Đề tài " Phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái " - Pdf 19

Đề tài
" Phát triển kinh tế với bảo
vệ môi trường sinh thái "
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại ngày nay, khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên
thiên nhiên và bảo vệ môi trường sống là những vấn đề quan trọng nằm trong
chiến lược phát triển bền vững của toàn nhân loại, cũng như của tất cả các quốc
gia, dân tộc. Vấn đề này trở nên cấp thiết khi mà các nguồn tài nguyên thiên
nhiên trên toàn thế giới đang dần bị cạn kiệt, còn môi trường sống bị ô nhiễm
nặng nề. Nhiều nơi trên thế giới đã và đang xảy ra các cuộc khủng hoảng sinh
thái cục bộ, dẫn đến nguy cơ của một cuộc khủng hoảng sinh thái toàn cầu đe
dọa sự sống của cả hành tinh. Thực trạng này đã ảnh hưởng rất tiêu cực và
nguy hiểm đến mọi mặt của đời sống xã hội. Do đó, phát triển kinh tế với khai
thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường đã trở
thành mối quan tâm sâu sắc của cộng đồng quốc tế.
Việc khai thác, sử dụng tài nguyên và môi trường ở Việt Nam cũng
không nằm ngoài thực trạng chung của thế giới, có chăng chỉ là tính cực kì
phức tạp, đa dạng và nan giải . Bởi lẽ, trong lòng xã hội Việt Nam hiện nay
đồng thời tồn tại đan xen các dạng thức phức tạp của các nền văn minh nhân
loại đã và đang trải qua: xã hội hoang sơ tiền văn minh, văn minh nông nghiệp,
văn minh công nghiệp và cả những yếu tố của văn minh hậu công nghiệp hay
văn minh trí tuệ. Vì vậy, vấn đề tài nguyên và môi trường ở đây mang đầy đủ
những tính chất, đặc trưng phức tạp của các nền văn minh đó.
Từ thực tiễn nghiên cứu và giải quyết các vấn đề sinh thái, sinh thái nhân
văn của thế giới và trong điều kiện cụ thể của Việt Nam đã nảy sinh nhu cầu
cấp thiết phải có một cơ sở lý luận – phương pháp luận chung làm nền tảng cho
việc xem xét mối quan hệ giữa con người, xã hội với tự nhiên cũng như mối
quan hệ giữa ba mục tiêu cơ bản: kinh tế, xã hội nhân văn và sinh thái môi
trường. Điều đó có nghĩa là cần thiết phải nghiên cứu môi trường sống ở tầm
nhìn triết học – xã hội. Bởi vì, chỉ có ở tầm nhìn này mới có thể cho chúng ta

giới không đơn giản mà cực kỳ phức tạp, được cấu thành từ vô vàn yếu tố,
trong đó, suy đến cùng có ba yếu tố cơ bản: giới tự nhiên, con người và xã hội
loài người. Ba yếu tố đó thống nhất với nhau trong một hệ thống “tự nhiên -
con người - xã hội”. Sở dĩ chúng có thể thống nhất với nhau trong một hệ
thống vì ba yếu tố đó đều là những dạng thức, những đặc tính và những quan
hệ khác nhau của vật chất đang vận động. Thế giới vật chất luôn vận động
biến đổi, nhưng đồng thời cũng luôn ổn định vì vận động của thế giới là sự
vận động có quy luật và tuân theo quy luật. Sự hoạt động của các quy luật đó
là tất yếu và khách quan, nhờ vậy đã nối liền các yếu tố của thế giới thành
một chỉnh thể thống nhất, vĩnh viễn vận động, biến đổi và phát triển không
ngừng trong không gian và theo thời gian.
• Về yếu tố tự nhiên
Tự nhiên, theo nghĩa rộng là toàn bộ thế giới vật chất tồn tại khách quan.
Theo nghĩa này thì con người và xã hội loài người đều là những bộ phận, hơn
nữa là những bộ phận không thể tách rời và đăc thù của tự nhiên.
Giới tự nhiên mà chúng ta xem xét trong hệ thống “tự nhiên – con
người – xã hội” là những gì có liên quan trực tiếp đến sự sống của con người,
sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người – đó chính là sinh quyển.
Sinh quyển là một hệ thống vật chất sống, có cấu trúc vô cùng phức tạp, được
tạo nên từ ba bộ phận cơ bản:
- Tập hợp toàn bộ các cơ thể sống từ đơn bào đến đa bào, từ đơn giản
nhất đến phức tạp nhất, đến con người và xã hội loài người.
- Các chất tạo nên sự sống và cần cho sự sống
- Các sản phẩm hoạt động sống của tất cả các cơ thể, các chất thải qua
quá trình trao đổi chất và xác chết của chúng.
Như vậy, sinh quyển là sự thống nhất hữu cơ giữa sinh thể và các thành
phần vô cơ, và hữu cơ tham gia vào quá trình sống. Sinh quyển đã trải qua
một quá trình tiến hoá hữu cơ lâu dài và phức tạp để hình thành nên các bộ
phận của nó và hoàn thiện chu trình trao đổi chất – chu trình sinh học đã có
ngay từ khi mới xuất hiện nhưng cơ thể đơn bào đến khi xuất hiện con người.

