SV - Mai V¨n C«ng- QLKT - 40B Trang
12
+ Chiến lược thị trường: Chiến lược thị trường nhằm xác định các
đoạn thị trường cho các loại sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp và
đoạn thị trường nào là thị trường mục tiêu của doanh nghiệp, đâu là thị
trường tiềm năng của doanh nghiệp.
Chiến lược thị trường bao gồm cả thị trường đầu ra - sản phẩm - dịch
vụ doanh nghiệp cung cấp và thị trường đầu vào - công nghệ, nguyên
vật liệu cung cấp cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp. Chiến lược
thị trường có thể theo hướng phát triển thị trường nội địa cũng như phát
triển ra thị trường ngoài.
* Thâm nhập vào thị trường nội địa có hai con đường: tăng thị phần
trong thị trường hiện tại so với đối thủ cạnh tranh và tìm kiếm khách
hàng mới ở thị trường mới.
* Phát triển ra thị trường nước ngoài: xác định được chính xác các
loại sản phẩm dịch vụ có lợi thế so sánh, có khả năng cạnh tranh cao để
tung ra thị trường nước ngoài. Cũng có thể tiến hành liên doanh, liên
kết. Đây là thị trường hấp dẫn nhưng đầy thử thách cho các doanh
nghiệp do đây là thị trường có yêu cầu cao về chất lượng cũng như mẫu
mã sản phẩm.
+ Chiến lược huy động và sử dụng vốn: Môi trường luôn luôn biến
động, để đảm bảo nguồn lực mở rộng quy mô, đòi hỏi doanh nghiệp
phải có chiến lược đúng đắn nhằm huy động vốn nhanh chóng, đáp ứng
yêu cầu sản xuất kinh doanh, đặc biệt là nhu cầu nhập công nghệ cao đòi
hỏi nhiều vốn ban đầu.
Doanh nghiệp có thể tiến hành huy động theo các hướng sau: vay vốn
ngân hàng, liên doanh, liên kết, cổ phần hoá Song song với quá trình
huy động vốn doanh nghiệp phải sử dụng vốn một cách có hiệu quả
nhất, tiết kiệm nhất.
SV - Mai V¨n C«ng- QLKT - 40B Trang
14
không mang tính nhân nhượng, doanh nghiệp nào thích ứng được, tuân
theo các quy luật của thị trường sẽ tồn tại và phát triển. Môi trường luôn
luôn biến động, vậy làm thế nào để đứng vững được trong nên kinh tế
thị trường đầy sự thay đổi này? Đó chính là lý do tại sao doanh nghiệp
lại cần phải hoạch định một chiến lược kinh doanh kỹ lưỡng nhằm thích
ứng với môi trường, đối phó lại sự thay đổi của môi trường, tập trung
mọi nguồn lực thực hiện những mục tiêu đã đặt ra.
Chiến lược giữ vai trò định hướng cho mọi hoạt động của doanh
nghiệp, chiến lược kinh doanh cho doanh nghiệp thấy rõ mục đích cần
đạt được và làm cách nào để đạt được mục tiêu đó. Mọi quyết định của
cấp lãnh đạo doanh nghiệp sẽ theo những ràng buộc nhất định.
Chiến lược thể hiện khả năng thích nghi với môi trường: một trong
những bộ phận quan trọng nhất của phân tích chiến lược là nghiên cứu
và dự báo thị trường. Thị trường biến động nhưng đã được phân tích,
nghiên cứu kỹ lưỡng sẽ làm hạn chế tối thiểu những rủi ro có thể xảy ra
đồng thời chỉ ra được những thuận lợi, những cơ hội. Doanh nghiệp sẽ
tận dụng những lợi thế này để có những bước đi thích hợp, chớp lấy thời
cơ phát triển, giảm thiểu và tránh rủi ro.
