CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP TÍNH TOÁN TỔN THẤT ĐIỆN NĂNG
THỰC HIỆN: NGUYỄN VĂN PHÚ HỆ THỐNG ĐIỆN 1
1 CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
TÍNH TOÁN TỔN THẤT ĐIỆN NĂNG TRONG
LƯỚI TRUNG ÁP CÓ NHIỀU PHÂN VÙNG QUẢN LÝ
eBook for You
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP TÍNH TOÁN TỔN THẤT ĐIỆN NĂNG
THỰC HIỆN: NGUYỄN VĂN PHÚ HỆ THỐNG ĐIỆN 1
eBook for You
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP TÍNH TOÁN TỔN THẤT ĐIỆN NĂNG
THỰC HIỆN: NGUYỄN VĂN PHÚ HỆ THỐNG ĐIỆN 1
3
3.5.Tính toán trên LOADFLOW
3.5.1. Tính toán số liệu đầu vào cho chương trình
3.5.2.Tính toán tổn thất điện năng cho các phân vùng
3.5.2.1.Theo phương pháp Phương pháp tính toán dựa trên lượng
tổn thất công suất thực phân bố trên từng phân vùng
3.5.2.2.Phương pháp tính toán dựa trên quan điểm tổn thất trên
phân đoạn chung được phân đều cho các phân vùng
3.5.Nhận xét
eBook for You
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP TÍNH TOÁN TỔN THẤT ĐIỆN NĂNG
THỰC HIỆN: NGUYỄN VĂN PHÚ HỆ THỐNG ĐIỆN 1
4
CHƯƠNG I
KHÁI NIỆM CHUNG VỀ LƯỚI PHÂN PHỐI
CÓ NHIỀU PHÂN VÙNG QUẢN LÝ
1.1 .MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU.
1.1.1.Tính cấp bách của đề tài:
Trong những năm gần đây do nhu cầu sử dụng điện năng ngày một nhiều, sự
tăng trưởng phụ tải ngày một lớn, đồng thời có thêm nhiều loại hình phụ tải đặc
biệt (các hộ dùng điện là các công ty liên doanh, các công ty 100% vốn nước
ngoài). Điều đó đòi hỏi ngành Điện phải cố gắng rất nhiều trong việc đáp ứng các
yêu cầu về cung cấp điện cả về số lượng và chất lượng điện năng. Ngoài ra các
chính sách kinh doanh cũng cần phải được cải tổ và rành mạch hơn trong việc tính
toán giá cả. Giá thành điện năng cung cấp là một tham số phụ thuộc vào rất nhiều
yếu tố như : giá thành sản xuất, giá thành phân phối và truyền tải … chính sách ưu
được đặt ra.
Ví dụ : Mô tả một ví dụ về lưới có nhiều phân vùng quản lý.
ph©n Vïng 1
1
2
ph©n Vïng 2
3 4 65 7
ph©n Vïng 3
8 9 10 1.1.2.1.Các yêu cầu:
Để đảm bảo tính công bằng trong kinh doanh mua bán điện việc xác định chính
xác phần tổn thất điện năng cho từng phân vùng là yếu tố rất cần thiết. Chính vì
vậy việc xác định tổn thất trong loại lưới này cần phải đồng thời thỏa mãn các yêu
cầu chính sau:
Tính chính xác của kết quả.
Tính công bằng trong việc phân bổ tổn thất điện năng giữa các phân vùng.
Tính khả thi của phương pháp xác định.
