Luận văn : ỨNG DỤNG KỸ THUẬT RT - PCR ĐỂ PHÁT HIỆN VIRUS GÂY HỘI CHỨNG RỐI LOẠN SINH SẢN VÀ HÔ HẤP Ở LỢN part 2 - Pdf 19


Phần I. MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề
Porcine reproductive and respiratory syndrome virus (PRRSV) là tác nhân
chính gây hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn – PRRS (porcine reproductive
and respiratory syndrome). Đây là một bệnh mới, phức tạp. Đặc trưng của bệnh là gây
sẩy thai ở giai đoạn cuối, chết thai và thai khô hoặc lợn con sinh ra yếu, bệnh biểu hiện
ở hệ hô hấp của lợn con theo mẹ và lợn cai sữa, bệnh còn làm trì hoãn sự động dục và
những khó khăn về hô hấp ở lợn.
Bệnh có thể xảy ra ở tất cả các kiểu chăn nuôi: nuôi nhốt hay thả rong; tập trung
hay phân tán, qui mô đàn lớn hay nhỏ và tình trạng sức khoẻ tốt hay xấu. Nguyên nhân
lây bệnh phổ biến là do thiếu cách ly hoặc kiểm dịch đối với lợn mua, ở gần đàn mắc
bệnh và qui mô đàn lớn.
Do tính chất nghiêm trọng và khả năng lây lan rộng của bệnh, việc chẩn đoán
và phát hiện bệnh sớm là rất quan trọng. Tuy nhiên việc phát hiện theo phương pháp
nuôi cấy truyền thống thì lại rất khó khăn và mất nhiều thời gian.
Cho đến những năm gần đây, kỹ thuật sinh học phân tử đã phát triển một cách
mạnh mẽ và chứng minh được vai trò ưu việt, trong đó kỹ thuật PCR ngày càng được
ứng dụng rộng rãi hơn. Đây là một kỹ thuật có độ chính xác cao, ít tiêu tốn thời gian
và về mặt chi phí thì có thể chấp nhận được.
Nhằm mục đích ứng dụng rộng rãi kỹ thuật sinh học phân tử vào công tác chẩn
đoán, được sự chấp nhận của bộ môn Công Nghệ Sinh Học trường Đại Học Nông Lâm
TP. Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Ngọc Hải và PGS.TS Trần Thị
Dân, chúng tôi thực hiện đề tài: “Ứng dụng kỹ thuật RT - PCR để phát hiện virus
gây hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn”.
1


loạn sinh sản và hô hấp ở lợn”(2).
Đầu tiên, trên cơ sở về hình thái học, tổ chức gene, sự sao chép, dịch mã và vị
trí protein giống nhau, PRRSV đã được định danh cùng nhóm với virus gây viêm động
mạch ở ngựa (EAV: equine arteritis virus), virus LDV (lactate dehydrogenase
elevating virus) và virus gây sốt xuất huyết ở khỉ (SHFV: simian hemorrhagic fewer
virus). Những họ virus này có khả năng sao chép trong đại thực bào và nhiễm bệnh lâu
dài trên vật chủ tự nhiên của chúng (dẫn liệu từ tài liệu tham khảo 7).
Nhìn chung, PRRS có những biểu hiện lâm sàng giống nhau giữa dòng Châu
Mỹ và dòng Châu Âu. Tuy nhiên, những dòng này có những đặc tính gây bệnh, kiểu
kháng nguyên và những đặc tính di truyền khác nhau. Những đặc điểm khác nhau này
là cơ sở cho việc phân loại các dòng thành hai nhóm nhỏ: nhóm A gồm hầu hết các
dòng ở Nam Mỹ và nhóm B gồm hầu hết các dòng ở Châu Âu (19).

2.1.2. Lịch sử bệnh (11)
Vào cuối thập niên 80 đã xảy ra một trận đại dịch ở Mỹ. Người ta mô tả đầu
tiên về một hội chứng bệnh ở vùng phía nam Carolina, bao gồm việc suy giảm mạnh
khả năng sinh sản, viêm phổi sau cai sữa, gia tăng tỉ lệ tử vong ở heo. Nguyên nhân
lúc bấy giờ chưa được biết, do đó được gọi với tên gọi “bệnh thần bí ở lợn” (MSD:
mystery swine disease).
3

