Sông Hậu: Mẫu cá bệnh thu tại xí nghiệp Đông lạnh Thủy sản số 7 thuộc
Agifish, nguồn cá từ cá bè nuôi tại Châu đốc.
+ Thời vụ thu mẫu
Tổng số lượng mẫu thu: 80 mẫu.
Mùa mưa: thu mẫu vào các tháng 6, 7 năm 1997, tổng số mẫu thu 53 mẫu
(sông Tiền 32 mẫu, sông Hậu 21 mẫu).
Mùa khô: thu mẫu vào tháng giêng năm 1998, tổng số mẫu thu 27 mẫu
(sông Tiền 10 mẫu, sông Hậu 17 mẫu), trong đo ù có 5 mẫu đối chứng ( cá không
thấy biểu hiện bệnh lý bên ngòai) có nguồn gốc bè nuôi tại sông Hậu.
II.3 Phương pháp kiểm tra tổng thể mẫu cá
Mẫu vật còn tươi sống - cá vừa mới chết - được đo chiều dài, cân trọng lượng,
quan sát bằng mắt thường dấu hiệu bệnh lý biểu hiện bên ngòai về hình dạng,
trạng thái, mùi, màu sắc cá, các bộ phận như mắt, xoang miệng, mang, các vi và
hậu môn.
Giải phẩu quan sát biểu hiện bệnh lý nội quan ở gan, lách, thận, dạ dày, ruột,
bóng hơi, mô mở, xoang bụng.
II.4 Phương pháp thu, bảo quản, vận chuyển và xử lý sơ bộ mẫu cá
+ Phương pháp thu mẫu
-
Thu mẫu cá bệnh ở bè
Cá ba sa có biểu hiện bất thường như bỏ ăn, bơi lờ đờ trên mặt nước, hoặc
trôi ngữa bụng, tấp vào mặt khại bè dưới dòng nước chảy, cá còn thở thoi thóp,
được vớt lên khỏi nước bằng vợt lưới.
-
Thu mẫu cá ba sa bệnh tại xí nghiệp Đông lạnh số 7
Cá ba sa nguyên liệu, được vận chuyển bằng ghe đụt từ bè nuôi đến xí nghiệp
Đông lạnh. Tất cả cá hầu hết đều còn sống, cá khỏe mạnh bơi lội bình thường, cá
27
có biểu hiện các dấu hiệu bệnh lý khi quan sát bên ngoài không sử dụng để chế
biến. Cá nầy được thu làm mẫu nghiên cứu.
+ Nhuộm Gram để quan sát hình thái vi khuẩn theo phương pháp Hucker’s
Modification.
+ Thực hiện các phản ứng sinh hóa, đònh danh vi khuẩn theo hệ thống
phân lọai vi khuẩn của Bergey (1981).
Sử dụng các phản ứng sinh hóa thực hiện đònh danh vi khuẩn.
1. Oxydase 2. Catalase 3. OF/O ; OF/ F
4. KIA 5. MR - VP 6. Simons citrate
7. Phenylalanine (agar) 8. Urea 9. Indol
10. Nitrat 11. Arginine 12. Ornithine
13. Lysine 14. H
2
S Production 15.Motility
16. KCN 17.ONPG 18. Gelatine
19. Glucose (gas) 20. Latose 21. Arabinose
22. Maltose 23. Sucrose (Saccarose) 24. Rhaminose
25. Malnitole 26. Sorbitole 27. Galactose
28. Inositole
+ Sử dụng API kit (Analytical Profile Index) đònh danh vi khuẩn phân
lập lần hai.
- Phương pháp lập kháng sinh đồ: Lập kháng sinh đồ theo phương pháp đóa
giấy của Kirby - Bauer (Bộ môn vi sinh - khoa Y 1989).
- Xử lý mẫu đònh lượng vi khuẩn: bằng phương pháp pha loãng hệ thống
10lần
Cắt một mẫu gan, cân trọng lượng 1gr, cho vào cối thủy tinh giã nhuyễn.
