LuËn v¨n tèt nghiÖp Ph¹m ThÞ QuÕ
33
Các loại trợ cấp
- Mai táng phí : chung cho tất cả mọi người chết là bằng 8 tháng tiền
lương tối thiểu.
- Trợ cấp 1 lần : người lao động chưa đủ 15 năm đóng BHXH hoặc
thân nhân chưa đủ điều kiện hưởng trợ cấp hàng tháng. Mức trợ cấp là mỗi
năm đóng BHXH thì được một tháng tiền lương bình quân làm căn cứ đóng
BHXH nhưng không quá 12 tháng.
Đối với người đang hưởng hưu chết mà thân nhân không đủ điều kiện
trợ cấp hàng tháng thì nếu chết trong năm hưởng hưu thứ nhất thì được
hưởng 12 tháng lương hưu. nếu chết từ năm hưởng hưu thứ 2 trở đi, mỗi
năm đã hưởng BHXH giảm đi một tháng lương, nhưng tối thiểu cũng bằng
3 tháng lương hưu.
- Trợ cấp tuất hàng tháng : khi thân nhân của người đủ điều kiện
hưởng trợ cấp hàng tháng ở vào một trong các trường hợp sau:
+ Con chưa đủ 15 tuổi hoặc đến 15 tuổi nếu đang đi học.
+ Bố mẹ đẻ, bố mẹ vợ chồng đã hết tuổi lao động (nam đủ 60 tuổi, nữ
đủ 55 tuổi).
Mức trợ cấp được hưởng đối với mỗi thân nhân bằng 40% tiền lương
tối thiểu nhưng không quá 4 suất. Những người cô đơn, không người nuôi
dưỡng thì được trợ cấp bằng 70% tiền lương tối thiểu.
BHXH huyện còn chịu trách nhiệm quản lý đối tượng là người về
hưu, lão thành cách mạng và mất sức lao động. Khi những người này chết
thì thân nhân tiến hành làm hồ sơ xin hưởng tiền tuất tuỳ theo điều hưởng
một lần hoặc hàng tháng. Chi trả BHXH ở BHXH huyện chủ yếu là cho đối
tượng hưu là công nhân viên chức chiếm tỷ lệ lớn còn lại là hưu trí quân
đội và lão thành cách mạng chiếm tỷ lệ nhỏ. Các đối tượng hưởng chế độ
tuất trên địa bàn huyện như sau:
Bảng 10: Chi trả chế độ tử tuất 2000-2002
2000 836 116 812.990
95.746 - - - -
2001 865 89 969.908
97.744 +156.918
+ 1.980 19,30 2,07
2002 871 60 880.939
131.163 - 88.969 +33.419 9,17 34,19
(Nguồn số liệu: BHXH huyện Cẩm Xuyên.)
Qua bảng số liệu trên chúng ta thấy từ nguồn ngân sách Nhà nước và
từ nguồn quỹ bảo hiểm xã hội :
Trong năm 2001 nguồn ngân sách Nhà nước chi trả lớn hơn nguồn
quỹ BHXH cụ thể là tăng 156.918.000 đồng tức là tăng 19,30 so với năm
2000 và nguồn quỹ BHXH cũng tăng nhưng với số tiền bé hơn là 1.980.000
đồng hay tăng 2,07% . Nguyên nhân hai nguồn này tăng lên là do chi trả
cho con của người lao động bị chết chưa đủ 15 tuổi hoặc bố, mẹ, vợ hoặc
chồng người nuôi dưỡng hợp pháp đã hết tuổi lao động.
Năm 2002 số tiền trợ cấp từ nguồn quỹ BHXH cũng tăng 33.419.000
đồng tức là tăng 34,19% so với năm 2001. Nhưng số tiền trợ cấp đối với
nguồn NSNN giảm 88.969.000 đồng hay giảm 9,17% (so với năm 2001).