Đầu tiên có rất nhiều ý kiến về nguyên nhân gây ra trận đại dịch, bao gồm,
nguyên nhân do virus viêm não và cơ tim (Encephalomyocarditis), hog cholera virus,
porcine enterovirus, porcine parvovirus, pseudorabies virus,… và cả nguyên nhân do
thức ăn bị nhiễm độc tố nấm (mycotoxins). Ở Canada, một dạng virus gây bệnh cúm
type A được phân lập ở heo con bệnh về hô hấp và cũng được đưa vào danh sách nghi
ngờ nguyên nhân gây ra “bệnh thần bí”. Việc tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh ngày


thấy rằng 75 % bệnh có phản ứng dương tính với virus Lelystad, gần 10 % có dương
tính với các virus khác như Encephalomyocarditis(2).
Ở Châu Âu, bệnh này được phát hiện lần đầu tiên ở Đức vào tháng 11/1991, ở Hà
Lan vào tháng 1/1991. Bệnh này nhanh chóng lây lan theo hướng tây nam và sau đó
chuyển sang hướng bắc theo hướng gió thổi. Việc lan truyền theo đường không khí cũng
được đề cập đến vì ngay cả những đàn được chăm sóc và cách ly tốt với đàn bị bệnh
cũng bị nhiễm bệnh.
Việc lây lan bệnh liên quan tới việc vận chuyển lợn cái hậu bị từ các đàn giống
riêng lẻ tới các trại giống khác. Mở rộng điều tra không phát hiện được bệnh lúc đầu
được đưa vào Anh như thế nào. Việc áp dụng luật hạn chế vận chuyển lợn từ đàn bị
bệnh đã làm chậm tốc độ lây lan bệnh nhưng việc lây lan bệnh vẫn xảy ra thường xuyên
ở khoảng cách vài km trong những vùng có mật độ gia súc lớn.
Ở Việt Nam, bệnh được phát hiện lần đầu tiên bằng các phản ứng huyết thanh
học vào năm 1997, trên đàn lợn nhập từ Mỹ phát hiện có 10 con bị bệnh trong tổng số
51 con. Trong báo cáo của Trung tâm thú y vùng TP.Hồ Chí Minh đã điều tra huyết
thanh học ở 17 trại chăn nuôi lợn thuộc các tỉnh Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Tiền Giang và
Vĩnh Long kết quả cho thấy 6 trại giống có huyết thanh dương tính, 596 trong tổng số
3402 con xét nghiệm có phản ứng dương tính. Tỉ lệ dương tính ở mỗi trại là từ 1,3 %
đến 68,29 % (2).
Bệnh ảnh hưởng tới lợn nái, lợn chửa và lợn con theo mẹ, lợn mới cai sữa, lợn
đang lớn và lợn thịt ở giai đoạn cuối.

2.1.4. Các con đƣờng lây nhiễm
Sự lan truyền tác nhân gây bệnh xảy ra khi tác nhân gây bệnh được thoát ra khỏi
vật chủ, giải phóng ra môi trường bên ngoài, vượt qua được hàng rào phòng thủ của vật
chủ và tiếp cận đến vị trí sao chép trong một vật chủ mới và nhạy cảm. Sự lan truyền
của virus PRRS thông qua nhiều con đường khác nhau (4).

2.1.4.1. Sự lây truyền dọc

lây nhiễm máu trên các công cụ y tế cũng là tác nhân truyền bệnh.
Côn trùng (9)
Côn trùng là một tác nhân lây truyền bệnh rất nguy hiểm. Côn trùng được xem
là một vật mang cơ học, thể hiện ở chổ tác nhân gây bệnh thông qua côn trùng có thể
được mang đi khắp nơi. Côn trùng còn được xem là một vật mang sinh học, thể hiện ở
chổ các tác nhân gây bệnh có thể sao chép để nhân lên trong vật mang trước khi lây
truyền cho vật chủ.
Vai trò của côn trùng trong việc truyền lây virus PRRS là một lĩnh vực được
nghiên cứu thường xuyên. Năm 2002, Otake và cộng sự đã có báo cáo về việc phát
hiện virus PRRS trên lớp vỏ của một loài chân khớp sau khi có trận bùng phát bệnh
6