Sau khi mẫu vật nhuyễn mòn, cho vào ống nghiệm có chứa 9ml nước muối sinh lý
29
0,85% NaCl đã thanh trùng , khuấy đều bằng máy lắc. Lấy 1ml dung dòch cho
sinh trong môi trường BHI, cấy chuyền sang đóa môi trường TSA, gạn khuẩn lạc
hòa vào 3 ống nghiệm, mỗi ống chứa 9ml nước muối sinh lý 0,85% NaCl, với
3 mật độ vi khuẩn khác nhau thể hiện qua 3 độ đục: cao, trung bình, thấp. Mẫu
canh khuẩn pha lõang theo quy trình pha lõang liên tiếp đếm khuẩn lạc. Chọn 3
ống canh khuẩn có mật độ thấp nhất trong cùng một dãy, mỗi ống canh khuẩn của
mỗi mật độ vi khuẩn lấy 0,1ml dàn đều trên 2 đóa môi trường PCA, ủ trong tủ ấm
30
o
C, trong 24 giờ,
đếm khuẩn lạc, lấy trung bình tổng số, tính mật độ vi khuẩn/
ml.
+ Chuẩn bò cá thí nghiệm: Tiến hành thực nghiệm gây nhiễm vi khuẩn trở lại
trên cá ba sa khỏe mạnh, nhằm xác đònh vi khuẩn tác nhân gây bệnh. Vì vậy cá ba
sa thí nghiệm gây nhiễm được nuôi trong phòng thí nghiệm, để tạo sự ổn đònh hơn
về điều kiện sống cũng như sức khỏe , so với cá ba sa sống bên ngòai.
Cá ba sa sinh sản nhân tạo, mới nở 3 ngày, hoặc 10 ngày tuổi, từ Châu đốc,
Long xuyên (An giang) chuyển đến viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II,
trong bao PE có bơm oxy bằng xe bus tốc hành.
Tại viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II, cá ương trong bể kính, kích
thước 0,4 x 0,8 x 0, 45 m và 1 bể 0,45 x 1,5 x 0,5 m. Trong suốt quá trình nuôi ,
sục khí liên tục cả ngày lẫn đêm. Mật độ cá trong bể kính 15 con cá / 120 lit nước.
Thức ăn cho cá là trứng nước ( Moina) trong tuần lễ đầu, từ tuần thứ hai trở đi, cá
ăn trùng chỉ (Tubifex), thức ăn viên. (Moina, trùng chỉ được ngâm trong nước
máy ít nhất 1 giờ dưới vòi nước chảy nhẹ, trước khi cho cá ăn). Nguồn nước nuôi
cá là nước máy, trữ trong bể gạch men. Nước chứa trong bể ít nhất 24 giờ để lọai
hết Chlor,trước khi cho vào bể kính. Bể nuôi cá hút cặn, thay nước 1lần/ ngày,
31
mỗi lần thay 30 - 80% lượng nước trong bể. Thời gian ương từ cá bột lên cá giống
7
cfu/ml
10
5
cfu/ml
10
3
cfu/ml
Liều lượng tiêm 0,1ml 0,1ml 0,1ml 0,1ml
Bể thí nghiệm số 1 2 5 8
// 3 6 9
// 4 7 10 32
Thí nghiệm được thực hiện 2 đợt của 2 chủng vi khuẩn khác nhau.
- Thu mẫu phân lập vi khuẩn tại phòng thí nghiệm: cá mới vừa chết do gây
nhiễm, phân lập vi khuẩn xác đònh tác nhân gây bệnh.
II. 7 Phương pháp tổng hợp xử lý số liệu
Các số liệu thu được trong quá trình nghiên cứu được xử lý phân tích theo
phương pháp thống kê toán học thông dụng.
33
CHƯƠNG III
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
III.1 Tình hình xuất hiện bệnh xuất huyết trong thời gian nghiên cứu
III.1.1 Các yếu tố khí hậu, thủy văn chính và họat động của làng bè đến chất
lượng nước của vùng nuôi
phía hạ lưu. Tất cả các yếu tố thủy văn trên đã góp phần rất lớn ảnh hưởng đến
chất lượng nước của vùng nuôi thông qua các biến đổi về tốc độ dòng chảy, mực
nước và chất lượng nước qua các mùa khác nhau.
III.1.1.2 Các chỉ số đánh giá mức độ nhiễm bẩn
Vào mùa khô BOD
5
trung bình 1,64 mgO
2
/l (Phan Thò Yến Nhi 1998), trò số nầy
tại các điểm khảo sát không chênh lệch nhau nhiều và nằm trong giới hạn “nhỏ
hơn “ 5 mgO
2
/l. Qua khảo sát các chỉ tiêu nầy, cho thấy các trò số khảo sát liên quan
đến môi trường nuôi cá bè tại sông Hậu đều nằm trong giới hạn cho cá phát triển
theo tiêu chuẩn nước để bảo vệ thủy sản (Lê Trình 1997).