Nguyên nhân giảm là qua quá trình rà soát hồ sơ của các đối tượng hưởng
tuất, BHXH huyện phát hiện và cắt giảm kịp thời một số lượng tương đối
lớn các đối tượng ở tuổi trưởng thành hết hạn hưởng.
g. Chế độ Tai nạn lao động và Bệnh nghề nghiệp (TNLĐ - BNN)
Nghị định 12/CP của Chính phủ quy định :
Trường hợp được xác định là TNLĐ và BNN.
- Người bị TNLĐ và BNN có đủ điều kiện được hưởng trợ cấp hưu trí.
Cùng với sự phát triển kinh tế, điều kiện lao động và cống tác an toàn
vệ sinh lao động trong các doanh nghiêp ở nước ta hiện nay đã có sự thay
đổi đáng kể. Mặc đã có nhiều cải cách nhưng để xoá bỏ hoàn toàn TNLĐ
và BNN là điều không thể. Vì vậy chế độ này được quan tâm đặc biệt ở
những nước thực hiện BHXH đối với người lao động.
Kết quả chi trả chế độ trợ cấp TNLĐvà BNN tại BHXH huyện như sau :
Bảng 11: Chi trả chế độ TNLĐ- BNN 2000-2002
CHỈ TIÊU SỐ TIỀN TĂNG GIẢM QUA CÁC
NĂM
SỐ NGƯỜI
ĐƯỢC HƯỞNG
TRỢ CẤP
SỐ TIỀN TRỢ
CẤP
(ĐV :1000 đồng)
SỐ TIỀN
(ĐV :1000 đồng)
TỶ LỆ(%) NĂM
NSNN QBHXH NSNN QBHXH NSNN QBHXH
NSNN QBHXH
2000 16 19 19.558 18.208 - - - -
2001 16 15 29.019 25.078 +9.461 +6.870 48,37 37,73
2002 15 10 26.515 30.931 -2.504 +5.853 8,63 23,34
dẫn những người làm chế độ. Công tác chi trả các chế độ BHXH ngày càng
được cải thiện, việc chi trả diễn ra nhanh chóng kịp thời, an toàn và chính
xác. Chính vì vậy đã được đông đảo những người hưởng chế độ hoan
nghênh, tạo niềm tin đối với BHXH tỉnh Hà Tĩnh.
LuËn v¨n tèt nghiÖp Ph¹m ThÞ QuÕ
37
CHƯƠNG III
MỘT SỐ GIẢI PHÁP
BHXH Việt Nam là ngành mới được thành lập theo NĐ 19/CP ngày
16/2/1995 của Chính phủ để giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo công tác
quản lý BHXH và thực hiện các chế độ, chính sách BHXH theo pháp luật
của Nhà nước. Ngay từ những ngày đầu mới thành lập, BHXH Việt nam đã
nhanh chóng ổn định tổ chức và từ ngày 01/10/1995 toàn bộ hệ thống
BHXH Việt nam đã chính thức đi vào hoạt động. Đến nay, mặc dù bước
đầu còn gặp nhiều khó khăn nhưng BHXH đã có nhiều cố gắng và đạt được
những thành tích nhất định, khẳng định được vị trí của mình, khẳng định
được sự tồn tại và phát triển thông qua các hoạt động của ngành. Đó là số
thu BHXH ngày càng tăng, năm sau cao hơn năm trước, chi trả cho các chế
độ BHXH kịp thời, đúng đối tượng, đúng chế độ chính sách và đủ số
lượng, bước đầu đã có những biện pháp đầu tư tăng trưởng quỹ mang lại
hiệu quả.
Tuy nhiên, qua một thời gian ngắn hoạt động, BHXH Việt nam nhận
thấy còn có những thiếu sót tồn tại trong chính sách BHXH và trong quá
trình thực hiện.