mối quan hệ con người (xã hội) và tự nhiên vào trình độ phát triển của xã hội
trong quá trình lịch sử tự nhiên
- Sự thống nhất và quy định lẫn nhau giữa lịch sử xã hội và lịch sử tự nhiên.
Lịch sử xã hội là sự tiếp tục và phát triển song hành cùng với lịch sử của tự
nhiên. Sự xuât hiện của con người và xã hội loài người là kết quả của sự tiến
hoá của giới tự nhiên. Từ khi xuất hiện con người và xã hội loài người, lịch sử
phát triển của tự nhiên không chỉ phụ thuộc vào sự tác động lẫn nhau giữa các
yếu tố tự nhiên thuần tuý mà còn chịu sự chi phối ngày càng mạnh mẽ và sâu
sắc của các yếu tố xã hội. Ngược lại, sự phát triển của lịch sử xã hội không
thể tách rời khỏi các yếu tố tự nhiên, bởi vì, chỉ có mối quan hệ chặt chẽ với
tự nhiên và với nhau, con người mới làm nên lịch sử của mình.
- Sự diễn biến của mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong tiến
trình lịch sử.
1.3. Nguyên lý thứ ba: nguyên lý về vai trò chủ thể tích cực của con người
trong việc điều khiển một cách tự giác mối quan hệ giữ con người và tự
nhiên.
Cơ sở phương pháp luận chung nhất cho vấn đề này là con người cần
phải nhạn thức cho đúng vị trí, vai trò của mình trong hệ thống xã hội - tự
nhiên và phải biết điều khiển một cách tự giác mối quan hệ đó. Để điều khiển
được mối quan hệ đó, trước hết con người, với tư cách là chủ thể - nhân tố có
ý thức duy nhất - cần phải nhận thức cho được những quy luật tồn tại và phát
triển của giới tự nhiên, và tiép theo là phải biết vận dụng một cách đúng đắn,
chính xác những quy luật đó vào qúa trình hoạt động thực tiễn cuax hội, mà
qun trọng nhất là vào lĩnh vực sản xuất.
1.4. Nguyên lý thứ tư - Nguyên lý về sự phát triển bền vững.
Phát triển bền vững là sự phát triển kinh tế - xã hội lành mạnh, dựa vào
việc khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên và các điều
kiện môi trường hiện có, để thoả mãn các nhu cầu sống của thế hệ con người
hiện tại,nhưng không làm ảnh hưởng bất lợi cho các thế hệ người tiếp theo
trong việc thoả mãn các nhu cầu về tài nguyên và môi trường, để họ có thể