Cả ba yêu cầu trên đều cùng phải được đảm bảo. Bởi chính tổn thất điện năng
kỹ thuật là không thể xác định hính xác được bằng thiết bị đo đếm. Nhưng nó lại
cho ta biết lượng tổn thất mà không thể điều chỉnh được với một lưới đã có sẵn
(lượng tổn thất trên đường dây và máy biến áp). Tham số này bao giờ cũng nhỏ
hơn lượng tổn thất do đo đếm được (lượng tổn thất đo đếm được bao gồm cả phần
tổn thất thương mại). Chính vì vậy đôi lúc nó chính lại là các đại lượng để đánh giá
mức độ quản lý tốt hay tồi của mỗi phân vùng quản lý lưới điện, nhiều lúc tham số
này còn là cái đích để phấn đấu hoặc để giao chỉ tiêu cho các phân vùng. Và vì vậy
yêu cầu về mức chính xác của kết quả tính là không thể bỏ qua được.
eBook for You
Ngoài ra ngay cả khi có số liệu về sự tham gia của các phụ tải khác ngoài phân
vùng mình quản lý (phân bố công suất và tổn thất) thì kết quả tính toán này cũng
không phải của riêng phân vùng này. Để có được kết quả chính xác cần phải phân
định cụ thể các đoạn mạch có sự tham dự chung của các phụ tải của nhiều phân
vùng. Trong hình vẽ trên (Vi du) . Các đoạn lưới từ nút 1 4 phản ánh lượng tổn
thất do các phụ tải của cả 3 phân vùng tham gia. Trong khi đó đoạn mạch từ nút 4
7 chỉ phản ánh lượng tổn thất do phụ tải của phân vùng 2 và phân vùng 3 tham
gia mà thôi.
1.2.CÁC CÔNG THỨC TÍNH TOÁN
eBook for You
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP TÍNH TOÁN TỔN THẤT ĐIỆN NĂNG
THỰC HIỆN: NGUYỄN VĂN PHÚ HỆ THỐNG ĐIỆN 1
7
Công thức chung khi xác định tổn thất điện năng trong mạng:
Tổn thất điện năng trong lưới phân phối thông thường được chia thành 2 bộ
phận chính:
Tổn thất điện năng trong máy biến áp:
Tổn thất điện năng điện năng trên đường dây:
Việc tính tổn thất điện năng là một trong những vấn đề khó, vì nó có khá nhiều
các tham số bất định. Trong tính toán thường áp dụng phương pháp tính theo T
max
và , Vì vậy mức độ chính xác của kết quả bây giờ chỉ còn phụ thuộc vào việc có
được các tham số chính xác (T
max
và ) ở các hộ phụ tải. Mà các tham số này trong
thực tế cũng không có được một cách trực tiếp. Cho nên trong phần dưới đây sẽ đề
cập đến việc xác định các tham số (T
max
và ) ở các hộ phụ tải sao cho kết quả tính
max
P
t (giờ)
P
max
0
Hình-1.1
A
eBook for You
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP TÍNH TOÁN TỔN THẤT ĐIỆN NĂNG
THỰC HIỆN: NGUYỄN VĂN PHÚ HỆ THỐNG ĐIỆN 1
8
đồ thị ). Cùng một lượng điện năng tiêu thụ tương tự, thì phụ tải cực đại chỉ cần
một thời gian bằng T
max
. Từ đó ta suy ra công thức tính T
max
:
max
max
P
A
T
(1-1)
Trong thực tế khái niệm T
max
được đưa ra để xác định điện năng tiêu thụ trong
8760
P
t (giờ)
P
max
0
A
Hình- 1.2
eBook for You
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP TÍNH TOÁN TỔN THẤT ĐIỆN NĂNG
THỰC HIỆN: NGUYỄN VĂN PHÚ HỆ THỐNG ĐIỆN 1
9
Từ Hình-1.2 cho thấy rằng điện năng tổn thất trong một năm của nhóm phụ tải
thực tế là phần diện tích giới hạn bởi đường cong tổn thất công suất và trục thời
gian. Phần diện tích này bằng với phần diện tích của mầu trắng bao phủ bởi P
max
-4
. T
max
)
2
. 8760 (1.5)
Công thức (1.5) cũng sẽ được dùng để tính tổn thất điện năng trong khuôn khổ
của đề tài này. Bản thân nó chưa hẳn là phương pháp duy nhất để có được kết quả
chính xác. Xong để áp dụng cho việc tính đồng loạt, thì tỏ nó ra hưu hiệu hơn, dễ
áp dụng hơn cho nên trong khuôn khổ của đề tài này chúng ta chọn dùng phương
pháp này để sử dụng trong tính toán. Để phù hợp hơn với sự vận hành thực của phụ
tải nó được sửa lại đôi chút như sau:
= (0,124 +0,0001 . T
max
)
2
. t (1.6)
Trong đó: t - là thời gian đóng điện thực tế của trạm trong một năm, vì trên
thực tế có những trạm biến áp chỉ đóng điện với một số ít hơn (ví dụ các trạm bơn
nông nghiệp phục vụ cho tưới tiêu, thuỷ lợi.v.v ). Mặt khác các trạm biến áp khác
nhau cũng có những giờ vận hành thực tế trong một năm khác nhau do nhiều
nguyên nhân khác nữa.