Chiến lược kinh doanh giúp các doanh nghiệp khai thác và sử dụng
tối đa các nguồn lực, tiềm năng của mình. Chiến lược sẽ chỉ ra nên sử
dụng nguồn lực nào vào thời điểm nào, phân bổ vào khâu nào trong quá
trình sản xuất kinh doanh sẽ đem lại hiệu quả cao nhất có thể. Từ đó
phát huy được tiềm lực của doanh nghiệp.
Tạo ra sự chủ động cho doanh nghiệp trong các mối quan hệ với các
lực lượng thị trường. Do dự báo được những sự thay đổi của thị trường
doanh nghiệp sẽ chủ động thích ứng với môi trường, không bị ngỡ
SV - Mai V¨n C«ng- QLKT - 40B Trang
15
việc tổ chức thực thi diễn ra như thế nào, người ta sẽ so sánh kết quả đạt
được với mục tiêu nhằm bổ sung, điều chỉnh sai sót kịp thời.
+ Thứ ba, chiến lược kinh doanh khẳng định sứ mệnh của doanh
nghiệp, một chiến lược kinh doanh được hoạch định tốt, phù hợp và đáp
ứng được yêu cầu thực tiễn, giải quyết đúng vấn đề đang đặt ra sẽ là cơ
sở cho sự phát triển doanh nghiệp.
Ba lý do chủ yếu trên cho ta thấy sự cần thiết phải quản lý chiến lược
kinh doanh, xây dựng và thực hiện chiến lược là một trong những nhiệm
vụ quan trọng nhất của quản lý doanh nghiệp.
Trên đây là những lý luận chung về chiến lược kinh doanh, dưới đây
chúng ta nghiên cứu làm thế nào để quản lý chiến lược kinh doanh.
3. Những căn cứ để hoạch định chiến lược.
Để trả lời câu hỏi chúng ta dựa vào cái gì để xây dựng chiến lược
kinh doanh? Mục tiêu chúng ta đặt ra căn cứ từ đâu?
SV - Mai V¨n C«ng- QLKT - 40B Trang
17
Mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp là lợi nhuận, muốn thu được
lợi nhuận, doanh nghiệp phải tung ra những sản phẩm dịch vụ mà thị
trường đang khan hiếm, đang có nhu cầu cao. Về mặt cơ bản thì đó là sự
đáp ứng nhu cầu của thị trường dựa trên tiềm lực của doanh nghiệp. Dĩ
nhiên còn nhiều yếu tố khác tác động lên nhưng về căn bản, những căn
cứ để hoạch định là môi trường (khách hàng, đối thủ cạnh tranh, nhà
nước, nhà cung cấp ) và tiềm lực của doanh nghiệp. Hai yếu tố khách
hàng và đối thủ cạnh tranh thường thay đổi mạnh nên được các doanh
nghiệp chú trọng khi xây dựng chiến lược.
+ Khách hàng: Sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp đều dựa vào
nhu cầu của khách hàng, doanh nghiệp nào đáp ứng tốt (chất lượng, mẫu
mã, giá cả) sẽ đứng vững trên thương trường, ngược lại sẽ là sự thất bại.
Do đó nó ảnh hưởng xuyên suốt quá trình quản lý chiến lược từ hoạch
như hạn chế khắc phục điểm yếu của doanh nghiệp, đồng thời khoét sâu
vào điểm yếu của đối thủ cạnh tranh tạo ra ưu thế trên thương trường.
4. Quá trình hoạch định chiến lược.
4.1.Xác định sứ mệnh của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp tồn tại để làm gì? Bao giờ trong quá trình hoạch định
cũng phải xác định được chức năng của doanh nghiệp nhằm đảm bảo
tính thống nhất cũng như tình trạng lệch hướng. Mọi mục tiêu đặt ra
phải nhằm thực hiện sứ mệnh của doanh nghiệp.
4.2. Nghiên cứu và dự báo.
Quá trình bao gồm nghiên cứu dự báo môi trường kinh doanh của
doanh nghiệp và phân tích nội bộ.
