Giáo trình : PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN CÓ SỰ THAM GIA TRONG PHÁT TRIỂN LÂM NGHIỆP XÃ HỘI part 5 - Pdf 19


Bảng 3.2. Tiên trình và vai trò của người tham gia trong TOT (Nguồn: Nguyễn Bá Ngãi, 1999).
-Khoá đào tạo thực hành: Học trong khi làm Lớp đào tạo này được gắn vào quá trình triển
khai các hoạt động của dự án. Trong đó có đào tạo cho các nông dân chủ chốt để sau này
họ có thể tham gia trực tiếp vào việc huấn luyện cho nông dân khác thực hiện các hoạt
động dự án. Như vậy tại lớp học này có 2 đối tượng là học viên. Học viên là cán bộ cấp
huyện là người học vừa là người đ
ào tạo trực tiếp cho cán bộ huyện khác và nông dân. Với
tư cách trên họ phải thực hành giảng bài và hướng dẫn học viên dưới sự hỗ trợ của giáo
viên. Như vậy phương pháp đào tạo chủ yếu là đào tạo kỹ năng bằng thực hành thông qua
công việc
cụ thể, đánh giá và đúc rút. Những kỹ năng thiếu sẽ được bổ sung ngay trên hiện trường
dưới sự
hướng dẫn của giáo viên.
-Khoá đào tạo nâng cao Khoá đào tạo này được tiến hành gắn với tiến trình thực hiện hoạt
động dự án tiếp theo. Đây là khoá học đặt mục tiêu đào tạo nâng cao cho học viên cấp
huyện. Vì vậy trong khoá đào tạo này, học viên cấp huyện với vai trò là tập huấn viên
chính, thực

hành các kỹ năng thúc đẩy, hỗ trợ cho cán bộ cấp huyện khác và nông dân chủ chốt. Mộ
t
giáo viên của trung ương giữ vai trò giám sát, đánh giá và đúc rút.
-Các khoá đào tạo tiếp theo Sau 3 khoá đào tạo cán bộ cấp huyện trở thành các tập huấn
viên địa phương. Tiến trình như trên được lặp lại cho các khoá tiếp theo. Tuy nhiên, nội
dung và phương pháp đào tạo được gọn nhẹ hơn. Những cán bộ cấp huyện khác và nông
dân chủ chết sẽ được các tập huấn viên địa phương đào tạo và sẽ trở
thành tập huấn viên
hướng dẫn nhân dân thực hiện các hoạt động dự án. TOT rất phù hợp cho đào tạo khuyến

có kiến thức quản lý, biết tính toán hiệu quả, tổ chức sản xuất Là người trồng tr
ọt, người
nông dân thực hiện các công việc đồng áng, chăn nuôi súc vật để tạo ra của cải vật chất
cho chính mình nên người nông dân cần có các kỹ năng bằng tay, cơ bắp, bằng mắt ,
nghĩa là biết, hiểu và sử dụng thuần thục các kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi.
Bản thân mỗi người nông dân đều có kiến thức và kỹ năng thực hành vốn có, nhưng
kiến thức và k
ỹ năng đó không đủ đáp ứng đòi hỏi của kỹ thuật ngày càng cao để tạo ra
những sản phẩm của vật nuôi cây trồng ngày càng nhiều, có chất lượng cao. Do vậy người
nông dân cần phải được học hỏi và đào tạo.
Quá trình học hỏi và đào tạo được thực hiện bằng 2 con đường. Thứ nhất, học hỏi
bằng quá trình trao đổi kiến thức và kinh nghiệ
m giữa những người dân sống trong cộng
đồng và thứ hai, học tập, đào tạo kiến thức và kỹ năng mới với những người bên ngoài
cộng đồng. Do vậy, việc đào tạo, chuyển giao kiến thức cho nông dân cần chú ý mấy điểm
sau đây:
-Kiến thức và kỹ năng vốn có của mỗi nông dân và của cộng đồng.
-Kiến thức và kỹ năng mới mà nông dân và c
ộng đồng cần học hỏi và được đào tạo
từ bên ngoài.
-Các kiến thức và kỹ năng phải đáp ứng nhu cầu học hỏi về kỹ thuật trồng trọt, chăn
nuôi và quản lý.
-Con đường học hỏi và đào tạo của người nông dân bằng cả 2: trong cộng đồng và
ngoài cộng đồng.
-Quá trình đào tạo và chuyển giao kiến thức và kỹ năng mới cho nông dân phả
i xét
đến khả năng tiếp nhận của chính họ.
Vì vậy quá trình đào tạo và chuyển giao kiến thức cho nông dân bao gồm các bước
sau:
Xác định rõ nhu cầu kiến thức và kỹ năng của nông dân và cộng đồng của họ.

