Giáo trình : PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN CÓ SỰ THAM GIA TRONG PHÁT TRIỂN LÂM NGHIỆP XÃ HỘI part 3 - Pdf 19

2.3.2. Chính sách có liên quan đến đầu tư và tín dụng
Với mục tiêu quản lý và sử dụng ngày càng tốt hơn tài nguyên thiên nhiên để xóa đói
giảm nghèo, nâng cao đời sống người dân và phát triển bền vững nguồn tài nguyên thiên
nhiên, ở Việt Nam trong những năm gần đây đã có nhiều chính sách được ban hành có liên
quan đến đầu tư và tín dụng trong các hoạt động LNXH:
Thông tư số 84/2002/TT - BTC ngày 26 tháng 09 năm 2002 hướng dẫn những vấn đề
về tài chính khuyến khích phát tri
ển ngành nghề nông thôn
Nghị định số 14 - CP ngày 02 tháng 03 năm 1993 của Chính phủ về ban hành bản
quy định về chính sách cho hộ sản xuất vay vốn để phát triển nông - lâm - ngư -diêm
nghiệp và kinh tế nông thôn
Nghị định số 147/2006/NĐ - CP ngày 01 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ sửa đổi
bổ sung một sốđiều của Nghị định số 68/19981NĐ - CP ngày 03 tháng 09 năm 1998 của
Chính phủ quy định chi tiết thi hành pháp lệnh thuế tài nguyên (sử
a đổi)

2.3.3. Chính sách có liên quan đến phát triển kinh tế xã hội nông thôn
Phát triển kinh tế xã hội là một trong những mục tiêu chung của LNXH, chính vì vậy
một số chính sách từ trước tới nay của Nhà nước đã ban hành và thực thi về Lâm nghiệp
có liên quan đến phát triển kinh tế xã hội cũng không nằm ngoài mục tiêu chung trên. Đó
là giải quyết các vấn đề kinh tế của cộng đồng, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội trong
c
ộng đồng và giữ vững cân bằng sinh thái, bảo vệ môi sinh. Những chính sách đó có thể
được đề cập đến là:
-Nghị định số 66/20061NĐ - CP ngày 07 tháng 07 năm 2006 của Chính phủ về phát
triển ngành nghề nông thôn
-Thông tư số 1 1 6/2006/TT - BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 hướng dẫn thực hiện
một số nội dung của Nghị định số 6612006/NĐ - CP ngày 07 tháng 07 năm 2006 của
Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn
-Nghị quyết s
ố 73/2006/QHl 1 ngày 29 tháng 11 năm 2006 của Quốc hội khoá 1 1 ,

ải pháp và giải quyết vấn đề có hiệu quả. Tiếp
cận "có cộng đồng tham gia" cho rằng mọi người dân địa phương .cũng như.nhà chuyên
môn đều có kiến thức, kỹ năng và năng lực chuyên môn đáng kể cần được sử dụng và phải
được chú ý.
Trong khi thay đổi quan điểm truyền thống cho rằng chỉ những nhà chuyên môn mới
có sự hiểu biết có giá trị về kỹ thuậ
t, tiếp cận có cộng đồng tham gia sẽ không rơi vào sai
lầm ngược lại cho rằng chỉ có cư dân địa phương mới có kiến thức và kỹ năng thích hợp.
Tiếp cận "có cộng đồng tham gia" nhấn mạnh phương pháp cũng như kết quả. Ngay
cả những thất bại rõ rệt cũng có thể có một số lợi ích vì phương pháp dẫn đến thất bại
thường tạo nên kh
ả năng cho việc giải quyết các vấn đề xảy ra sau và hành động tốt hơn
(Peluso, Tumer và Fortmann, 1994).
3.1.2. Khái niệm sự tham gia trong LNXH
Sự tham gia là một khái niệm không phải là mới nhưng không bao giờ cũ. Nhiều học
giả cố gắng lý giải sự tham gia trong LNXH như là nền tảng ban đầu mang bản chất
LNXH của mọi loại hình lâm nghiệp. Suy rộng ra ở nhiều lĩnh vực, khái niệm của sự tham
gia được hi
ểu theo hai khía cạnh sau:
-Thứ nhất, sự tham gia mang tính triết học liên quan đến công bằng và dân chủ, nghĩa
là ởđâu không có sự tham gia thì ởđó không có công bằng và dân chủ; - Thứ hai, sự tham
gia được giải thích dựa trên một tiền đề có tính chất thực dụng hơn, rằng các chương trình
phát triển nông thôn (bao gồm LNXH) nếu không có sự hưởng ứng của người dân sẽ
không triển khai được, hoặc nếu có triển khai cũng không thể hoạt độ
ng có hiệu quả.
Từ "tham gia" có thể phản ảnh nhiều nội dung hơn là đơn thuần hiện diện, tham dự
trong các hoạt động phát triển (dưới dạng tự nguyện đóng góp lao động, vật chất, và
được trả công). Ở khía cạnh khác, tham gia có nghĩa là trở thành thành viên của một tổ
chức và tham dự các phiên họp. Quan điểm tham gia đó đã dẫn tới những cố gắng nhằm cơ
c

