+ Vốn huy động: 15.610.000 triệu đồng (chiếm 44%).
+ Vốn tín dụng: 11.710.000 triệu đồng (chiếm 33%).
+ Vốn ngân sách: 4.610.000 triệu đồng (chiếm 13%).
+ Vốn liên doanh với nước ngoài: 3.660.000 triệu đồng (chiếm
10%).
Cơ cấu đầu tư giai đoạn 1999-2010 được chia theo lĩnh vực như
sau:
- Nuôi trồng thủy sản: 9.580 tỷ đồng, chiếm 27%.
-Khai thác hải sản: 10.200 tỷ đồng, chiếm 28,75%.
-Chế biến thủy sản: 9.580 tỷ đồng, chiếm 27%.
-Hạ tầng dịch vụ: 5680 tỷ đồng, chiếm 16%.
-Nghiên cứu khoa học: 300 tỷ đồng, chiếm 0,85%.
-Đào tạo, giáo dục: 88 tỷ đồng, chiếm 0,25%.
-Các lĩnh vực khác: 62 tỷ đồng, chiếm 0,15%.
Qua xem xét, phân tích nguồn vốn đầu tư của ngành thủy sản
của các giai đoạn, ta nhận thấy rằng: muốn đạt được các mục tiêu đặt
ra và hội nhập với nghề cá thế giới, sự huy động nguồn lực trong nước
là cơ bản, nhưng sự giúp đỡ của quốc tế là không thể thiếu và rất quan
trọng. Trong nguồn lực quốc tế, về chỉ đạo chúng ta cần khơi thông
nguồn FDI, sao cho tỷ trọng này ngày càng cao, giá trị ngày càng lớn
và tạo sự phối hợp chặt chẽ giữa 2 nguồn FDI và ODA để bổ sung, hỗ
trợ lẫn nhau.
3. Chính sách về khai thác thủy sản
Tới nay, tổng sản lượng thủy sản của cả nước đã vượt qua mức 1
triệu tấn/ năm, song cũng để lại một vùng biển cạn kiệt nguồn lợi,
năng suất đánh bắt giảm 1/2, giá thàng sản phẩm tăng gấp đôi. Tuy
phát triển nghề cá xa bờ để bảo vệ nguồn lợi ven biển và tăng chất
lượng sản phẩm nhưng lại chưa triển khai đồng bộ, hiệu quả còn thấp.
Hơn 10 năm qua, ngành khai thác hải sản Việt Nam đã tăng
trưởng với nhịp độ khá cao về tổng sản lượng, đạt hơn 1 triệu tấn/ năm
(riêng năm 1998, sản lượng khai thác hải sản đạt 1,13 triệu tấn , bằng
thác xa bờ đã có bước chuyển biến đáng kể. Nhưng theo đó lại nổi lên
nhiều vấn đề về ngư trường và dự báo khai thác vùng khơi, trình độ sử
dụng tàu lớn của thuyền trưởng, chế biến và tiêu thụ sản phẩm khai
thác được, nhất là khâu tiêu thụ sản phẩm. Điều đáng lo ngại là chỉ có
khoảng 20% sản lượng khai thác xa bờ có thể dùng để xuất khẩu. Còn
lại 80% dùng tiêu thụ nội địa hay làm bột cá, phơi khô và làm nước
mắm. Cá đánh được nhiều mà bán giá lại rẻ và khó bán thì hiệu quả
thấp. Lại chưa có cơ quan dự báo ngư trường và khai thác ngắn hạn để
hướng dẫn các tàu đi đánh bắt cá xa bờ đi đến đúng nơi có cá mà
đánh. Trình độ các thuyền trưởng non yếu, sử dụng tàu lớn và máy
móc khá hiện đại sẽ gây ra những sự cố hỏng hóc. Nhất là vào thời vụ
chính, cá về nhiều lại không có kho lạnh dự trữ hải sản, điều kiện trên
tàu bảo quản kém, bến bãi thiếu càng làm cho sản lượng bị thất thoát
nhiều và giá hạ hơn.
Rõ ràng là có nhiều vấn đề đang đặt ra để bảo đảm cho việc đầu
tư đóng tàu khai thác hải sản xa bờ có hiệu quả. Đó không phải là việc
một sớm, một chiều có thể giải quyết được .
Tóm lại, chương trình đánh bắt hải sản xa bờ không chỉ là việc
đóng tàu đi khơi, mà nó là dây chuyền đồng bộ từ khai thác, bảo quản,
chế biến và tiêu thụ sản phẩm thật tốt.
