Khi nghiên cứu trình tự thực hiện hợp đồng xuất khẩu cần lưu ý:
-Tùy thuộc vào từng hợp đồng mà cán bộ xuất nhập khẩu phải
thực hiện các nghiệp vụ khác nhau. Trình tự thực hiện các nghiệp vụ
cũng không cố định. Trên cơ sở nắm chắc các khâu nghiệp vụ mà tìm
hiểu yêu cầu nghiệp vụ của từng giai đoạn cụ thể trong quá trình thực
hiện hợp đồng.
-Trong khâu nghiệp vụ cụ thể có thể là nghiệp vụ của người bán
hay người mua phụ thuộc vào cách quy định điều kiện cơ sở giao
hàng ghi trong hợp đồng mua bán hàng hóa đã ký kết.
Quá trình thực hiện hợp đồng trong kinh doanh xuất khẩu
gồm:
- Xin giấy phép xuất khẩu hàng hóa
- Chuẩn bị hàng xuất khẩu
- Kiểm nghiệm và kiểm dịch hàng hoá xuất khẩu
- Thuê tàu lưu cước
- Mua bảo hiểm
- Làm thủ tục hải quan
- Giao hàng xuất khẩu
- Thủ tục thanh toán
II. VAI TRÒ CỦA XUẤT KHẨU THỦY SẢN
Thủ tục hải quan
Ki
tích khai thác đạt 553.000 km, nhưng hiện tại mới chỉ khai thác được
khoảng 65% nguồn lực hải sản cho phép.
Tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản nước ta rất lớn với 1,4
triệu ha mặt nước nội địa, 300.000 ha bãi triều, 400.000 ha hồ chứa,
sông suối, 600.000 ha ao hồ nhỏ ruộng trũng, có thể đưa vào sử dụng
để nuôi trồng thủy sản. Năng suất nuôi trồng thủy sản mới chỉ bằng
10%- 25% năng suất của các nước trong khu vực.
Theo Bộ Thủy sản, Việt Nam có trên 2000 loài cá, trong đó có
khoảng 100 loài có giá trị kinh tế cao. Bước đầu đánh giá trữ lượng cá
biển trong vùng thềm lục địa khoảng trên 4 triệu tấn. Khả năng khai
thác hàng năm khoảng 1,67 triệu/năm. Tình hình cụ thể của các loài
cá:
-Cá tầng đáy: 856.000 tấn, chiếm 51,3%.
-Cá nổi nhỏ: 694.000 tấn, chiếm 41,5%.
-Cá nổi đại dương (chủ yếu là cá ngừ): 120.000 tấn, chiếm 7,2%.
Trong đó, phân bố trữ lượng và khả năng khai thác giữa các
vùng như sau:
-Vịnh Bắc Bộ: trữ lượng: 681.166 tấn, khả năng khai thác:
271.467 tấn (chiếm 16,3%).
-Biển Trung Bộ: trữ lượng: 606.399 tấn, khả năng khai thác
242.560 tấn(chiếm 14,3%).
-Biển Đông Nam Bộ: trữ lượng: 2.075.889 tấn, khả năng khai
thác: 830.456 tấn (chiếm 49,3%).
-Biển Tây Nam Bộ: trữ lượng: 506.679 tấn, khả năng khai thác:
202.272 tấn (chiếm 12,1%).
Việt Nam tuy có vùng biển trải dài khắp cả nước nhưng sản
lượng khai thác không đồng đều ở các vùng. Theo ước tính, vùng biển
đặc quyền kinh tế của Việt Nam có tổng trữ lượng trên 3 triệu tấn cá,
50.000- 60.000 tấn tôm, 30.000- 40.000 tấn mực.
Mặc dù vậy, với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa
để phát triển nuôi trồng.
-Công nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu mà chủ yếu là công
nghiệp đông lạnh thủy sản, với 164 cơ sở với tổng công suất là 760
tấn/ngày đã đóng vai trò to lớn hàng đầu về công nghiệp chế biến thực
phẩm trong cả nước và thu hút nguyên liệu để sản xuất hàng hóa xuất
khẩu.