-Chia sẻ lợi nhuận (trong kết quả);
-Đánh giá toàn bộ (trong kiểm soát). Nói cách khác, người dân tham gia từ bước xây dựng
dự án tới lúc hoàn thành, từ bước kế hoạch hóa tới khi tiêu thụ sản phẩm. Việt Nam có câu
rằng: "Dễ tr
ăm lần không dân cũng chịu, khó nghìn lần dân liệu cũng xong". Từ ngạn
ngữ trên suy ra rằng mọi việc của làng bản, nếu dân đồng lòng cùng tham gia thì sẽ thành
công, nếu dân không tham gia thì những việc đó có dễ đến đâu, được đầu tư hỗ trợ, giúp
đỡ đến đâu đều cũng không thành công, hoặc có thành công thì cũng không lâu dài. Sự
tham
gia của người dân chính là: Mọi việc trong làng bản phải được: Dân biết, Dân bàn, Dân
làm và Dân ki
ểm tra.
-Dân cần dược biết gì?
Mọi người dân trong làng bản phải cần biết rõ hai điểm:
Thứ nhất, những gì mà cả làng bản cùng thống nhất, ưu tiên phải giải quyết, phải
làm.
Thứ hai, những gì mà Nhà nước, các tổ chức bên ngoài có thể hỗ trợ và giúp đỡ.

-Dân bàn gì ?
Mọi người dân trong làng bản cần được cùng nhau bàn bạc về các việc sau: + Bàn kế
hoạch thực hi
ện: làm cái gì?, Ởđâu?, khi nào?.
+ Bàn về nghĩa vụđóng góp của mỗi người, mỗi nhà, mỗi tổ chức trong làng bản, xã.
Bàn về cách tổ chức, quản lý như thế nào?.
Bàn về chia sẻ lợi ích ra sao.
Bàn về quy chế thực hiện, thưởng phạt của làng bản.
Bàn và thống nhất cam kết thực hiện.

-Dân làm gì?
Những người dân, hộ gia đình hay các tổ chức trong làng bản có thể làm các việ

chuyên môn như: các phòng ban ngành của huyện, tỉnh về các lĩnh vực liên quan (nông
nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi, CSHT, văn hoá, giáo dục, y tế ); các nông, lâm trường,
trạm trại; các đơ
n vị khuyến nông khuyến lâm; các chương trình dự án phát triển Sự
tham gia của những người bên ngoài luôn đóng vai trò hỗ trợ, thúc đẩy và tạo điều kiện
thông qua các hình thức sau:
Hỗ trợ vốn khi làng bản không có khả năng đóng góp thông qua hình thức hỗ trợ
vật tư vật liệu mà địa phương không có; một phần tiền công lao động nếu thấy rất cần
thiết; vốn tín dụng,…
H
ỗ trợ tư vấn thông qua cử cán bộ chuyên môn cùng với dân xây dựng kế hoạch, tổ
chức triển khai, quản lý các hoạt động, giám sát và đánh giá;
Hỗ trợ chuyển giao kiến thức và kỹ thuật thông qua tập huấn, xây dựng mô hình,
thăm quan;