Để tính tổn thất điện năng ở các trạm biến áp phụ tải ta sử dụng công thức sau:
A
trạm
= P
0
.n.t + P
N
.(K
max
)
2
. t (1.9)
Để tính tổn thất điện năng trên lưới điện tải ta sử dụng công thức sau:
A
ij
= P
maxij
.
ij
(1.10)
Trong đó:
P
maxij
- Tổn thất công suất tác dụng cực đại trên đoạn ij.
ij
- Thời gian chịu tổn thất công suất cực đại của đoạn ij.
Tuy nhiên để có được
ij
trên từng đoạn mạch cụ thể của lưới điện là chúng ta
cần phải biết tất cả các
i
của từng phụ tải có tham dự vào đoạn mạch nêu trên. Với
những đoạn mạch cụ thể điều này hoàn toàn có thể xác định được, xong phương
pháp này tỏ ra là khá phức tạp và làm tăng khối lượng tính toán, khó có thể tính
toán một cách nhanh chóng. Chính vì vậy ở tất cả các đoạn mạch bất kỳ của lưới
chúng ta sẽ áp dụng cách tính chung là sử dụng thời gian chịu tổn thất công suất
trung bình chung của toàn lưới.
dụng công suất cực đại trung bình của cả lưới theo biểu thức sau:
T
maxtb
=
n
i
i
n
i
imaximax
P
T.P
1
1
(1.12)
Trong đó:
eBook for You
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP TÍNH TOÁN TỔN THẤT ĐIỆN NĂNG
THỰC HIỆN: NGUYỄN VĂN PHÚ HỆ THỐNG ĐIỆN 1
11
P
maxi
- là công suất cực đại(trung bình) tại các nút của hộ phụ tải (là phần
công suất có kể đến cả tổng thất công suất trong các máy biến áp của
trạm)
tb
- thời gian chịu tổn thất trung bình của lưới (xem phần
trên)
Tổn thất điện năng toàn lưới sẽ được tính theo công thức sau:
A
= A
dd
+ A
trạm
(1.15)
Trong đó: A
trạm
= A
fe
+ A
Cu
(là phần tổn thất điện năng trong từng trạm)
Tổn thất điện năng tính theo phần trăm sẽ tính theo công thức sau:
A% =
100.
A
A
(1.16)
Trong đó: A - là tổng điện năng tiêu thụ của lưới trong 1 năm được tính
theo
công thức sau:
nhìn nhận dưới quan điểm khác, thống nhất hơn, công bằng hơn với góc độ tổng
quan.
