Bảng 19. Các phản ứng sinh hóa và đường đònh danh vi khuẩn
Các phản ứng sinh hóa và đường
A
eromonas caviae
OF/O, OF/F +/+
Indol +
ONPG +
MR-VP +/-
Gelatine +
H
2
S -
Simmon citrate d
Lysine
-
Arginine +
Ornithine -
KCN +
Nitrate +
Oxydase, Catalase +
Urea, Phenylalanine +
Glucose,gas -
Arabinose +
Manitol +
Maltose +
Sucrose +
* Ghi chú: d= ±
+ Kết quả kháng sinh đồ
Kháng sinh đồ của vi khuẩn Aeromonas caviae theo bảng sau
Bảng 20. Kháng sinh đồ của vi khuẩn Aeromonas caviae
Số TT Kháng sinh
Cá khỏe 6/15 40
+ Cácphản ứng sinh hóa và đường đònh danh vi khuẩn
Các phản ứng sinh hóa và đường được thể hiện qua
Bảng 22. Các phản ứng sinh hóa và đường đònh danh vi khuẩn
Các phản ứng sinh hóa và đường
Pseudomonas sp
OF/O +
OF/F -
Motility +
Oxydase +
Catalase +
Glucose gas -
Urea -
Phenylalanine -
Indol -
53
+ Kết quả kháng sinh đồ
Kháng sinh đồ của vi khuẩn Pseudomonas sp theo bảng sau
Bảng 23. Kháng sinh đồ của vi khuẩn Pseudomonas sp
Số TT Kháng sinh
Pseudomonas sp
1 Furazolidone S: kháng sinh nhạy cảm
2 Neomycine S: //
3 Gentamycine S: //
4 Penicilline R: kháng sinh đề kháng
5 Ampicilline S: //
6 Tetramycine S: //
7 Streptomycine S: //
8 Chloramphenicole S: //
thu mẫu
Tổng
số mẫu
Aeromonas sp A.
hydrophila
A. cavia A. sobria Pseudomonas sp
Sông Tiền 96 65 (67,7%) 0 22
(22,9%)
9 (9,4%) 30 (31,25%)
Sông Hậu 63 43 (68,2%) 36(57,1%) 18
(28,6%)
4(6,3%) 0
Cộng 159 108 (67,9%) 36(22,6%) 40
(25,1%)
13(8,2%) 30 (18,9%)
Bảng 25. Kết quả phân lập đònh tính vi khuẩn từ gan, thận và lách cá basa thu mẫu mùa
khô năm 1997
Số mẫu phân lập được vi khuẩn
Khu vực thu
mẫu
Tổng số
mẫu
Aeromonas sp. A. hydrophila A.sobria Pseudomonas sp
Sông Tiền 30 6 (20%) 21(70%) 15 (50%) 9 (30%)
Sông Hậu 36 12 (33,33%) 18 (50%) 9 (25%) 0
Cộng 66 18 (27,3%) 39 (59,1%) 24 (36,4%) 9 (13,6%) 55
Đặc biệt, đã phân lập được vi khuẩn từ gan, thận, lách của 5 mẫu cá chưa thấy
4
CFU/g) Số lượng vi khuẩn (10
4
CFU/g)
Điểm thu
mẫu cá
bệnh
Số lượng
mẫu
Min Max Trung bình
Số lượng
mẫu
Min Max Trung bình
Sông Tiền 6 2,0 109 35,83 10 0,2 16,7 5,31
Sông Hậu 19 0,1 218 13,35 12 0,17 3,75 0,87
Cá “khỏe” - - - - 5 0,1 0,29 0,22
Theo kết quả phân tích thống kê, tổng số vi khuẩn cảm nhiễm trên gan cá ba
sa giữa sông Tiền :16,75.10
4
CFU/g và sông Hậu: 7,37.10
4
CFU/g không sai khác
có ý nghóa thống kê (P > 0,05). Số lượng vi khuẩn cảm nhiễm trên gan cá giữa
mùa mưa: 468,75. 10
4
CFU/g và mùa khô: 64,67 .10
4
CFU/g sự sai khác không có
56
7 Streptomycine R R S R R
8 Chloramphenicol R R S R R
9 Sulfamethoxazole N R S R N
57
* Ghi chú: R: kháng thuốc; S: nhạy cảm ; N: ít nhạy cảm
Phan Văn Ninh và cộng sự (1993) đã nghiên cứu tính nhạy cảm thuốc của vi