-Sự đóng góp đáng kể của khoa học công nghệ, trước hết phải kể
đến kỹ thuật sinh sản nhân tạo để tạo nguồn tôm giống vào cuối những
năm 80, cung cấp hơn 1 tỷ tôm giống các cỡ. Trong công nghiệp đánh
cá, dần dần tạo ra các công nghệ để chuyển dịch cơ cấu nghề khai thác
theo hướng hiệu quả cao, du nhập nghề mới từ nước ngoài để có thể
vươn ra khai thác xa bờ.
-Hoạt động hợp tác quốc tế trên cả ba mặt: thị trường xuất khẩu,
nguồn vốn nước ngoài và chuyển giao công nghệ đều đạt những kết
quả khích lệ. Từ cơ chế “ lấy phát triển xuất khẩu để tự cân đối, tự
trang trải, tạo vốn đầu tư cho khai thác và nuôi trồng “, qua các thời
kỳ, Nhà nước thực hiện chính sách mở cửa đến nay, sản phẩm thủy
sản nước ta đã có mặt tại hơn 50 nước và vùng lãnh thổ với một số sản
phẩm bắt đầu có uy tín trên các thị trường quan trọng. Trao đổi quốc
tế trên lĩnh vực công nghệ đã góp phần để có kết quả vừa nêu. Là
thành viên của NACA từ năm 1988, của SEAFDEC từ năm 1994,
tham gia vào hoạt động của ICLARM, quan sát viên của INFOFISH,
cũng như sự hiện diện của nghề cá thế giới. Đó là những nhân tố tạo
tiền đề cho sự phát triển của chúng ta.
Dự tính toàn bộ sự đóng góp của ngành thủy sản đối với nền
kinh tế quốc dân sẽ tăng từ mức hiện nay năm 1998 từ 18.434,6 tỷ
đồng lên 40.000 tỷ đồng vào năm 2010. Tỷ trọng tương ứng của
ngành thủy sản trong GDP sẻ giảm do có sự tăng trưởng mạnh trong
các ngành khác của nền kinh tế. Song sự đóng góp của ngành thủy sản
đối với ổn định xã hội và an toàn quốc gia là quan trọng vì tiềm năng
10,1 9,23 8,27 9,18 8,9
Nguồn: - Bộ Thủy sản.
-Số liệu thống kê nông, lâm nghiệp và thủy sản thời kỳ 1990-
1998 và dự báo năm 2000.
Qua bảng số liệu trên đây ta thấy rằng: kim ngạch xuất khẩu
thủy sản nước ta đã tăng rất đáng kể qua các năm, trung bình mỗi năm
tăng gần 100 triệu USD. Từ năm 1995 đến 1999, giá trị xuất khẩu
thủy sản tăng 420,52 triệu USD, hay tăng 76,37%, đóng vai trò là một
trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong một số
năm qua và trong nhiều năm tiếp theo.
Giá trị xuất khẩu thủy sản các năm qua đã đóng góp một phần
không nhỏ vào tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Từ năm 1995 đến
1999, năm nào kim ngạch xuất khẩu thủy sản cũng chiếm tỷ trọng trên
dưới 10% so với tổng giá trị xuất khẩu, đặc biệt năm 1995, tỷ trọng
này là 10,1%.
Xuất khẩu thủy sản chủ yếu là tôm và một số lượng lớn mực
nang và mực đông. Năm 1998, tổng sản lượng thủy sản xuất khẩu đạt
193.000 tấn (tăng 25% so với năm 1995), kim ngạch xuất khẩu đạt
858,68 triệu USD.
Dự kiến xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sẽ tăng từ 971,12 triệu
USD năm 1999 lên 1,1 tỷ USD năm 2000, 2tỷ USD năm 2005 và 2-
2,2 tỷ USD vào năm 2010.
2.3 Vai trò của ngành thủy sản trong việc tạo công ăn việc làm
Công nghiệp đánh bắt và nuôi trồng thủy sản đảm bảo việc làm
thường xuyên cho khoảng 3 triệu lao động, đặc biệt là từ năm 1995, số
lao động thủy sản là 3,03 triệu người. Khoảng 3,8 triệu người sống
trong các hộ gia đình làm nghề đánh bắt và nuôi trồng thủy sản. Như
vậy, khoảng 6,8 triệu người chiếm 8,7% dân số sống phụ thuộc vào
ngành thủy sản như một nguồn sinh sống.