pháp khắc phục. Trong các khó khán và giải pháp đó có những khó khăn về kiến thức và
kinh nghiệm sản xuất và những nhu cầu
học tập. Như vậy, kế
t quả PRA cũng chỉ ra nhu cầu đào tạo và chuyển giao kiến thức 51
cho nông dân. Tuy nhiên, những nhu cầu đào tạo của nông dân thể hiện trong kết quả PRA
chưa cụ thể và chi tiết cho từng đối tượng nông dân. Mặc dù vậy cán bộ khuyến nông
khuyến lâm căn cứ vào kết quả này để có thể vạch ra các chương trình đào tạo và chuyển
giao kiến thức cho nông dân. Việc xác định nhu cầu đào tạo căn cứ bản dự thảo kế hoạch
hành động của thôn. T
ừ chương trình huấn luyện đào tạo do nông dân đề xuất xác định
được các khoá và nội dung đào tạo.
-Sử dụng kỹ thuật PRA để đánh giá nhu cầu đào tạo PRA chuyên đề đánh giá nhu cầu đào
tạo chỉ thực hiện khi cần có các thông tin chi tiết về nhu cầu đào tạo, đặc biệt là xác định
nhóm đối tượng cụ thể cho thôn, bản và các mục tiêu, nội dung và phương pháp đào tạo
cho phù hợp với từng đối tượng. Quá trình tổ chức PRA chuyên đề đánh giá nhu cầu đào
tạo cần được tổ chức linh hoạt
và sử dụng mềm dẻo các công cụ PRA thích hợp. Sau đây là một số phương pháp và công
cụ PRA thường được sử dụng trong đánh giá nhu cầu đào tạo cho nông dân:
Họp dân: Họp dân toàn thôn để xác định nhu cầu chung vềđào tạo và chuyển giao
kiến thức của toàn thôn, b
ản, xác định ưu tiên và nhóm sở thích. Nếu trong kết quả PRA
đã thể hiện rõ các nhu cầu trên thì không cần sử dụng công cụ này.
Thảo luận nhóm: Các nhóm đối tượng được xác định dựa vào các nhóm cùng sở
thích hay những người có cùng nhu cầu học vấn. Mỗi nhóm được tổ chức thảo luận nhằm
xác chi tiết nhu cầu đào tạo, nội dung và phương pháp đào tạo của từng nhóm. Nội dung
đào tạo đượ
c xác định chi tiết theo kiến thức và kỹ năng.
Phỏng vấn cá nhân: Một số cá nhân nông dân ở mỗi nhóm đối tượng được lựa chọn
để phỏng vấn. Mỗi nhóm chọn 3 - 5 nông dân có kinh nghiệm sản xuất để phỏng vấn Kỹ
thuật phỏng vấn linh hoạt được sử dụng nhằm khai thác tối đa ý kiến của nông về kiến