-Đầu tư kỹ thuật thông qua cử cán bộ chuyên môn để thiết kế, đầu tư ban đầu về cơ
sở vật chất, vật tư thi
ết yếu như: nhà xưởng, công trình, đường xá, cây giống, con giống,
thuốc trừ sâu,
Như vậy sự tham gia của người dân là nhân tố chủ yếu dẫn sự thành công của các dự
án tại làng bản. Tuy nhiên, sự tham gia của những người bên ngoài làng bản là cơ sở và
động lực thúc đẩy cho sự thành công đó.
3.2. ĐỐI TƯỢNG THAM GIA
3.2.1. Người trong cuộc và Người ngoài cuộc
Trong lâm nghiệp truyền thống, lâm nghiệp coi như là khoa họ
c ứng dụng liên quan
với những hiện tượng tự nhiên. Do đó, những vấn đề về công nghệ có ý nghĩa cụ thể là
công nghệ khai thác rừng vừa lấy đi những cây rừng thành thục lại vừa tạo thuận lợi cho
việc xuất hiện một lớp cây tái sinh để có thể lợi dụng rừng một cách liên tục. Công nghệ
trồng rừng bao gồm chọn loài cây thích hợp với l

Chambers (1983) cho rằng, "Người ngoài cuộc" là những người có liên quan đến quá
trình phát triển nông thôn, nhưng bản thân không sống ở nông thôn và không nghèo, hiểu
biết có phần hạn chế về tình trạng nghèo khổở nông thôn. Nhiều người là quan chức, cán
bộ nghiên cứu thực địa của các cơ quan Chính ph
ủ, các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp,
nhân viên các tổ chức cứu trợ, nhà kinh doanh, bác sĩ, kỹ sư, nhà báo, luật gia, nhà chính
trị, thầy giáo, cán bộ các trường đại học, nhân viên của các tổ chức tự nguyện và các nhà
chuyên môn khác.
Trong LNXH các nhà lâm nghiệp chuyên nghiệp là người ngoài có và trò đặc biệt
quan trọng. Tuy nhiên theo Laurent Umans (1966), sự phân biệt rạch ròi : " Người trong
cuộc", và "Người ngoài cuộc" đôi lúc có thể cản trở cho việc tìm hiểu sâu sắc hơn các
cộng đồ
ng và quá trình phát triển của các hoạt động LNXH và phát triển nông thôn
(PTNN).
Sự thật, không thể xem "Người trong cuộc" và "Người ngoài cuộc" như là những
nhóm đồng nhất. "Người ngoài cuộc" có thể là tập hợp những cơ quan, tổ chức và cá
nhân có động cơ và kỳ vọng khác nhau đối với cộng đồng và đối với các hoạt động LNXH
và PTNT. "Người trong cuộc" cũng có thể bao gồm những cá nhân và nhóm có quyề
n lợi
khác nhau và do đó có những thái độ khác nhau đối với các loại tài nguyên và các tác động
khác nhau của các hoạt động LNXH và phát triển nông thôn.
3.2.2. Vai trò của "Người ngoài cuộc" và "Người trong cuộc" trong hoạt động LNXH
Trong thực tiễn hoạt động LNXH, người ta nhận thấy ba tình huống (Davis - Ca se,
1990) (Sơ đồ 3.1, Sơ đồ 3.2 và Sơ đồ 3.3).
Một là, khi Người ngoài cuộc đóng vai trò quyết định hoàn toàn, như trong các hoạt
động LNTT. Họ nhận ra vấn đề, xác định các giải pháp. Họ thiết kế dự án, đề ra mục tiêu
cung cấp các đầu vào cần thiết cho hoạt động, rồi quản lý, kiểm tra và đánh giá để xem dự
án có đạt yêu cầu mong muốn hay không. Trong hoàn cảnh đó kết quả đưa lại là đáng thất
vọng do sự hưởng ứng c
ủa cộng đồng theo thời gian mà lắng xuống, rất ít cộng đồng tiếp