Để có một được một sự nhìn nhận thống nhất hơn về vấn đề này chung ta sẽ
xem xét vấn đề chia xẻ tổn thất trong lưới điện, lưới điện khu vực hay lưới truyền
tải chẳng hạn. Trong lưới này có rất nhiều thành phần tham gia vào việc mua và
bán điện năng. Việc xác định tổn thất điện năng khó có thể phân định rõ dàng cho
từng hộ mua hoặc bán điện năng. Tuy nhiên tổng tổn thất của lưới này lại có thể
xác định được một cách khá chính xác thông qua các thiết bị đo đếm. Sự khác biệt
cơ bản của lưới này so với lưới phân phối là ở chỗ, tất cả các hộ mua bán điện đều
phải đặt các thiết bị đo đếm, do đó việc xác định phần tổn thất chung trên lưới này
là khá dễ dàng. Còn việc phân bổ phần tổn thất này lại được tiến hành trên quan
điển thống nhất, người ta coi lưới truyền tải là lưới dùng chung và vì vậy phần tổn
thất sẽ được chia đều cho tất cả các hộ mua, bán điện theo tỷ lệ công suất góp
chung, không phân biệt vị trí của nó ở đâu trên sơ đồ lưới điện. Trên cơ sở đó
người ta đã hình thành được giá mua và bán điện năng một cách thống nhất.
Vì vậy nếu chúng ta cũng nhìn nhận tương tự như ở lưới truyền tải thì phần tổn
thất điện năng trên các phân đoạn chung được coi như ở phần lưới truyền tải (đoạn
lưới sử dụng chung). Lúc đó phần tổn thất trong tất cả các phân đoạn
‘‘
chung
’’
không phân biệt nó nằm trên phân vùng quản lý nào sẽ được phân bổ đều cho tất cả
các phân vùng theo tỷ lệ tham gia sử dụng điện năng của các phụ tải mỗi vùng, kể
cả các phân vùng không có phần phân đoạn chung. Cách nhìn nhận này tỏ ra rõ
ràng hơn, công bằng hơn. Vì nếu phân bổ chính xác sẽ dẫn tới các phân vùng mà vị
trí nằm ở xa nguồn sẽ phải chịu tỷ lệ tổn thất lớn hơn, còn các phân vùng ở đầu
nguồn sẽ lợi hơn vì tỷ lệ tổn thất bé hơn. Hơn nữa việc phân chia các phân vùng là
eBook for You
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP TÍNH TOÁN TỔN THẤT ĐIỆN NĂNG
eBook for You
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP TÍNH TOÁN TỔN THẤT ĐIỆN NĂNG
THỰC HIỆN: NGUYỄN VĂN PHÚ HỆ THỐNG ĐIỆN 1
14
CHƯƠNG II
CÁC GIẢI PHÁP TÍNH TOÁN THỰC TẾ
2.1 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP TÍNH TOÁN HIỆN DÙNG
Hiện có khá nhiều phương pháp được sử dụng để xác định và phân bổ điện năng
giữa các phân vùng khác nhau, trong khuôn khổ phần này người làm chỉ đưa ra
phương pháp đang được sử dụng và một số phương pháp phân bổ tổn thất điện
năng có thể được áp dụng tính toán trong thực tế.
2.1.1.Phương pháp tính toán sử dụng thiết bị đo đếm:
Đây là phương pháp đang đựoc áp dụng trong thực tế. Trong phương pháp này
thường người ta sử dụng thiết bị đo đếm điện năng tại đâu nguồn của các phân
vùng Hình-2.1
ph©n Vïng 1
2
3 4
ph©n Vïng 3ph©n Vïng 2
vung1
, A
vung2
, A
vung3
- là tổng điện năng tiêu thụ của các hộ phụ tải tại
các phân vùng 1, 2 và 3.