dịch PRRS. Sau đó, họ đã chứng minh sự truyền lây cơ học dưới điều kiện thí nghiệm
trong 2 đến 4 thử nghiệm bằng cách cho côn trùng chân khớp kiếm ăn trên heo nhiễm
bệnh. Otake và cộng sự (2002) cũng đã tiến hành thử nghiệm khả năng truyền lây virus
PRRS thông qua ruồi. Bằng cách làm trầy da heo bị nhiễm bệnh và heo chưa nhiễm
bệnh, ông phát hiện ra rằng thông qua vết thương và nhờ ruồi làm vật mang, PRRSV
có thể truyền lây từ heo bệnh sang heo chưa bệnh. Trong một thí nghiệm khác, ruồi
được cho đậu trên heo bị nhiễm bệnh lâm sàng sau đó được giữ ở 27
0
C và được kiểm
tra sự hiện diện virus PRRS, kết quả, PRRSV có thể phát hiện trên ruồi trong khoảng
thời gian từ 0 giờ đến 6 giờ sau khi tiếp xúc. Nhưng những khoảng thời gian quan sát
sau đó (12, 24, 48, 72 và 96 giờ) thì không phát hiện được.
Mặc dù đã nhiều nghiên cứu cho thấy các loài chân khớp và ruồi nhà có thể
mang virus PRRS nhưng việc kết luận chúng có phải là tác nhân lan truyền virus hay
không đòi hỏi phải có nhiều nghiên cứu về lĩnh vực này.

phổi hoại tử và xâm nhiễm đặc trưng bởi những đám nhục hoá ở thùy đỉnh, thùy giữa,
thùy phụ và nửa dưới của thùy hoành. Thùy bị bệnh này xám đỏ, có mủ và đặc chắc
(nhục hoá). Trên mặt cắt ngang, thùy bị bệnh lồi ra, khô và nhu mô phổi trông giống
tuyến ức. Quan sát thấy phổ biến viêm phế quản, phổi hoá mủ ở mặt thùy đỉnh.
Bệnh tích đặc trưng đó là sự xâm nhiễm của các tế bào phế nang (pneumocyte)
loại hai làm cho phế nang nhăn lại; đại thực bào bị phân huỷ đôi khi thường gặp ở phế
nang, thường gặp viêm tiểu phế quản hoại tử và tăng sinh biểu mô tiểu phế quản, cũng
có thể gặp viêm phế quản và phổi hóa mủ.

2.2. Các phƣơng pháp dùng trong chẩn đoán bệnh do virus PRRS gây ra
2.2.1. Phân lập virus sống
Virus PRRS chỉ có thể nhân lên trên hai loại tế bào đó là: đại thực bào túi phôi
của heo (PAMs: pulmonary alveolar macrophage) và dòng tế bào thận khỉ châu Phi.
Điều này cho thấy rằng có ít nhất hai dạng tế bào có thể được sử dụng cho việc phân lập
virus. Khi phân lập virus PRRS dòng châu Âu thường đòi hỏi phải sử dụng PAMs.
Virus PRRS được phân lập từ nhiều mẫu bệnh lâm sàng khác nhau bao gồm huyết
thanh, màng tế bào, những tế bào máu đơn nhân ngoại biên, tủy xương, hạch hạnh nhân
(amidal), phổi, nốt bạch huyết, tuyến ức, lách, tim, não, gan, tinh hoàn, mào tinh hoàn,
đảo hành niệu đạo…
Trong số những mẫu mô tả ở trên, dịch thu nhận từ phổi (bronchioalveolar fluid)
và huyết thanh được xem là những mẫu tốt cho việc phân lập virus khi có sự bùng phát
nghiêm trọng virus PRRS, không phụ thuộc vào độ tuổi của thú nhiễm. PRRSV trong
huyết thanh ổn định hơn trong mô. Đối với những thú già, virus PRRS có thể ở mô
nhiều hơn ở máu. Nếu sử dụng các mẫu mô, có thể sử dụng các loại mẫu mô phổi, hạch
hạnh nhân và nốt bạch huyết. Sự lựa chọn mẫu cũng phụ thuộc vào giai đoạn nhiễm
bệnh (cấp tính, hồi phục, bệnh kéo dài). Huyết thanh, phổi và dịch phế nang là những
8

formalin, IHC có độ nhạy cao hơn so với xét nghiệm FA trực tiếp đối với những mẫu giữ
đông, nhưng mất nhiều thời gian và chi phí xét nghiệm cao hơn so với FA trực tiếp.
Một chẩn đoán cuối cùng có thể được thực hiện bằng việc phát hiện trên những
đặc tính lát cắt hiển vi của virus PRRS trong sự kết hợp với IHC hay FA. Đối với xét
nghiệm FA trực tiếp, mẫu mới hay trữ lạnh nên được sử dụng. Đối với xét nghiệm
IHC mẫu mô cần được pha trộn trong 10 % neutral buffered formalin.

9


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status