3.2.3. Quan hệ giữa Người trong cuộc và Người ngoài cuộc
Tiếp cận có cộng đồng tham gia đưa ra cách làm việc "từ dưới lên" có khả năng
khuyến khích, nâng đỡ và củng cố mọi khả năng hiện có của cộng đồng để họ xác định
chính xác yêu cầu của họ, thi
ết kế dự án và thực hiện. Tiếp cận này củng cố mối quan hệ
chặt chẽ giữa Người trong cuộc và Người ngoài cuộc, giữa người hưởng lợi với cộng đồng
và cán bộ lâm nghiệp chuyên nghiệp. Quan hệ này được xây dựng trên thông tin hai chiều,
trên những truyền đạt rõ ràng và một cam kết về những gì có thể "làm được cho cộng
đồng". Quan hệ này cũng dựa trên cơ sở khái niệm, công c
ụ và phương pháp. Khái niệm
mới: Người ngoài cuộc khuyến khích Người trong cuộc tìm ra câu trả lời của chính họ;
Người ngoài cuộc được khuyến khích đáp ứng các nhu cầu đã được Người trong cuộc xác
định; Người trong cuộc và Người ngoài cuộc hợp tác cùng nhau; Người trong cuộc là
người thực hiện và quản lý dự án.
Phương pháp mới: Người trong cuộc và Người ngoài cuộc cùng nhau xác định thông
tin; phân tích và phản hồi được thực hi
ện để khuyến khích được sáng kiến của người trong
và như vậy bảo đảm sự hiểu rõ của họ; một sự nhận thức sâu hơn về dự án là có thể vì
Người trong cuộc có tầm nhìn tổng quát.
Công cụ mới: Khuyến khích thông tin hai chiều; phạm vi: có nhiều công cụ bảo đảm
cho cộng đồng có khả năng chọn được công cụ thích hợp; cách thu thập thông tin cổ
truyền được nghiên c
ứu và làm thử trước khi đưa các công cụ mới vào.
Tóm lại, quan hệ giữa Người trong cuộc và Người ngoài cuộc là quan hệ hợp tác.
Người trong cuộc và Người ngoài cuộc đều đóng góp vào sự phát triển của cộng
đồng.
Người ngoài cuộc chỉ hỗ trợ xúc tác và khuyến khích chứ không ra chỉ thị.
3.3. HÌNH THỨC VÀ CẤP ĐỘ THAM GIA
3.3.1. Hình thức của sự tham gia
3.3.1.1. Dựa trên cơ sở ai quyết định

bè. Sống với người chung quanh: khi một con người sinh sống càng lâu dài trong một ngôi
nhà, tình cảm của con người đó càng gắn bó và người ta càng cảm thấy có sự hội nhập với
những người chung quanh, làm thành một cộng đồng nhỏ. Ruyer cho rằng: "Nhu cầu cơ
bản của con người không phải giới hạn trong việc bảo tồn cơ thể, hạn định bởi lớp da của
mình mà là bảo tồn "ổ
sinh thái" và "ổ tâm lý" của mình. Một thái độ bực bội có thể xuất
hiện do những biến đổi bên trong cơ thể, nhưng cũng do những biến đổi của môi trường
bên ngoài". Con người sẽđiều tiết hành vi của

mình theo những người chung quanh. Trong trường hợp đối với những người láng giềng,
người ta chỉ yêu cầu một sự hợp tác "láng giềng tốt", còn đối với bạn bè, mức độ liên hệ có
thể bền chặt hơn (Meister, 1969).
Tham gia tự giác: Sự biến đổi từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại cũng
được đánh dấu bằng sự biến đổi từ các hình thứ
c tham gia đương nhiên và tự phát sang sự
tham gia tự giác.
Tham gia nẩy sinh: Sự tham gia là kết quả của một hoạt động vận động hay áp đặt.