Để chính sách BHXH bảo đảm tốt hơn đời sống cho người lao động,
bởi vì tỉ lệ thu BHXH như hiện nay la hơi thấp. Vì vậy theo tôi, tỷ lệ đóng
BHXH nên tăng lên 25% tổng quỹ lương và được phân chia như sau :
+ Người sử dụng lao động đóng góp 18% tổng quỹ lương.
+ Người lao động đóng góp 7% tổng quỹ lương.
2. Về đối tượng hưởng, chế độ hưởng BHXH
Do nhu cầu tham gia BHXH của các đối tượng lao động ngày càng
cao cho nên trong những năm gần đây BHXH Việt nam đã cho triển khai
loại hình BHXH tự nguyện (thí điểm ở 5 tỉnh, thành) song song với loại
hình BHXH bắt buộc. Tuy nhiên, những quy định cụ thể về loại hình
BHXH tự nguyện vẫn chưa có và loại hình BHXH này cũng chưa được áp
dụng rộng rãi. Vì vậy, theo em BHXH Việt nam nên triển khai rộng rải loại
hình BHXH tự nguyện kèm theo những quy định cụ thể, rõ ràng để BHXH
huyện cũng như BHXH các huyện khác có thể nhanh chóng triển khai rộng
rãi loại hình BHXH này.
LuËn v¨n tèt nghiÖp Ph¹m ThÞ QuÕ
39
Đối tượng tham gia BHXH là những người làm nông nghiệp, tiểu
thương, những người làm việc trong các đơn vị sử dụng dưới 10 người lao
động có một khoản thu nhập tương đối ổn định.
Các khoản đóng góp cho quỹ BHXH tự nguỵện chủ yếu dựa vào sự
đóng góp của người tham gia. Tuy nhiên tỷ lệ đóng góp này phải được đảm
bảo hợp lí.
Hiện nay chỉ nên triển khai BHXH tự nguyện cho 4 chế độ sau
Chi trả lương hưu
Trợ cấp ốm đau
Trợ cấp thai sản
Trợ cấp tử tuất
Riêng 2 chế độ, chế độ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp thì chưa
nên triển khai vội, bởi vì chưa thể kiểm soát được rủi ro sẽ xẩy ra cũng như
thường từ 10 năm trở xuống (nếu họ muốn). Tuy nhiên họ phải đảm bảo
thời gian đóng BHXH là 25 năm.
Chính sách BHXH vẫn có đan xen với chính sách ưu đãi xã hội.
Những người đi B, C, K phải do pháp luật ưu đãi, xã hội điều chỉnh chứ
không phải do pháp luật BHXH điều chỉnh. Vì vậy cần phải tách chính
sách này ra khỏi chính sách BHXH để đảm bảo cho sự chi trả của quỹ
BHXH.
Mức trợ cấp BHXH chưa phù hợp với quan hệ đóng- hưởng giữa
các nhóm lao động trong việc quy định sau 30 năm đóng BHXH thì từ năm
thứ 31 mổi năm đóng thêm được hưởng một lần bằng 1/2 tháng lương
nhưng không quá 5 tháng. Việc quy định như vậy là không đảm bảo công
bằng xã hội. Vì vậy, theo em nên không nên khống chế số thời gian chi trả
lần đầu cho số tháng trên 30 năm là 5 tháng, mà tính chi trả tương ứng thời
gian đóng BHXH vượt trội trên 30 năm, mỗi năm 1/2 tháng lương bình
quân.
Việc tính lương hưu dựa vào mức lương bình quân 5 năm cuối
trước khi nghỉ hưu cũng nên xem xét lại, bởi vì có người trong 5 năm cuối
hệ số lương chỉ thay đổi 2 lần nhưng cũng có người hệ số lương trong 5
năm cuối lại thay đổi 3 lần. Nếu chỉ dựa vào mức lương bình quân trong 5
năm cuối để tính lương hưu cũng không đảm bảo công bằng xã hội.