hình căn cứ vào khả năng kỹ thuật và nhu cầu của người dân. Kỹ thuật bản địa được quan
tâm, kiến thức địa phương được tôn trọng thông qua các phương pháp như đối thoại,
PTD Tiếp theo là phân tích tính khả thi và hiệu quả củ
a mô hình đó có sự
tham gia của nông dân.
Giai đoạn 4: Lập kế hoạch triển khai
Lập kế hoạch triển khai, phối hợp, giám sát, đánh giá và khả năng nhân rộng mô hình
NLKH. Kế hoạch được xây dựng dựa trên khả năng của cộng đồng, nhu cầu và nguyện
vọng của họ. Các yếu tố đầu vào của lập kế hoạch được nông dân xem xét, phân tích và dự
thảo kế hoạch.
Giai
đoạn 5: Tổ chức triển khai các mô hình NLKH Sự tham gia của người dân được coi
là một tiêu chí quan trọng nhất để xem xét mức độ tham gia. Người nông dân phải thực
hiện các hoạt động canh tác ngay trên mảnh đất của họ với sự giúp đỡ chuyên môn của cán
bộ tạo ra một quá trình tự thực hiện và quản lý một cách tốt nhất.
Giai đoạn 6: Giám sát, đánh giá và phổ biến
Đây là giai đoạn quan trọ
ng cho quá trình rà soát tính phù hợp để điều chỉnh và phổ
biến các mô hình NLKH. Các phương pháp giám sát và đánh giá có sự tham gia của người
dân được sử dụng để nông dân tự thuyết phục và phổ biến.
3.5.3.2. Các phương pháp tiếp cận có sự tham gia trong phát triển kỹ thuật NLKH
• Nghiên có hệ thống canh tác (FSR)
FSR xuất hiện vào đầu thập kỷ 70 khi các nhà khoa học nhận thấy việc nghiên cứu hệ
thống mùa vụ cần được th
ực hiện bằng những tổđa ngành có phối hợp với các nhà khoa
học xã hội. Việc nghiên cứu tập trung vào các hộ nông dân có ít đất, nó tạo ra khả năng cải
thiện được khả năng chuyển giao công nghệ cho nông dân để tăng cường sản xuất nông
nghiệp. Theo Farrington và Martin (1998), FSR có các đặc điểm chủ yếu sau:
-Tiếp cận giải quyết vấn đề do tổđa ngành thực hiện với sự tham gia của nông dân.
-Đánh giá được sự thay đổi về công nghệ và các ảnh hưởng tiềm năng của nó trong


Một hướng tiếp cận mới trong FSR được Knipscheer và Harwood đư
a ra năm 1988 là
lôi cuốn nông dân vào việc phân tích các kiến thức, các vấn đề và xác định ưu tiên. Quá
trình này gắn với việc chuyển từ nghiên cứu trong các trạm thí nghiệm sang nghiên cứu
ngay trên đồng ruộng của nông dân, qua đó nông dân và gia đình họđóng một vai trò tích
cực như là một "người làm thí nghiệm". Tiếp cận mới này bao gồm các cách tiếp cận như:
từ nông dân đến nông dân; nghiên cứu có sự tham gia của nông dân.
• Phương pháp phân tích hệ thống sinh thái nông nghiệp (AEA)
Phương pháp AEA do Gorden Conway xây dựng và thử nghiệm ở Thái Lan vào
những năm 1980. AEA thường được sử dụng trong các giai đoạn đối thoại và lập kế hoạch
của các chương trình phát triển. AEA được định nghĩa như là một hệ thống sinh thái được
nghiên cứu và phân tích nhằm tìm kiếm các giải pháp để sản xuất lương thực và các sản
phẩm nông nghiệp có hiệu quả nhất. Như vậy AEA không những có đặc
điểm vật lý sinh
học mà còn bao gồm các thành phần kinh tế xã hội. AEA còn được coi như là điểm khởi
đầu của việc chuyển từ tiếp cận truyền thống trong FSR sang nghiên cứu tổng hợp trong
phát triển nông thôn.
Theo Conway (1985) AEA phải đảm bảo 4 nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc năng suất: đảm bảo thay đổi năng suất kinh tế theo chiều dương được
thể hiện qua sản lượng hay thu nhập thuần trên m
ỗi đơn vị tài nguyên khi thực hiện các
biện pháp;
Nguyên tắc ổn định: năng suất kinh tế được giữổn định mặc dù có những ảnh
hưởng của môi trường như khí hậu, điều kiện kinh tế như thị trường;
Nguyên tắc bền vững: đảm bảo khả năng của một hệ thống luôn giữ năng suất lâu
dài trên cơ sở sử d
ụng lâu bền các nguồn lực;
Nguyên tắc công bằng: đảm bảo quyền sử dụng các nguồn lực, sự tham gia và phân
chia lợi ích.