khuẩn Aeromonas sp. phân lập từ cá he nuôi trong bè tại An giang bò bệnh tuột vảy
và xuất huyết. Kết quả nghiên cứu cho thấy vi khuẩn gây bệnh nhạy cảm với
chloramphenicol, furazolidon; ít nhạy cảm với streptomycine, chlotetracyline; đề
kháng ampicilline và penicilline. Từ kết quả nghiên cứu này, các tác giả đề xuất
việc sử dụng kháng sinh trong việc trò bệnh cho cá nuôi. Kết quả nghiên cứu này
cũng được người nuôi cá bè tại An giang vận dụng phòng và trò bệnh xuất huyết
cho cá basa, tuy nhiên hiệu quả chữa trò thấp. Kết quả thử nghiệm tính nhạy cảm
thuốc của các chủng vi khuẩn phân lập đã trình bày trên đây góp phần giải thích
tính hiệu quả thấp của công tác chữa trò bệnh cho cá basa tại An Giang trong những
năm gần đây. Đề tài nghiên cứu này chưa tiến hành so sánh các chủng Aeromonas
sp. đã phân lập được với các chủng do Phan Văn Ninh và cộng sự đã công bố do các
chủng vi khuẩn này không được lưu giữ. Tuy nhiên, có nhiều khả năng rằng, do
việc sử dụng phổ biến các loại thuốc kháng khuẩn trong nghề nuôi cá, đã hình
thành nhiều chủng vi khuẩn kháng thuốc trong môi trường nước tại các điểm nuôi
cá ở An Giang. Tình hình này đòi hỏi cần có các nghiên cứu sâu hơn về khu hệ vi
sinh vật nước tại An Giang, và nghiên cứu các biện pháp phòng trò bệnh hữu hiệu,
hạn chế việc sử dụng thuốc thiếu chọn lọc nhằm đảm bảo sự phát triển nghề nuôi
trồng thủy sản bền vững tại đòa phương.
III.4 Kết quả thực nghiệm gây nhiễm trở lại
III.4.1 Các chủng vi khuẩn sử dụng cho thí nghiệm
Qua quá trình phân lập, nuôi cấy, đònh danh vi khuẩn, đã lưu giống 5 loại vi
khuẩn: Pseudomonas sp (chủng STB116971), A. caviae (SHB4108972), A. sobria
(STB511983), A. hydrophila (SHB681984), và Aeromonas sp (SHB6111985). Từ
59
Hình 6. Bể bố trí thí nghiệm gây nhiễm trở lại trên cá ba sa
Kết quả theo dõi cá thí nghiệm: Thí nghiệm tiến hành từ ngày 8 tháng 5 năm
1998. Sau khi tiêm xong, cá vẫn bơi lội và bắt mồi bình thường. Sau 28 giờ, một số
cá có triệu chứng khác thường: trương bụng, bơi lội quay tròn không đònh hướng,
một số ngữa bụng, hô hấp mạnh, treo mình thẳng đứng trong nước. Biểu hiện bên
ngòai: xuất huyết vi bụng, vi hậu môn, vi đuôi, hậu môn lồi đỏ. Khoảng 2 - 3 giờ
sau khi quan sát thấy các biểu hiện trên, một số cá chết. Giải phẩu các cá thể này
để quan sát nội tạng, nhận thấy mạch máu trương to, gan sưng và có màu đen, mật
sưng, ruột trương phồng chứa đầy hơi, thành bụng xuất huyết. Cá chết nhiều trong
vòng 31 - 46 giờ sau khi tiêm canh khuẩn, sau đó chết rãi rác trong 7 ngày đầu. Từ
ngày thứ 8 không thấy cá bò chết. Tỷ lệ sống của các nhóm cá thí nghiệm được
trình bày tại biểu đồ 5.