Tổng số lao động có thu nhập từ đánh bắt và nuôi trồng thủy sản
Do có những khó khăn từ đặc điểm của thị trường EU: như lượng
hàng cung cấp phải ổn định quanh năm, trong thanh toán quốc tế phải
mở L/C trả chậm 6 tháng hoặc 1 năm, sự khác biệt về luật lệ và thói
quen mua bán, chi phí vận chuyển và bảo hiểm cao Nhưng cản trở
lớn nhất hiện nay của các doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu hàng
thủy sản sang EU vẫn là chất lượng sản phẩm. Yêu cầu chất lượng
hàng thủy sản chia làm hai hướng: hoặc là giữ nguyên trạng thái ban
đầu (thủy sản tươi sống) hoặc là chế biến theo những công nghệ nhằm
duy trì tốt chất lượng nguyên thủy và tạo ra sản phẩm tiện lợi cho
người tiêu dùng.
Hiện nay EU đánh giá chất lượng sản phẩm thuỷ sản theo 3 chỉ
tiêu:
- Chỉ tiêu cảm quan: Trạng thái tự nhiên, mùi vị, màu sắc của sản
phẩm.
- Chỉ tiêu hoá học: Quy định hàm lượng Nitơ dưới dạng Amoniăc,
độ pH trong 1 gam sản phẩm.
- Chỉ tiêu vi sinh: Quy định loại, lượng, khuẩn có trong sản phẩm
như: khuẩn hoá khí, khuẩn hiếm khí, khuẩn Coliforimen
Hiện tại hàng thủy sản của Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được yêu
cầu về tiêu chuẩn chất lượng, tiêu chuẩn an toàn và vệ sinh thực phẩm
của EU.
CHƯƠNG II.
THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM
SANG EU TRONG NHỮNG NĂM QUA I. KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM THỊ TRƯỜNG EU
1. Về kinh tế - chính trị
Từ năm 1968, EU đã là một thị trường thống nhất hải quan, có
định mức thuế hải quan chung cho tất cả các nước thành viên. Ngày
Áo 3,3 2,5 3,0
Bỉ 2,9 2,0 2,3
Anh 2,3 1,0 1,5
Đức 2,8 2,0 2,5
Hy Lạp 3,5 3,0 2,8
Đan Mạch 2,7 1,5 2,3
Ai-rơ-len 9,5 7,5 7,5
Tây Ban Nha 3,8 3,4 3,3
Italia 1,4 1,6 2,6
Hà Lan 3,7 2,6 3,0
Bồ Đào Nha 4,2 3,2 2,5
Phần Lan 5,0 3,0 3,2
Pháp 3,2 2,5 2,8
Thụy Điển 2,9 2,2 2,6
Nguồn: Tạp chí Thương mại số 26/ 1999
2.Về mức sống dân cư
Liên minh Châu Âu là khu vực có mức GDP bình quân đầu
người rất cao, trong những năm gần đây mức bình quân đó là khoảng
20.000 đô la Mỹ. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong một số năm
qua là trên 8000 tỷ USD, chiếm gần 30% GDP của thế giới. Dân số
khu vực EU khoảng 375 triệu người, chiếm 6,5% dân số toàn thế giới.
Nếu như năm 1997, mức GDP bình quân đầu người là 21.893 đô
la Mỹ thì năm 1999 là 21.764 đô la Mỹ, năm 2000 được dự báo là
22.872 đô la Mỹ và sẽ tăng lên 29.531 đô la Mỹ vào năm 2003.
EU là thị trường mà người dân có mức sống cao với số dân ít so
với các khu vực khác, nên nhu cầu ở EU là rất lớn (luôn đạt mức 2%
tăng trưởng). Hàng năm một người dân EU chi hơn một nửa mức
GDP cho tiêu dùng cá nhân.
đóng gói đông lạnh. Cũng như vậy, mức tiêu thụ sản phẩm đông lạnh