Giáo trình hình thành quy trình quản lý chiến lược kinh doanh trong các hoạt động của doanh nghiệp công nghiệp p5 - Pdf 19

SV - Mai V¨n C«ng- QLKT - 40B Trang
45

trọng trong tổng số các doanh nghiệp tham gia hoạt động ngoại thương
của khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước từ 35% năm 1998 tăng
lên 58% năm 1999. Điều đó khẳng định vai trò quan trọng của các
doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế VN.
2. Sự cần thiết phải quản lý chiến lược kinh doanh trong doanh
nghiệp vừa và nhỏ hiện nay.
Nước ta có một thời kỳ dài hoạt động theo cơ chế tập trung quan liêu
bao cấp. Cơ chế này đã tạo ra sức ỳ trong các doanh nghiệp quốc doanh,
các doanh nghiệp đều phải hoạt động theo những chỉ thị, những kế
hoạch từ cấp trên chứ không phảI từ nhu cầu của thị trường. Các chỉ tiêu
đều do nhà nước đặt ra, doanh nghiệp chỉ việc nhận vốn, nguyên vật
liệu tiến hành sản xuất, việc tiêu thụ đầu ra cũng do nhà nước thực
hiện. Cơ chế này đã làm thui chột tính sáng tạo của doanh nghiệp. Cơ
chế cứng nhắc này đã gây ra hiện tượng khan hiếm trong sự dư thừa.
Tiền lương của giáo viên có thể là than đốt, săm lốp xe đạp, Đây là
kết quả của việc không tuân theo các quy luật của thị trường.
Hoạt động trong những điều kiện như vậy, doanh nghiệp không cần
phải lo đối phó với đối thủ cạnh tranh, không cần biết khách hàng ưa
chuộng gì, suy nghĩ gì, suy nghĩ thế nào về sản phẩm của mình. Tức là
doanh nghiệp hoạt động trong đIều kiện an toàn, môi trường ổn định. Vì
vậy doanh nghiệp không quan tâm đến chiến lược cũng như quản lý
chiến lược theo đúng nghĩa của nó mà cho rằng đây là việc của nhà
nước.
Mọi việc đã đổi khác từ sau cuộc đại khủng hoảng những năm 86 -
87. Có nhiều sự biến đổi sâu sắc trong đường lối kinh tế, chính trị với
quan điểm xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang nền
kinh tế thị trường nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường với
SV - Mai V¨n C«ng- QLKT - 40B Trang

47

đúng đắn những lợi thế của mình nhằm đưa ra định hướng phát triển
đúng đắn trong tương lai.
Các doanh nghiệp sẽ làm gì khi sắp tới Việt Nam sẽ tham gia vào
AFTA, APEC và cũng có thể là gia nhập vào WTO. Như vậy không thể
duy trì quản lý doanh nghiệp theo phương pháp truyền thống, các
phương pháp quá nặng về kinh nghiệm mà phải tăng cường sử dụng các
phương pháp quản lý hiện đại, quản lý dựa trên khoa học.
Một bản chiến lược kỹ lưỡng chuẩn bị cho sự chuyển mình của doanh
nghiệp vào những năm tới đây là không thể thiếu.
3. Quản lý chiến lược hiện nay trong các doanh nghiệp chưa
thông dụng và hiệu quả chưa cao.
Một đIều rõ ràng là hiện nay các doanh nghiệp hoạt động chủ yếu
theo kinh nghiệm, chưa ứng dụng nhiều các thành tựu về khoa học quản
lý trong đIều hành doanh nghiệp. Điều này cũng là tất yếu bởi mọi nỗ
lực của doanh nghiệp đang đổ dồn vào khâu tạo ra sản phẩm. Các doanh
nghiệp quá trú trọng đến việc tung ra thị trường các sản phẩm chất
lượng ngày càng cao, mẫu mã đẹp nhưng lại ít quan tâm đến một lúc
nào đó sự thay đổi về lối sống, tâm lý tiêu dùng, khách hàng sẽ không
sử dụng sản phẩm trên nữa. Việc doanh nghiệp có sản xuất tốt đến đâu,
đẹp đến đâu nhưng không tiêu thụ được thì cũng thất bại mà thôi.
Sự quan trọng của chiến lược không phảI là các doanh nghiệp không
biết. Các khoản chi phí cho quản lý chiến lược đã làm nản chí các nhà
quản lý. Do sự khan hiếm về vốn các doanh nghiệp đã ưu tiên cho các
lĩnh vực khác, những lĩnh vực mà hoạt động đầu tư thêm này cho thấy
rõ hiệu quả, còn chiến lược đem lại kết quả về lâu dài và khó nhận thấy.
Hơn nữa việc hoạch định chiến lược lại cần yếu tố về con người,
doanh nghiệp phải có các chuyên gia chuyên gia chuyên về lĩnh vực
SV - Mai V¨n C«ng- QLKT - 40B Trang