nghiệp. ”
Nền tảng của phát trin kinh tế - xã hội là phương thức sản xuất. Đối với
xã hội, phương thức sản xuất là cách thức con người tiến hành sản xuất và tái
sản xuất ra của cải vật chất, được thực hiện trên cơ sở tác động lên giới tự
nhiên bằng quá trình lao động sản xuất. Với quá trình lao động sản xuất, con
người đã lấy từ môi trường tự nhiên nguồn vật chất, năng lượng, thông tin rồi
biến đổi chúng thành những gía trị sử dụng,phục vụ nhu cầu của con người.
Đối với tự nhiên, nền sản xuất xã hội là phương thức trao đổi chất đặc thù
giữa xã hội với tự nhiên. Nhờ phương thức trao đổi chất này mà con người và
xã hội loài người luôn được bảo tồn, vận động và phát triển cùng với giới tự
nhiên. Như vậy, nhìn từ góc độ xã hội cũng như từ góc độ tự nhiên, phương
thức sản xuất xã hội luôn gắn liền với môi trương tự nhiên. Vì rằng, từ công
cụ sản xuất, đối tượng lao động đến con người, đều là của tự nhiên và lấy từ
tự nhiên. Do đó, sự phát triển kinh tế - xã hội dù ở giai đoạn nào cũng không
thể tách rời khỏi môi trường tự nhiên.
1.2. Sự khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và môi
trường sống.
Môi trường sống hiểu theo nghĩa khái quát nhất là tất cả những gì bao
quanh con người và xã hội loài người. Nó không chỉ là giới tự nhiên thuần
tuý, cũng không phải là xã hội với cái nghĩa là sản phẩm củấmự tác động lẫn
nhau giữa người với người, mà là một tổng thể phức hợp của các yếu tố vật
chất tự nhiên và vật chất nhân tạo cần thiết, có liên quan chặt chẽ đến sự tồn
tại và phát triển của con người và xã hội loài người.
Nếu xem xét môi trường tự nhiên trong mối quan hệ mật thiết với
hoạt động sống của con người và sự tồn tại, phát triển của xã hội loài người
thì nó có các chức năng cơ bản sau:
- Môi trường tự nhiên là không gian sinh sống và là không gian tổ chức
các hoạt động của cộng đồng dân cư. Môi trường cung cấp những điều kiện
sống cơ bản như nước, ánh sáng, không khí, động thực vật…để thoả mãn
những nhu cầu sinh lý, sinh thái cần thiết cho con người với tư cách là một

bắt đầu có hiệu quả và do đó cũng có thể coi là bước chinh phục thiên nhiên
đâù tiên của con người, mở đầu cho một giai đoạn tiến hoá của con người
hiện đại - tiến hoá văn hoá – xã hội, chỉ đặc trưng cho xã hội loài người. Bằng
các cuộc cách mạng trong lực lượng sản xuất va cách mạng xã hội, con người
ngày càng làm chủ được thiên nhiên, làm chủ xã hội, làm chủ bản than mình
hơn và nhờ vậy, con người ngày càng tự do hơn, theo cái nghĩa là nhận thức
và vận dụng đúng đắn quy luật của tự nhiên và xã hội vào cuộc sống của mình
cũng như trong sự phát triển của xã hội. Về điều này, Angghen đã viết trong “
Lời nói đầu” của “Phép biện chứng của tự nhiên”: “Sự chuyên môn hoá của
bàn tay có nghĩa là công cụ đã xuất hiện và công cụ có nghĩa sự hoạt động
riêng của con người đối với giới tự nhiên, tức là sản xuất…cả các động vật
cũng sản xuất, nhưng tác động sản xuất của chúng vào giới tự nhiên chung
quanh hầu như là con số không đối với giới tự nhiên. Chỉ có con người là mới
đạt được đến chỗ in dấu ấn của mình lên giới tự nhiên, không chỉ bằng cách di
chuyển các loài thực vật và động vật từ chỗ này sang chỗ khác, mà còn làm
biến đổi cả diện mạo, khí hậu của nơi họ ở, thậm chí còn làm biến đổi cả cây
cỏ và các thực vật tới một mức độ mà kết quả hoạt động của họ chỉ có thể
biến mẩt, khi nào toàn bộ trái đất tiêu vong. Và con người đã đạt được kết quả
đó trước hết và chủ yếu là nhờ ở bàn tay. Ngay cả máy hơi nước, cho tới ngày
nay vẫn là cái công cụ mạnh mẽ nhất của con người dùng để cải tạo tự nhiên,
xét cho cùng cũng dựa vào bàn tay, bởi vì, nó là một công cụ. Nhưng cùng
với sự phát triển của bàn tay thì từng bước một, đầu óc cũng phát triển, ý thức
xuất hiện, trước hết là về những điều kiện của các kết quả có ích thực tiễn và
về sau, trên cơ sở đó, ở những dân tộc có những điều kiện thuận lợi hơn, là về
những qui luật tự nhiên chi phối các kết quả có ích dó. Và, cùng với sự hiểu
biết ngày càng tăng một cách nhanh chóng về các qui luật tự nhiên , thì những
phương tiện dung để tác động trở lai vào giới tự nhiên cũng ngày càng tăng;
chỉ có bàn tay không thôi thì người ta chắc không bao giờ chế ra được máy
hơi nước, nếu bộ óc con người không phát triển một cách tương ứng cùng với
bàn tay, song song với bàn tay và một phần nhờ có bàn tay”.