Ta có
A
1
= kWh1 – (kWh2+kWh3) (2.1)
A
2
= kWh2 – kWh3 (2.2)
A
3
= kWh3 (2.3)
Tổng thất điện năng cho các phân vùng sẽ được tính như sau:
A
vung1
= A
1
- A
vung1
A
vung2
= A
2
- A
thất
phân vùng
1
Lượng tổn
thất
phân vùng
2
Lượng tổn
thất
phân vùng
3
Hình - 2.2
eBook for You
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP TÍNH TOÁN TỔN THẤT ĐIỆN NĂNG
THỰC HIỆN: NGUYỄN VĂN PHÚ HỆ THỐNG ĐIỆN 1
16
ph©n Vïng 1
ph©n Vïng 2 ph©n Vïng 3
kWh1
kWh2
kWh3
1
2
3 4 5 6 7 8 9 10
tbluoi
- là thời gian chịu tổn thất công suất cực đại trung bình
của toàn lưới xác định theo biểu thức (1.11)
Vậy tổng tổn thất công suất tính được của mỗi phân vùng là:
A
vung1
=
tbluoi
. P
maxij-vung1
(2.7)
eBook for You
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP TÍNH TOÁN TỔN THẤT ĐIỆN NĂNG
THỰC HIỆN: NGUYỄN VĂN PHÚ HỆ THỐNG ĐIỆN 1
17
A
vung2
=
tbluoi
. P
maxij-vung2
(2.8)
A
vung3
=
tbluoi
. P
maxij-vung3
quản lý nó. Lượng tổn thất điện năng này cần phải được phân bổ tường minh cho
tất cả các phân vùng có phụ tải tham gia vào. Trong phương pháp này phần tổn thất
điện năng trên đoạn chung 1-2 sẽ được phân bổ cho mỗi phân vùng tuỳ thuộc vào
công suất phụ tải của mỗi phân vùng có tham gia trên đoạn 1-2.
Gọi A
1-2
- là lượng tổn thất điện năng tính được trên đoạn chung từ nút
1đến nút 2, thì lượng tổn thất này được phân bổ về các phân vùng theo biểu thức
sau:
P
vung1
- Tổng phụ tải của vùng 1.
eBook for You
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP TÍNH TOÁN TỔN THẤT ĐIỆN NĂNG
THỰC HIỆN: NGUYỄN VĂN PHÚ HỆ THỐNG ĐIỆN 1
18
P
vung2
- Tổng phụ tải vùng 2.
P
vung3
- Tổng phụ tải 3.
Khi đó lượng tổn thất trên đoạn 1-2 sẽ được phân bổ cho mỗi phân vùng
Phân vùng 1:
321
1
211
vungvungvung
vung
P
.AA
(2.12)
Công thức tổng quát cho việc phân bổ tổn thất điện năng cho các vùng có phụ tải
tham gia như sau:
Phân vùng i:
thamgiavung
vungi
vungi
P
P
.AA
(2.13)
Trong đó: A - Lượng tổn thất điện năng cần phân cho các vùng
(lượng tổn thất tại vùng chung).
P
vungi
- Tổng công suất của phụ tải trong vùng i.
P
vung-thamgia
- Tổng công suất của phụ tải của các vùng có tham
gia.
Có nghĩa là để có sự phân bổ tổn thất một cách chính xác trong các phân đoạn
chung. Chúng ta cần phải tiến hành phân bổ lượng tổn thất của từng đoạn nhỏ theo
đó phân bố tổn thất theo phân vùng lại có dạng như hình vẽ (Hình - 2.5)
Sự phân bố tổn thất theo phân vùng như Hình-2.5 là hoàn toàn hiển nhiên trên
quan điêm năng lượng (các phụ tải như nhau thì phụ tải nào ở càng xa nguồn, thì
càng gây nhiều tổn thất trên lưới).
2.1.4.Phương pháp tính toán dựa trên quan điểm tổn thất trên phân đoạn
chung được phân đều cho các phân vùng:
Phương pháp này dựa trên quan điểm cho rằng các phân đoạn chung của lưới
phải đóng vai trò như một lưới truyền tải và vì vậy việc chia xẻ tổn thất phải được
tiến hành đồng đều cho mọi phân vùng có tham gia truyền tải công suất trên lưới,
không phân biệt vị trí của phân vùng (gần hoặc xa nguồn). Điều đó cũng có nghĩa
là nếu các phân vùng đều có phụ tải và kết cấu lưới như nhau thì phân bố tổn thất
giữa các vùng sẽ như hình vẽ Hình-2.6 Lượng tổn
thất phân vùng
3
lưới chung, trong khi đó các phụ tải của phân vùng 1 và 2 lại có cơ hội tận dụng sự
truyên tải của phần lưới chung. Cho nên để đảm bảo sự công bằng theo quan điểm
của phương pháp này phần lưới chung phải được coi là phần đường trục chính
chạy từ nguồn đến tận phụ tải cuối cùng. Cho nên phần đoạn chung trong ví dụ
minh hoạ là phần đường dây từ nút 1 đến nút 10 của lưới như hình vẽ (Hình-2.7).