Trong thực tế, đôi khi người ta nói đến sự tham gia trong những trường hợp có sự
hiện diện của một vài đại biểu của người dân trong một số phiên họp để phổ biến một chủ
trương, để triển khai một kế ho
ạch. Đó có thể là các chủ trương hay các kế hoạch được
những nhà lập định chính sách vẽ ra bằng hiểu biết của họ để giúp cho một cộng đồng có
những cơ hội phát triển. Trong nhiều trường hợp, nhiều chương trình và kế hoạch phát
triển tốn kém đã không mang lại kết quả mong đợi, vì các biện pháp thực hiện không giải
quyết các vấn đề thực của cộ
ng đồng và do đó không đáp ứng được nguyện vọng của
người dân. Trong một số trường hợp, rất có thể, đó là các chủ trương, biện pháp hay kế
hoạch đúng, song sự hình thành và cách triển khai vẫn mang tính áp đặt Trong thực tế, vấn
đề vận động người dân tham gia vào các công cuộc mang lại sự phát triển một cộng đồng

trách nhiệm của cộng đồng trong việc duy từ dự án, ví dụ tránh việc lạm dụng hay làm hư
hỏng một công trình được đầu tư. Một số cơ chế được xác lập, như giao trách nhiệm cho
những ng
ười lãnh đạo địa phương hay thành lập một ban quan quản lý. Để duy trì một
công trình, thông thường, một thỏa thuận được ký kết, nêu rõ trách nhiệm của các bên
trong dự án (chính quyền và cộng đồng). Trong thực tế, người dân không có điều kiện suy
nghĩ về các điều khoản của thỏa thuận, việc thương thảo thường bị chi phối bởi các nhà
lãnh đạo địa phương. Ngay cả khi một ban điề
u hành được cử ra, cũng không chắc rằng
những người tốt nhất trong cộng đồng sẽ được bầu.
-Chia sẻ quyền quyết định của cộng đồng: Sự tham gia sẽ chỉ đạt được hiệu quả khi các
hoạt động được thực hiện trên cơ sở quyết định của cộng đồng. Trong lâm nghiệp xã hội,
với ý nghĩa này khái niệm "tham gia" thường được nhấn m
ạnh. Nó liên quan đến sự vận
động các thành viên của cộng đồng nhắm tới các mục tiêu phát triển, sự cộng tác giữa một
bên là các nhà lập chính sách, kế hoạch, các giới chức triển khai thực hiện và bên kia là
những người được gọi là nhóm mục tiêu được hưởng lợi của một dự án. Đây là một khái
niệm có nhiều cấp độ khác nhau. Trong điều kiện lý tưởng, các cộng đồng dân cư địa
phương thuộc nhóm mục tiêu sẽ tích cực tham gia trong các giai đoạn khác nhau của dự án
phát triển lâm nghiệp xã hội, với tư cách là chủ thể của dự án. Các nhà nghiên cứu phát
triển, cán bộ khuyến lâm đóng vai trò xúc tác cho quá trình. Đây là một sự đảo ngược "lấy
dân làm gốc" thay vì khảo hướng áp đặt từ trên xuống.
3.3.2. Các cấp độ của sự tham gia
Trong thực tế, người ta có thểđánh giá các cấp độ tham gia khác nhau. Khi đề cập
đến các cấp độ của sự tham gia của cộng đồng trong quá trình hình thành các giải pháp
quản lý tài nguyên Briggs (1989), Conway (1995), Hobley (1996), Cartier (1996) đã dựa
trên mức độ kiểm soát của Người trong cuộc, tiềm lực để hành động và quyền sở hữu của
Người trong cuộc. Các cấp độ tham gia của Người trong cuộc và Người ngoài cuộc được
phân chia như trong Bảng 3.1.
Bảng 3.1. Các cấp độ của sự tham gia


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status