Mục đích của nghiên cứu và dự báo là: phân tích môi trường kinh
doanh nhằm xác định những cơ hội (opportunities) và những mối đe doạ
(threats) từ môi trường bên ngoài. Cơ hội là những yếu tố thuận lợi cho
SV - Mai V¨n C«ng- QLKT - 40B Trang
19
việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp. Mối đe dọa là những yếu tố
bất lợi ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp. Việc phân tích môi
trường thường dựa vào sự phân tích hiện trạng, quá khứ nhằm dự báo sự
biến động trong tương lai.
Mục đích của phân tích nội bộ doanh nghiệp là xác định những điểm
mạnh (strengths) và điểm yếu (weaknesses) của doanh nghiệp. Điểm
mạnh là những điểm doanh nghiệp làm tốt hơn doanh nghiệp khác, là
những lợi thế vượt trội so với đối thủ cạnh tranh, có thể dựa vào đó để
doanh nghiệp triển khai chiến lược kinh doanh. Điểm yếu là những mặt
hạn chế, những điểm dễ bị đối thủ cạnh tranh khai thác. Trong quá trình
xây dựng chiến lược cần phải điều chỉnh những điểm yếu này để hạn
chế sự ảnh hưởng của chúng đến hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
giới.
Kinh tế
Ngư
ời cung
ứng
K
ỹ thuật
công nghệ
ĐTCT
tiềm ẩn
Doanh
nghi
ệp
trong ngành
Chính tr
ị
kỹ thuật
Khách hàng
Văn hoá
xã hội
s
ản phẩm
thay thế
Môi trường vĩ mô
Môi trường quốc tế
Môi trường ngành
SV - Mai V¨n C«ng- QLKT - 40B Trang
cao. Các chính sách này phải đáp ứng nhanh, kịp thời những thay đổi
của nền kinh tế.
Thứ tư, chu kỳ kinh doanh: Doanh nghiệp sẽ rất thuận lợi trong giai
đoạn nền kinh tế phát triển nhưng trong thời kỳ suy thoái doanh nghiệp
sẽ phải thu hẹp quy mô, hạn chế đầu tư làm cho hoạt động của doanh
nghiệp chỉ còn là hoạt động đối phó với thị trường.
Ngoài ra còn nhiều yếu tố khác như thất nghiệp, tỷ lệ tăng trưởng,
quan hệ đối ngoại
Các yếu tố chính trị và luật pháp: Các yếu tố chính trị và luật pháp là
nền tảng quy định các yếu tố khác của môi trương kinh doanh. Chúng có
thể tạo ra những cơ hội, lợi thế mà cũng có thể đem lại những hạn chế
thậm chí rủi ro cho doanh nghiệp. Sự ổn định về chính trị, sự thống
nhất, hoàn chỉnh về luật pháp tạo ra sự phát triển bền vững cho doanh
nghiệp. Ngược lại, sự biến động mạnh về chính trị, sự mất hiệu lực
trong một số văn bản pháp luật mà doanh nghiệp không dự đoán trước
được sẽ tạo ra nhiều mặt hạn chế cho doanh nghiệp.
Các yếu tố văn hoá xã hội: Về mặt lâu dài đây là nhân tố ảnh hưởng
rộng lớn và sâu sắc nhất đến môi trường kinh doanh. Sự biến đổi các
yếu tố văn hoá xã hội thường chậm nên khó nhận biết. Sự thay đổi về lối
sống, quan niệm về tiêu dùng, trình độ dân trí, cơ cấu dân số, chuẩn mực
xã hội sẽ làm đảo lộn nhiều loại hàng hoá dịch vụ. Một ví dụ đơn giản
về các trào lưu theo mốt Hàn Quốc đã cho chúng ta thấy những ảnh
hưởng sâu sắc của yếu tố văn hoá.
Các yếu tố kỹ thuật công nghệ: Có thể nói kỹ thuật - công nghệ là
một lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ nhất của các doanh nghiệp hiện nay và
trong tương lai. Công nghệ thay đổi có thể làm cho các sản phẩm hiện
đang sản xuất trở nên lỗi thời trong khoảng thời gian ngắn. Sự phát triển