ để làm sáng tỏ những vấn đề thảo luận hơn.
Nên duy trì thảo luận từng chủ
đề một. Hãy tạo cơ hói cho phụ nữ, những người nghèo
tham gia thảo luận bằng các câu hỏi có liên quan.
Khi thảo luận mọi thành viên trong nhóm có sự hiểu biết rõ ràng, có sự thống nhất về
mục đích, quyền lợi và trách nhiệm của mỗi thành viên, đó chính là động lực của họ tham
gia nhóm cũng như tin tưởng vào kết quả hoạt động tốt đẹp trong tương lai của hoạt động
nhóm. Vì th
ế mà mức độ tham gia tăng lên ở những chủ đề thảo luận tiếp như: Chúng ta
cần làm những gì để tăng thu nhập từ hoạt động sản xuất mà mọi người đang quan tâm?
Đây chính là thảo luận nội dung hoạt động của nhóm hay còn gọi là chương trình hành
động của nhóm. Kinh nghiệm cho thấy các thành viên thảo luận rất sôi nối chủ đề này và
thường đưa ra nhiều hoạt động tạ
o thu nhập từ lĩnh vực sản xuất đã chọn. Người phát triển
ủa việc xây dựng kế hoạch hoạt động của nhóm. Có kế hoạch hàng năm, hàng quý và
hàng tháng. Qua xây dựng kế hoạch mọi thành viên đều có điều kiện thảo luận sâu về từng
hoạt động mà họ dự kiến làm như:
- Chúng ta làm việc này khi nào? Ởđâu?
-Làm việc này chúng ta cần những gì? Chúng ta đã có những gì, những gì còn thiếu?
-Làm việc này bằng cách nào?
-Kết quả mong đợi từ hoạt động này là gì?
-Ai là người ch
ịu trách nhiệm?
Những ai nên tham gia?
Những thuận lợi, khó khăn và rủi ro của hoạt động này là gì? Kết quả thảo luận này
nên tổng hợp thành biểu viết lên giấy to để mọi người tiện theo dõi.
Bảng lập kế hoạch phải được ghi chép rõ ràng, lưu lại ở ban quản lý nhóm, những
người hỗ trợ, căn cứ vào kế hoạch dài hạn mà cuộc họp hàng quý, hàng tháng cụ thể hoá
các hành động, xây dựng kế hoạ
ch chi tiết hơn.
Lập kế hoạch còn giúp cho các nhà phát triển nhóm có kế hoạch hỗ trợ, hỗ trợ theo
nhu cầu mà nhóm đã thống nhất đưa ra theo thảo luận giữa nhóm và cán bộ phát triển
nhóm từ khi lập kế hoạch.
Bước 5. Tổ chức thực hiện và giám sát đánh giá
Các nhóm sở thích, tiến hành tổ chức thực hiện trên nguyên tắc tuân thủ theo kế
hoạch đã được lập. Trong đó ngườ
i dân là người tổ chức thực hiện và giám sát đánh giá,
theo định kỳ. Kết quả thực hiện, giám sát được ghi chép một cách đầy đủ vào sổ theo dõi
đã được nhóm thiết kế thống nhất. Hàng năm tiến hành đánh giá hai lần (sơ kết và tổng
kết) với mục đích đánh giá những kết quảđã làm được, xác định những vấn đề bất cập
trong quá trình tổ chức thực hiệ
n, tìm hiểu những nhân tốảnh hưởng đến những bất cập đó
và điều chỉnh các hoạt động sao cho phù hợp, kịp thời. Trong quá trình tổ chức thực hiện
và giám sát đánh giá, người cán bộ kỹ thuật chỉ là người đóng vai trò tư vấn và thúc đẩy
-Tín dụng cộng đồng, thị trường; Lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát đánh
giá;
-Xây dựng các mô hình quản lý và sử dụng đất.
Các hình thức tổ ch
ức cũng rất đa dạng như hội họp, hội thảo đầu bờ, tập huấn. tham
quan học tập. Quá trình tổ chức thực hiện được tiến hành theo các bước sau:
Bước 1. Phát hiện nhu cầu (hay còn gọi là đánh giá nhu cầu đào tạo)
Đánh giá nhu cầu đào tạo là một bước công việc quan trọng trong chu trình đào tạo
nhằm tìm ra kiến thức, kỹ năng người họ
c cần chứ không phải cái mà chúng ta có thể cung
cấp cho họ. Đánh giá nhu cầu đào tạo gồm 5 bước với sự tham gia của các bên liên quan:
-Xác định đối tượng điều tra;
-Lập kế hoạch điều tra;
-Tiến hành điều tra;
-Tổng hợp thông tin;
-Đánh giá viết báo cáo. Đối tượng điều tra là người dân, bao gồm cả nam, nữ, cơ già, có
trẻ họ là những người sống chính bằ
ng nghề nông lâm nghiệp. Nội dung điều tra: Đánh giá
nhu cầu đào tạo cần làm rõ công việc họđang làm và
sẽ làm, kiến thức và kỹ năng cần có để làm công việc đó? Những kiến thức kỹ năng còn
thiếu cần bổ sung. Kết quảđánh giá nhu cầu đào tạo được tổng hợp theo bảng sau:
Bảng 4 .1 . Kết quảđánh giá nhu cầu đào tạo
Tổ chức điều tra: Thành lập tổđiều tra gồm 2 người, họ phải được tập huấn phương
pháp điều tra và xây dựng kế hoạch thực hiện (thời gian, số lượng người, vật liệu, ngực
phụ trách).
Phân tích tổng hợp thông tin: Việc phân tích tổng hợp thông tin đề xuất khoá đào tạ
theo bảng sau:
Bảng 4.2. Kết quả đề xuất các khoá đào tạo, tập huân