49

Sau đây là một số vần đề cơ bản nhất:
4.1. Tín dụng.
Trong thời kỳ đương nhiệm, Tổng bí thư Đỗ Mười đã đề cập đến vấn
đề mà doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt trong quá trình phát triển
kinh tế bằng ba chữ "vốn, vốn và vốn". Các doanh nghiệp vừa và nhỏ
của Việt Nam hiện nay cũng có chung quan điểm này. Họ cho rằng cản
trở lớn nhất đối với sự phát triển của họ là "tín dụng, tín dụng và tín
dụng". Qua cuộc phỏng vấn 95 doanh nghiệp vừa và nhỏ cho thấy chính
những quy định không rõ ràng về quyền sở hữu, những quy định hạn
chế của nhà nước trong xuất nhập khẩu, hệ thống thuế bất hợp lý và tệ
hành chính quan liêu đã gây rất nhiều khó khăn cho hoạt động kinh
doanh và làm tăng chi phí của các doanh nghiệp này. (Theo điều tra của
MPDF).
Nhưng những vấn đề này vẫn được xếp sau vấn đề tín dụng cụ thể là
thiếu tín dụng.
Những trở ngại chính theo ý kiến của giới kinh doanh vừa và nhỏ
Không thể
tìm vốn đầu

Thiếu
thông tin
Không đủ
vốn lưu
động
Khoa học
kỹ thuật
công nghệ
Chính sách
(Số liệu: Điều tra tiền tệ ngân hàng nhà nước Việt Nam - MPDF)
Sự tiếp cận với các khoản tín dụng trung và dài hạn trong nước đã
khó, họ lại càng khó có khả năng tiếp cận được với các nguồn tín dụng
nước ngoài. Luật VN không cho phép người nước ngoài được sở hữu cổ
phần của doanh nghiệp tư nhân.
4.2. Hệ thống thuế.
3 8 . 0 %
4 0 . 0 %
4 2 . 0 %
4 4 . 0 %
4 6 . 0 %
4 8 . 0 %
5 0 . 0 %
5 2 . 0 %

1995
1996
1997
1998 1999
SV - Mai V¨n C«ng- QLKT - 40B Trang
51

Hiện nay hệ thống thuế của nước ta còn nhiều bất cập, gây nhiều trở
ngại cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đặc biệt là các
doanh nghiệp vừa và nhỏ. Vấn đề tồn tại của hệ thống thuế VN và