4. Vấn đề đảm bảo chất lượng thủy sản chế biến cho xuất khẩu
Để đảm bảo an toàn vệ sinh và chất lượng hàng thủy sản xuất
khẩu, tháng 6/1995, Bộ Thủy sản đã ban hành Chỉ thị số
13/CT/KHCN. Tuy nhiên, trong thời gian qua những hiện tượng tạp
chất vào hàng thủy sản xuất khẩu vẫn có chiều hướng gia tăng do một
số doanh nghiệp thiếu nguồn hàng vì chỉ nghĩ đến lợi nhuận vẫn mua
hàng có cho thêm tạp chất về chế biến, làm thiệt hại cho người tiêu
dùng trong nước, làm giảm uy tín của sản phẩm thủy sản Việt Nam
trên thị trường thế giới. Và chính vì một trong những nguyên nhân
như vậy, mà hàng thủy sản Việt Nam có nguy cơ bị mất dần, đặc biệt
thiết bị đi kèm; áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn
GMP (Giấy chứng nhận về tập quán sản xuất tốt áp dụng từ tháng
7/1997) và HACCP (Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm, tập trung
vào việc phòng ngừa các mối nguy hại đã biết và nguy cơ xảy ra
chúng ở một số điểm đặc biệt trên dây chuyền sản xuất thực phẩm).
Hiện nay, không chỉ thị trường Mỹ mà EU cũng chỉ chấp nhận mua
sản phẩm từ những cơ sở chế biến có áp dụng HACCP. Áp dụng GMP
và HACCP có nghĩa là thực hiện an toàn vệ sinh thủy sản từ nuôi
trồng-đánh bắt-chế biến, để cho ra sản phẩm đạt các chỉ tiêu đặc trưng
cho chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm.
Hiện nay, EU đánh giá chất lượng sản phẩm thủy sản theo 3 chỉ
tiêu sau:
-Chỉ tiêu cảm quan: trạng thái tự nhiên, mùi vị, màu sắc của sản
phẩm.
-Chỉ tiêu hóa học: qui định hàm lượng Nitơ dưới dạng Amôniắc,
độ pH trong một gam sản phẩm.
-Chỉ tiêu vi sinh: qui định loại, lượng khuẩn có trong sản phẩm
như khuẩn hóa khí, khuẩn hiếm khí, khuẩn Ecôli, Coliforime
Trong thời gian vừa qua, Bộ Thủy sản đã xây dựng và ban hành
hàng loạt tiêu chuẩn trong quản lý chất lượng, đó là tiêu chuẩn về Cơ
sở chế biến thủy sản, về Chương trình quản lý chất lượng và an toàn
thực phẩm theo HACCP và các tiêu chuẩn đảm bảo vệ sinh an toàn
thực phẩm trong các cơ sở sản xuất kinh doanh.
Với sự cố gắng và nỗ lực không ngừng của ngành thủy sản
trong việc vệ sinh an toàn thủy sản cho xuất khẩu, ngày 20/10/1999,
Ủy ban Thú y thường trực của EU đã bỏ phiếu nhất trí đưa Việt Nam
vào danh sách 1 được phép xuất khẩu vào EU ở cấp liên minh và ngày
16/11/1999, Cộng đồng Châu Âu (EC) đã phê chuẩn 18/33 doanh
nghiệp nói trên được xuất khẩu ở cấp liên minh vào EU. Tính đến nay
cả nước có 60 cơ sở áp dụng HACCP và 33 cơ sở đủ tiêu chuẩn xuất
tổng kim ngạch xuất khẩu.
EU luôn là một trong 3 thị trường hàng đầu của thủy sản
Việt Nam, luôn đứng vị trí thứ 2 sau Nhật Bản trong việc nhập
khẩu thủy sản Việt Nam trong những năm qua.
Các sản phẩm thủy sản của Việt Nam như: tôm, nhuyễn
thể chân đầu, cá đáy, cá nước ngọt thịt trắng ít xương; các sản
phẩm truyền thống như: nước mắm, bánh phồng tôm, cua, ghẹ,
tôm và đặc biệt là tôm sú đã đang và sẽ có sức cạnh tranh rất cao
trong EU trong thời gian tới.
Xuất khẩu thủy sản sang EU nói riêng hay ra các thị
trường trên thế giới trong những năm qua đã đóng góp không
nhỏ trong việc tăng thu ngoại tệ cho đất nước, phục vụ công
cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đồng thời xuất khẩu thủy
sản nói chung đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho hàng
triệu lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định đời sống
cho nhiều vùng nông thôn ven biển.
Đã đạt được sự ưu đãi về thuế của EU: theo qui chế mới
của EU bắt đầu từ tháng 7/1999 đến tháng 12/2000 thì hàng thủy
sản đông lạnh của Việt Nam thuộc nhóm hàng khuyến khích
nhập khẩu nên sẽ được hưởng mức thuế bằng 35% mức thuế
Tối huệ quốc.
Ủy ban Thú y thường trực của EU đã bỏ phiếu nhất trí
đưa Việt Nam vào danh sách 1(ngày 20/10/1999) được phép
xuất khẩu thủy sản vào EU ở cấp liên minh và ngày 16/11/1999
EU đã chấp thuận 18/33 doanh nghiệp đã kiểm tra đủ điều kiện.