oán các vấn đề quản lý
đất và thiết kế xây dựng các vấn đề nông lâm kết hợp. Phương pháp này dược tổ chức
ICRAF xây dựng và hoàn thiện nhằm tư vấn cho các nhà nghiên cứu về nông lâm kếthợp
và những người làm khuyến nông khuyến lâm hiện trường trong thiết kế và thực hiện
nghiên cứu có kết quả cũng như phát triển các dự án.
Theo ICRAF (1987), quy trình cơ bản của D&D bao gồm 5 bước sau được mô tả
trong Bảng 3.4.
Bảng 3.4. Quy trình của D&D Những qui trình này được lặp lại trong suất quá trình thực hiện dự án nhằm cải tiến
những chuẩn đoán ban đầu và hoàn thiện thiết kế kỹ thuật bằng những thông tin mới.
D&D có một số vấn đề then chốt sau:
-Sự mềm dẻo: D&D là một phương pháp nhằm phát hiện các vấn đề mà phương
pháp đó có thể thích hợp để thoả mãn các nhu cầu và phù hợp với các nguồn tài nguyên
của đại đa số những người sử dụng đất khác nhau.
Tính tốc độ: D&D được xây dựng nhằm cho phép có được sự "đánh giá nhanh" áp
đụng cho những giai đoạn k
ế hoạch của dự án với sự phân tích theo chiều sâu đồng thời
với thời gian thực hiện dự án.
Tính lặp lại: D&D là một quá trình học hỏi, rút kinh nghiệm từ khi bắt đầu đến khi
kết thúc. Từ những thiết kế ban đầu, chúng luôn được cải tiến, quá trình D&D được cải
tiến liên tục đến khi những cải tiến được công nhận là không cần thiết nữa.

3.5.4. Tiế
p cận có sự tham gia trong khuyến nông khuyến lâm
3.5.4.1. Vai trò của khuyến nông khuyến lâm
Để phát triển sản xuất, người nông dân và cộng đồng của họ cần có kiến thức, động
cơ nguồn lực và nhân lực, Vai trò chuyển đổi xã hội của khuyến lâm được thể hiện thông
qua việc nâng cao nhận thức, trình độ cho nông dân, từđó góp phần tăng sản xuất lương

quan hệ này khuyên nông khuyến lâm được coi như là phương pháp tiếp cận phát triển
nông thôn và cũng là một công cụ, phương tiện llữll hiện để phát triển nông nghiệp. Để
khuyến nông khuyên lâm thực sự trở thành cần nôi vùng chắc, một công cụ phát triển và
phương pháp tiếp cận thì các phương pháp tiếp cận có sự tham của người dân giữ một vai
trò hết sứ
c quan trọng trong khuyên nông khuyến lâm .

Sơ đồ 3.6. Vị trí của khuyên nông khuyên lâm
(Nguyễn Bá Ngãi, 1998)
3.5.4.2. Các cách tiếp cận chủ yếu trong khuyên nông khuyên lâm
Trong khuyến lâm có 2 hình thức tiếp cận chủ yếu là tiếp cận từ trên xuống và tiếp
cận từ dưới lên. Mỗi hình thức tiếp cận có những đặc thù và phù hợp với từng thời kỳ phát
triển.
Tiếp cận khuyến lâm từ trên xuống hay từ bên ngoài vào, còn gọi là tiếp cận theo mô
hình chuyển giao. Ở giai đoạn đầu phát triển khuyến lâm hình thức ti
ếp cận này rất phổ
biến, nó gắn liền với các quá trình như chuyển giao kiến thức hay chuyển giao công nghệ
cho nông dân. Đặc trưng của cách tiếp cận này là các tiến bộ của kỹ thuật và công nghệđã
được các nhà chuyên môn nghiên cứu và có thể triển khai theo diện rộng. Tuy nhiên tiếp
cận theo mô hình này thường bộc lộ những hạn chế như mang tính áp đặt, không căn cứ
vào nhu cầu của dân, cán bộ khuyến lâm coi khuyến lâm là mộ
t quá trình giảng dạy một
chiều cho nông dân, mang tính chất truyền bá kiến thức hơn là một quá trình học hỏi và
cùng phát triển với nông dân.
Tiếp cận khuyến lâm từ dưới lên hay tiếp cận khuyến lâm từ trong ra là cách tiếp cận
từ nông dân dấn nông dân lấy người dân làm trung tâm, nhằm lôi kéo người nông dân
tham gia vào quá trình phát triển kỹ thuật mới ngay trong đất đai của họ. Trong cách tiếp
cận này vai trò của người dân được chú trọng từ việc xác
định nhu cầu, đến tổ chức và
giám sát quá trình thực hiện.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status