1
3
2
4
ph©n Vïng 1
5 6 7
ph©n Vïng 2
8 109
ph©n Vïng 3
Ph©n ®o¹n chung
Hình-2.7
Sau khi đã phân định được các phân đoạn chung của lươi thì toàn bộ phần tổn
thất này sẽ được phân bổ “đều” cho tất cả các phân vùng của lưới. Gọi là phân đều
không có nghĩa là phân bằng nhau cho các phân vùng mà nó sẽ đuợc phân theo tỷ
lệ điện năng sử dụng của các vùng.
Nếu gọi tổng điện năng tiêu thụ tại các phân vùng là:
A
vung1
- tổng điện năng tiêu thụ của các phụ tải trong phân vùng 1.
A
vung2
- tổng điện năng tiêu thụ của các phụ tải trong phân vùng 2.
A
vung3
vung2
- tổng tổn thất điện năng tại các phân nhánh riêng của phân vùng 2.
A
vung3
- tổng tổn thất điện năng tại các phân nhánh riêng của phân vùng 3.
A
vungchung
- tổng tổn thất điện năng tại các phân nhánh riêng của phân
vùng chung.
Lúc đó phần tổn thất điện năng trên phân đoạn chung sẽ được phân bổ cho mỗi
vùng theo tỷ lệ sau:
3vung2vung1vung
1vung
vungchung1C
AAA
A
.AA
(2.14)
3vung2vung1vung
2vung
vungchung2C
AAA
A
AA
= A
vung3
+ A
C3
Nhược điểm: Phương pháp này chưa phản ánh thực phần tổn thất cho từng
phân vùng theo quan điểm điện năng.
Ưu điểm: Tuy có nhược điểm như đã nêu trên, nhưng về cơ bản phương
pháp này có khá nhiều ưu điểm.
Nó đảm bảo được tính công bằng trong sử dụng năng lượng, vì bản thân các
phân vùng được đặt ra là do lý do quản lý hành chính, còn bản thân toàn bộ
lưới thường vẫn nằm trong cùng một đơn vị kinh doanh điện. Mặt khác vị trí
địa lý của các phân vùng không nên bị đối sử phân biệt trong việc tính tổn
thất.
Phương pháp tính này làm cho khối lượng tính toán ít, dễ thực hiện được cả
bằng các phương pháp truyền thống. Thậm trí nó còn cho phép tính toán
ngay cả với lưới điện có kết cấu vòng.
eBook for You
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP TÍNH TOÁN TỔN THẤT ĐIỆN NĂNG
THỰC HIỆN: NGUYỄN VĂN PHÚ HỆ THỐNG ĐIỆN 1
22
Phương pháp này cho phép sử dụng việc tính toán nhờ các phần mềm, làm
cho tốc độ tính nhanh, đảm bảo sự chính xác cao.
2.2. KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG THỰC TẾ CỦA CÁC PHƯƠNG PHÁP.
2.2.1.Các yêu cầu chính của thực tê:
Để đưa các phương pháp tính toán vào áp dụng trong thực tế, điều đòi hỏi đầu
tiên phải là tính khả thi của phương pháp. Còn tính khả thi của phương pháp phụ
thuộc rất nhiều vào các yêu cầu cụ thể về số liệu, về đầu tư cơ sở vật chất, về trình
độ quản lý và vận hành… Tóm lại các phương pháp tính toán cần phải đơn giản.
lợi. Tuy nhiên trong ba phương pháp này chúng đều có những ưu nhược điểm cần
phải được xem xét trên quan điểm ứng dụng thực tế.