Cũng theo quyết định này, tổ chức của Việt Nam có thẩm quyền
trong việc chứng nhận chất lượng, điều kiện vệ sinh an toàn thực
phẩm của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản là Trung tâm
kiểm tra chất lượng và vệ sinh thủy sản (NAFIQACEN). Điều
này khẳng định uy tín của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản
thông qua các công ty của ASEAN như Singapore, Thái lan và
Hồng Kông.
Chủng loại sản phẩm thủy sản xuất khẩu chủ yếu là tôm,
mực đông lạnh sơ chế, tỷ lệ sản phẩm có giá trị cao gia tăng thấp
chủ yếu là xuất nguyên liệu.
Cơ cấu sản phẩm thủy sản xuất khẩu vào EU cũng như
vào các thị trường khác có sự mất cân đối (hơn 90% là dạng sản
phẩm tươi, ướp đông, đông lạnh). Điều này làm mất lợi thế cạnh
tranh của thủy sản nước ta, cũng như sự yếu kém của công nghệ
chế biến thủy sản.
Giá cả sản phẩm xuất khẩu nhìn chung là thấp (chỉ bằng
khoảng 70% mức giá sản phẩm cùng loại của Thái Lan và
Inđônêxia) nhưng vẫn không cạnh tranh nổi với hàng của các
nước xuất khẩu khác.
Số lượng doanh nghiệp được xuất khẩu thủy sản sang
EU và số doanh nghiệp thực hiện theo tiêu chuẩn GMP và
HACCP còn quá ít.Vẫn còn hàng trăm doanh nghiệp chưa đổi
mới được công nghệ, cải thiện điều kiện sản xuất và nâng cao
chất lượng sản phẩm, chưa được các đoàn thanh tra của Châu Âu
chấp nhận. Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản vẫn còn biết
rất ít thông tin về thị trường EU.
Nhiều doanh nghiệp chế biến không có khả năng tài
chính để thay đổi công nghệ và các điều kiện tiêu chuẩn theo
GMP và HACCP, để có thể chế biến sản phẩm thủy sản xuất
khẩu sang EU.
Giữa các doanh nghiệp xuất khẩu đã không có được sự
cạnh tranh lành mạnh, làm suy yếu sức cạnh tranh của hàng thủy
sản Việt Nam khi sang thị trường EU nói riêng, cũng như sang
tất cả các thị trường khác.
Nguồn nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu còn bị thiếu
CHƯƠNG III
NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU THỦY
SẢN CỦA VIỆT NAM SANG EU TRONG NHỮNG NĂM TỚI I. CHỦ TRƯƠNG, ĐƯỜNG LỐI CỦA NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT
ĐỘNG XUẤT KHẨU THỦY SẢN TRONG NHỮNG NĂM TỚI
1.Những quan điểm và định hướng phát triển xuất khẩu thủy sản
1.1. Quan điểm
Thực hiện đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong nghề
cá với môi trường kinh tế mở, tích cực và chủ động trong xu thế hòa
nhập quốc tế, lấy xuất khẩu thủy sản là mũi nhọn, tiếp tục chuyển đổi
cơ cấu nghiêng về xuất khẩu, vừa khai thác tiềm năng nguồn lợi có
hiệu quả, vừa quản lý bảo vệ môi trường, phát triển tái tạo nguồn lợi
để duy trì tốc độ tăng trưởng cao của kinh tế thủy sản, tạo khả năng
tích lũy nhanh chóng trong nội bộ ngành, đồng thời đóng góp ngày
càng nhiều hơn cho nền kinh tế quốc dân.
Phát triển kinh tế thủy sản theo tuyến, theo vùng sinh thái nhằm
phát huy lợi thế đặc thù, tạo thành hệ thống liên hoàn giữa các khâu
khai thác-nuôi trồng-chế biến-tiêu thụ- cơ khí hậu cần dịch vụ, với sự
phối hợp liên ngành, giữa kinh tế Trung ương với kinh tế địa phương
theo một quy hoạch thống nhất, bảo đảm phát triển ổn định, bền vững.
Huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước, mọi thành phần
kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước cùng kinh tế tập thể giữ vai trò nền
tảng. Khuyến khích các chủ vựa, chủ thuyền, chủ trang trại, chủ hộ
mạnh dạn bỏ vốn đầu tư sản xuất kinh doanh nghề cá, đưa nghề cá
nhân dân phát triển trên cơ sở một nền công nghệ tiên tiến, hiện đại.
Phát triển kinh tế thủy sản gắn liền với xây dựng cơ sở vật chất
sản có chất lượng cao.
Phát triển công nghiệp chế biến theo hướng chiến lược sản phẩm
và định hướng thị trường, gia tăng giá trị thương mại. Khai thác và sử
dụng tối ưu nguồn nguyên liệu (kể cả nguyên liệu nhập khẩu), hết sức
coi trọng công nghệ bảo quản sau thu hoạch. Quy hoạch lại và nâng