biểu hiện ở sự phát triển kinh tế - xã hội với môi trường tự nhiên đang bị con
người khai thác và sử dụng và với tri thức vẫn còn có hạn của con người về tự
nhiên. Mâu thuẫn giữa ba nhân tố: sự phát triển của kinh tế - xã hội, trí tuệ
của con người và môi trường tự nhiên lần này đã đạt ở mức độ cao hơn,mới
hơn hẳn về chất so với các giai đoạn trước đó. Mâu thuãn này đã được con
người giải quyết trong qúa trình làm nên lịch sử của mình – quá trình lịch sử
tự nhiên.
Thực chất của quá trình nảy sinh mâu thuẫn, làm căng thẳng và giải
quyết mâu thuẫn giữa lực luợng sản xuất đang phát triển với sự khai thác, sử
dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường và với trí tụê của con
người là cơ sở cần thiết đối với sự phát triển của nhân loại. Nhân loại đã luôn
đụng chạm với những mâu thuẫn như vậy và đều đã giải quyết thành công các
mâu thuẫn đó để vươn lên một trình độ mới, cao hơn. Tuy nhiên, việc giải
quyết các mâu thuẫn đó càng ngày càng khó khăn, phức tạp hơn. Và ngày
nay, khi công nghệ sản xuất đang ở đỉnh cao của sự phát triển – đó là công
nghệ trí tụê, nhưng đồng thời với nó, môi trường tự nhiên đã bị suy kiệt một
cách nghiêm trọng. Tất cả những điều kiện đó đang đặt nhân loại trước những
thách thức vô cùng to lớn, và những nhiệm vụ cực kì nan giải trong quan hệ
giữa con người với tự nhiên.
2. Việc giải quyết các mâu thuẫn giữa sự phát triển kinh tế - xã hội,
phát triển con người và khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và
môi trường sống trong quá trình lịch sử tự nhiên.
Sự vận động và biến đổi của các mối quan hệ này được thể hiện cụ thể
dưới dạng các mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất đang phát triển, sự khai thác
tài nguyên thiên nhiên và môi trường với sự phát triển trí tuệ của con người
không ngừng xuất hiện và không ngừng được giải quyết trong suốt tiến trình
lịch sử.
- Trong hình thái kinh tế - xã hội cộng sản nguyên thuỷ và trước đó, khi con
người vừa mới tách mình ra khỏi thế giới động vật, với sự phát triển ưu trội
của bộ óc và đôi tay, con ngươi đã tìm cách thoả mãn nhu cầu sống của mình,

cấp, tự túc và một thị trường tự do sơ khai đã được hình thành. Điều đó càng
kích thích con người tăng cường hơn việc khai thác các nguồn tài nguyên
thiên nhiên và môi trường, một mặt, để thỏa mãn các nhu cầu ngày càng tăng
của mình, và mặt khác, để buôn bán, trao đổi, mở rộng thị trường. Do đó,
dưới nền văn minh nông nghiệp hay trong hình thái kinh tế - xã hội chiếm
hữu nô lệ và phong kiến, trong mối quan hệ giữa những hoạt động của con
người để đạt mục tiêu sinh thái đã bắt đầu nảy sinh những mâu thuẫn đáng kể.
Con người từ chỗ sống hòa mình vào với tự nhiên, phụ thuộc mù quáng
vào giới tự nhiên trong xã hội cộng sản nguyên thủy, đã chuyển sang đối lập
với tự nhiên, bắt đầu coi tự nhiên là đối tượng để khai thác và bóc lột nhằm
đáp ứng các nhu cầu kinh tế - xã hội ngày càng cao của mình. Và, một khi của
cải vật chất làm ra đã tăng lên, không chỉ đủ đáp ứng nhu cầu sống của con
người mà còn dùng để tích trữ và trao đổi thì trong quan hệ giữa con người
với con người cũng có những thay đổi, từ sở hữu cộng đồng về tư liệu sản
xuất, đồng thời cũng xuất hiện sự đối kháng giai cấp. Mâu thuẫn giữa con
người với con người và giữa con người với tự nhiên cùng với sự phát triển
của xã hội, càng ngày càng trở nên gay gắt.
2.2. Việc tìm kiếm các cách thức để thỏa mãn các nhu cầu kinh
tế - xã hội ngày càng cao và càng đa dạng của xã hội đã là động lực mạnh mẽ
thúc đẩy việc giải quyết mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất đang phát triển và
ý thức của con người. Khoa học, kỹ thuật, công nghệ lại phát triển. Sự ra đời
của động cơ máy hơi nước do Jame Watts phát minh đã đánh dấu bước ngoặt
cách mạng trong lực lượng sản xuất xã hội, chuyển xã hội từ nền văn minh
nông nghiệp sang nền văn minh công nghiệp và đó cũng là giai đoạn hình
thành và phát triển của hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa. Mâu thuẫn
giữa sự phát triển kinh tế - xã hội với môi trường tự nhiên trong xã hội tư bản
chủ nghĩa đã bị đẩy lên chưa từng có. Với công nghệ cơ khí máy móc và máy
móc tự động hóa , nền sản xuất xã hội đã khai thác một nguồn tai nguyên
thiên nhiên khổng lồ để phát triển kinh - tế xã hội. Nạn cạn kiệt các nguồn tài
nguyên thiên nhiên gắn liền với nạn ô nhiễm môi trường sống. Hậu quả là dẫn