COD trung bình 17,11mgO
2
/l, trò số thấp nhất 12,18mgO
2
/l, ở đầu nguồn, cao
nhất 26,66 mgO
2
/l (Phan Thò Yến Nhi 1988) ở phía sau làng bè. Các chỉ tiêu nầy
đều thấp trong giới hạn cho phép nước sử dụng nuôi nuôi trồng thủy sản “lớn hơn “
35mg/l theo TCVN.5942 -1995 (Lê Trình 1997).
Về chỉ tiêu vi sinh: Coliform, hiện diện với mật độ cao, trung bình 123.10
2
MPN/100ml vượt 2 lần giới hạn tiêu chuẩn cho phép TCVN 5942 -1995 (Lê Trình
1997).
Qua các chỉ tiêu khảo sát trên cho thấy nước có hiện tượng nhiễm hữu cơ, cụ thể
là chỉ tiêu COD trước và sau khi chảy qua làng bè Mùa mưa, chất lượng nước tốt
hơn mùa khô, bởi lượng hữu cơ trong nước không lớn và biến động không nhiều.
Điều cần chú ý là chỉ số Coliform trong nước khá cao ở cả hai mùa và hiện diện
cao nhất vào mùa mưa.
III.1.2 Tình hình xuất hiện bệnh xuất huyết trên cá ba sa ở An giang trong
thời gian nghiên cứu
Vào tháng 2 -3 năm 1997, bệnh xuất huyết bộc phát cao điểm trên cá ba sa nuôi
bè. Gần 100% bè cá thu họach bò nhiễm, với mức độ khác nhau. Điều chưa từng
xảy ra là tỉ lệ cá dạt trong quá trình chế biến lên đến 30%, gây tổn thất nặng nề
cho ngư dân. Tình trạng cá bệnh vẫn kéo dài, rãi rác nhiều nơi, tuy mức độ xảy
ra có đôi phần lắng dòu sau vài tháng.
Đề tài bắt đầu thực hiện vào ngày 13 tháng 6 năm 1997. Thời tiết đầu mùa
mưa. Tiến hành thu mẫu cá ba sa bệnh nuôi bè, nằm tại sông Tiền - Tân Châu. Bè
có sản lượng 140 tấn. Trong thời điểm nầy cá bò nhiễm bệnh xuất huyết chết
khoảng 50 - 60 kg/ ngày.
Đầu tháng 7/1997, tại xã Long Sơn - Phú Tân, hai bè cá ba sa nằm trên sông
Tiền cách nhau 5 km, cá bò nhiễm bệnh xuất huyết, ngư dân điều trò tích cực
bằng thuốc kháng sinh, tình trạng cá lúc thu mẫu vừa giảm tử vong.
Đầu tháng 8/1997, thu mẫu cá bệnh tại xí nghiệp Đông lạnh số 7. Cá thu mẫu
có nguồn gốc từ bè đóng trên sông Hậu - Châu đốc. Theo các nhân viên Kiểm
36
sóat chất lượng sản phẩm (KCS), từ đầu tháng 6/1997, cá nguyên liệu khi fillet,
ngày nào cũng thấy xuất hiện cá bệnh xuất huyết - có những đốm đỏ trong thòt
– với tỷ lệ khỏang 3-5%/ ngày.
Từ tháng 9 - 12/1997, theo báo cáo của cán bộ cơ sở về tình hình cá bệnh xuất
huyết vẫn xảy ra rãi rác ở cả hai khu vực sông Tiền và sông Hậu. Ngày 13 và 21/ 1
năm 1998, thời tiết giữa mùa nắng - tiến hành thu mẫu cá bệnh tại xí nghiệp Đông
lạnh số 7. Cá thu mẫu có nguồn gốc bè ở sông Tiền (xã Long sơn - Phú tân) và
tím bầm. Xuất huyết vi lưng, vi ngực, vi bụng, vi hậu môn, vi đuôi. Vi ngực tưa
rách. Hậu môn lồi đỏ. Giải phẩu bên trong thấy gan vàng nhạt hay đỏ bầm, hoặc
đỏ bầm ở rìa mép, gan sưng có đốm trắng, hay đỏ. Lách đen, thận sưng, bóng khí
đầy hơi, mạch máu trương to, ruột chứa ít thức ăn.
Hình 2 - Dấu hiệu bệnh lý của cá ba sa giống (bên ngoài)
38