Biểu đồ 5: Tỷ lệ sống của các nhóm cá trong thí nghiệm
gây nhiễm bởi vi khuẩn A. hydrophila SHB681984
0
20
40
60
80
100
0 24 48 72 96 120 144 168 192 216 240
Thời gian thí nghiệm (giờ)
Tỷ lệ sống (%)
10 cfu/ml
10 cfu/ml
và 10
5
cho thấy A. hydrophila SHB681984 là tác nhân gây bệnh không bắt buộc
(opportunistic pathogen) đối với cá ba sa trong điều kiện tiến hành thí nghiệm.
III.4.3 Tính chất gây bệnh của A. sobria STB511983
+ Cá thí nghiệm: Cá thí nghiệm có chiều dài trung bình 10,9cm (10,0
-12,7cm), khối lượng trung bình: 9,3 g (8 -11 g). Sau khi tiêm dung dòch muối sinh
lý (nhóm cá đối chứng) hoặc canh khuẩn, cá được nuôi trong bể kính theo từng
nhóm, mỗi bể 10 con tương tự như trình bày phần trên. Nhiệt đôï không khí trung
bình trong thời gian thí nghiệm 33 - 36
o
C.
61
+ Kết quả theo dõi cá thí nghiệm: Thí nghiệm tiến hành từ ngày 23 tháng 7
năm 1998. Sau khi tiêm xong, cá vẫn bơi lội và bắt mồi bình thường. Trong suốt
15 ngày sau khi gây nhiễm, không phát hiện được dấu hiệu bệnh lý khác lạ xảy ra.
Tỷ lệ sống 15 ngày của các nhóm cá được gây nhiễm thực nghiệm với A. sobria
STB511983 liều lượng 0,1 ml dung dòch chứa 10
7
, 10
5
, 10
3
cfu/ml và nhóm đối
chứng là 100%.
+ Kết quả phân lập vi khuẩn từ cá thí nghiệm:
Sau ngày thứ 15, chọn 3 con cá đã được gây nhiễm với nồng độ 10
7
cfu/ml,
Khoa Học Công Nghệ & Môi Trường, công ty Xuất nhập khẩu Thủy sản An giang
(Agifishco).
* Phỏng vấn trực tiếp các cán bộ kỹ thuật Thủy sản và cán bộ quản lý tại
đòa phương có nuôi cá ba sa về tình hình nuôi cá bè và hiện tượng bệnh bộc phát.
* Phỏng vấn ngư dân nuôi cá ba sa bè về kỹ thuật nuôi cá, sự xuất hiện
bệnh, triệu chứng và mùa vụ.
* Các số liệu thu thập từ kết quả xử lý, phân tích mẫu cá ba sa bệnh về
vi khuẩn học, thực nghiệm cảm nhiễm vi khuẩn trở lại cá khỏe, thực hiện tại
phòng thí nghiệm Sinh học - Thực nghiệm viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản
II - Thành phố Hồ Chí Minh.
II.2 Đòa điểm và thời vụ thu mẫu
+ Đòa điểm thu mẫu
Sông Tiền: Mẫu cá ba sa bệnh, thu tại các bè nuôi cá ấp Long châu, xã
Long an, huyện Tân châu, ấp Long thạnh, Long hòa, xã Long sơn, huyện Phú tân,
xí nghiệp Đông lạnh Thủy sản số 7 thuộc Agifish.
26