Về nhập khẩu, khó khăn còn lớn hơn nhiều và thường ở ba cấp độ.
Thứ nhất, doanh nghiệp bị hạn chế quyền nhập khẩu các mặt hàng
không có trong giấy phép kinh doanh. Các doanh nghiệp cần giấy phép
của Bộ Thương mại cho từng chuyến hàng hoặc yêu cầu phải có giấy
phép kinh doanh có liệt kê các mặt hàng nhập khẩu thích hợp. Cả hai
trường hợp đều không dễ đối với doanh nghiệp.
Thứ hai, nhiều loại hàng hoá đầu vào nhập khẩu là đối tượng hạn chế
phi thuế quan và cần có các giấy phép khác cho nhập khẩu.
Thứ ba, Thủ tục hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu còn mất thời
gian và tốn kém.
4.4. Quyến sở hữu và quyền sử dụng đất.
Yếu tố quan trọng cho sự tăng trưởng của các doanh nghiệp vừa và
nhỏ, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân, là khả năng tiếp cận, sở hữu
và dễ dàng sử dụng đất đai, cũng như sử dụng đất đai làm tài sản thế
chấp. Đã có hai tiến bộ đáng kể trong quyền sử dụng đất (1999). Thứ
nhất, các doanh nghiệp của VN bao gồm cả doanh nghiệp tư nhân được
phép đóng góp quyền sử dụng đất dưới dạng vốn cổ phần trong các
doanh nghiệp liên doanh khi họ đã trả toàn bộ chi phí sử dụng đất của
mình. Thứ hai, các công ty nước ngoài đầu tư trong các khu công
nghiệp, khu chế xuất được quyền sử dụng đất.
Tuy nhiên vẫn còn ba vấn đề cần được giải quyết.
Thứ nhất, vẫn còn sự phân biệt về quyền sử dụng đất tùy theo tính
chất pháp lý của người sử dụng đất. Ví dụ các hộ gia đình có thể dễ
SV - Mai V¨n C«ng- QLKT - 40B Trang
53

dàng cầm cố và thế chấp đất đai, nhà cửa trên phần đất cư trú, còn các
doanh nghiệp hoạt động trên đất thuê thì không có quyền này. Tương tự
các doanh nghiệp nhà nước (Nghị định 66) có thể chuyển nhượng nhà
cửa phân xưởng cho bất kỳ một doanh nghiệp nào thuộc khu vực đã quy

Chiến lược hoá trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ là một nhiệm vụ của
nhà nước.
SV - Mai V¨n C«ng- QLKT - 40B Trang
55

PHần III. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý
chiến lược kinh doanh .
1. đối với doanh nghiệp.
1.1.Về mặt nhận thức.
Nếu doanh nghiệp chú trọng hơn đến việc ứng dụng các công nghệ
trong quản lý, kết hợp với quản lý theo kinh nghiệm. Chắc chắn hoạt
động của doanh nghiệp sẽ hiệu quả hơn. Lý thuyết bổ sung cho thực
tiễn, thực tiễn khẳng định lại lý thuyết.
Cần phải dỡ bỏ quan niệm coi chiến lược là hoạt động xa vời đối với
các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các chủ
doanh nghiệp cần nhận thức được quản lý chiến lược là không thể thiếu
được đối với các doanh nghiệp hiện nay.Các doanh nghiệp cần thực hiện
đầy đủ các bước của quá trình quản lý chiến lược. Thông thường do hạn
chế về nguồn tài chính, con người, thời gian nên khi xây dựng và tổ
chức thực hiện chiến lược các doanh nghiệp thường bỏ qua một số
bước. Tuy nhiên trong toàn bộ quá trình quản lý chiến lược, mỗi giai
đoạn lại đóng một vai trò khác nhau. Đồng thời nó còn có mối quan hệ
tương tác với các giai đoạn khác. Như vậy quá trình quản lý chiến lược
hiện nay của đa số doanh nghiệp vừa và nhỏ là quá trình khuyết thiếu.
1.2. Về hành động.
Các doanh nghiệp không những chỉ xây dựng các chiến lược trên
giấy mà cần đưa các chiến lược vào thực tiễn, tức là phải tổ chức thực
hiện chiến lược.cần có sự đầu tư thích đáng cho hoạt động quản lý chiến
lược cả về tài chính lẫn con người.
Cụ thể doanh nghiệp cần chú trọng đến các hoạt động sau :


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status