Phương pháp chỉ dựa trên phân bố công suất và tổn thất riêng trong phân
vùng mình quản lý (phương pháp thứ 2). Phương pháp này có ưu điểm tính
toán đơn giản. Xong kết quả tính không phản ánh được tính phân bổ công
bằng tổn thất giữa các phân vùng.
Phương pháp dựa trên sự phân tách chính xác các phân đoạn chung. Ưu
điểm chính của phương pháp này là bóc tách được chính xác phần tổn thất
do các phân vùng riêng gây ra trong lưới theo quan điểm năng lượng. Tuy
nhiên khối lượng tính toán là rất nhiều, đặc biệt là đối với lưới thực tế có số
lượng phân nhánh chung là rất nhiều. Hơn thế nữa trên quan điểm kinh
doanh thì nó lại tỏ ra không công bằng (thể hiện ở Hình-2.5 về phân bố tổn
thất). Ngoài ra khó có khẳ năng tính toán bằng các phần mềm.
Phương pháp dựa trên quan điểm tổn thất trên các phân đoạn chung được
phân bố đều. Phương pháp này tỏ ra có ưu điểm vượt trội so với hai phương
pháp vừa trình bầy ở chỗ: nó vừa đơn giản trong tính toán, lại vừa thể hiện
được tính công bằng trên quan điểm kinh doanh. Ngoài ra nó còn cho phép
tính toán với lưới điện phức tạp (lưới vòng hay lưới được cung cấp từ nhiều
nguồn). Hơn thế nữa nó còn cho phép tính toán băng phần mềm để giảm
khối lượng, thời gian và tiền bạc.
Tính toán chế độ xác lập của hệ thống điện với kết cấu bất kỳ.
Tính toán tổn thất điện áp, tổn thất công suất.
Tính toán tổn thất điện năng trên đường dây và trong máy biến áp.
Tính toán ngắn mạch ba pha cho hệ thống điện.
Tính toán bù công suất phản kháng cho hệ thống điện.
Tính toán các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của hệ thống điện.
Tra cứu các trang thiết bị điện.
In ấn kết quả trên sơ đồ, in ra giấy, in ra tệp.
Vẽ sơ đồ lưới điện trên các khổ giấy A4; A3; A2; A1; A0.
In ấn các sơ đồ trên các khổ giấy A4; A3; A2; A1; A0.
Với phần tính toán tổn thất điện năng, tổn thất công suất, tổn thất điện áp trên
lưới điện thì đây là một phần mềm rất thuận tiện cho việc tính toán. Vì vậy ta tiến
hành tìm hiểu phần mềm này để nắm được cơ bản và cách vào số liệu từng bước
eBook for You
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP TÍNH TOÁN TỔN THẤT ĐIỆN NĂNG
THỰC HIỆN: NGUYỄN VĂN PHÚ HỆ THỐNG ĐIỆN 1
25
giúp cho việc tính toán được chính xác cao, và để so sánh với thực tế của mạng
điện ta có các tổng kết chung và có hướng cải tạo hoặc phương pháp để giảm tổn
thất cho mạng .
Trong phần mềm có các thư viện lưu các thông số kỹ thuật của các lộ đường
dây trên không, các loại cáp điện cùng các máy biến áp và các máy phát điện.
Ta có thể dùng các số liệu trong sổ tay và trong các bảng tra cứu để cài vào thư
viện dùng tính toán cho các thiết bị có thực trên lưới điện mà ta cần tính toán .
3.2. CÁC KHÂU CHUẨN BỊ CHO VIỆC SỬ DỤNG LOADFLOW
Đánh số nút cho sơ đồ một sợi :
Nút số 1 thường dành cho nút hệ thống. Các nút tiếp theo của lưới có thể được
đánh theo một thứ tự bất kỳ chỉ cần số thứ tự của nút không trùng nhau và là dãy
số liệu tục. Thông thường để tránh nhầm lẫn và để có thể vào được dữ liệu theo bất