• Về nhận thức:
- Bước đầu chúng ta đã xác định và thực hiện quan điểm mới về sự phát
triển, trong đó, phát triển kinh tế gắn liền với bảo vệ tài nguyên, môi trường.
Trong điều kiện hiện nay, mối quan hệ giữa tự nhiên xã hội và con người đã
có những thay đổi căn bản. Thay vì coi tự nhiên là nguồn của cải vô tận và chỉ
biết khai thác từ đó những gì có lơi cho mình như trước đây, con người ngày
nay đã nhận ra rằng, bên cạnh việc chinh phục tự nhiên, còn phải bảo vệ và
phục hồi môi trường thiên nhiên. Sau hội nghị thượng đỉnh họp tại Rio de
janneiro, Braxin, ngày 3.6.1992, vấn đề bảo vệ môi trường và phát triển bền
vững đã trở thành đặc trưng cơ bản của thời đại, là mục tiêu hàng đầu trong
chiến lược phát triển của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Nhận thức của các cộng đồng dân cư về ý nghĩa của tài nguyên môi
trường, của công tác quản lý và bảo vệ tài nguyên môi trường với sự tồn tại,
phát triển của xã hội và bản thân mỗi cá nhân trong hiện tại, tương lai cũng
đang ngày càng rõ nét. Sự mở rộng các hoạt động thông tin tuyên truyền qua
các hình thức, phương tiện thông tin đại chúng đã tạo điều kiện cho người dân
tiếp cận với những vấn đề liên quan đến tài nguyên, môi trường. Qua đó, góp
phần từng bước nâng cao nhận thức của họ về vấn đề này. Trên cơ sở những
nhận thức ban đầu về các vấn đề môi trường, nhân dân đã có một số hành
động cụ thể, thiết thực trong việc bảo vệ môi trường sống như sử dụng hợp lý,
tiết kiệm tài nguyên, không thải các chất độc hại trực tiếp ra môi trường,
không vứt rác bừa bãi…
• Nhà nước bắt đầu xây dựng và thực hiện thể chế, luật pháp và các chính
sách về tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Nhằm cụ thể hóa những quy
định chung về bảo vệ tài nguyên, môi trường đã được khẳng ddingj trong hiến
pháp, nhà nước đã ban hành “luật bảo vệ môi trường ” năm 1993. Đây là cơ
sở pháp lý quan trọng để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, tăng cường
trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân đối với việc bảo vệ môi trường. Bên
cạnh việc xây dựng hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường, chúng
ta cũng đã từng bước xây dựng một hệ thống tiêu chuẩn môi trường và quản

đang làm suy kiệt hành tinh của chúng ta cả về số lượng và chất lượng.
Các nguồn tài nguyên thiên nhiên bao gồm các loại khoáng sản, các
nhiên liệu khoáng, đất đai, nước, không khí, thế giới động, thực vật…chúng là
sản phẩm của các quá trình hoạt động lâu dài của thế giới vật chất. Con người
đã không ngừng đưa vào tự nhiên, khai thác từ tự nhiên tất cả các nguồn vật
chất, vừa để thỏa mãn nhu cầu sống của mình với tư cách là động vật, vừa để
xây dựng ngôi nhà cho các nguồn vật chất vốn sẵn có của tự nhiên đang bị
cạn kiệt dần về số lượng và chất lượng. Với lối khai thác và sử dụng các
nguồn tài nguyên thiên nhiên từ xưa đến nay của con người thì nền sản xuất
xã hội, phương thức trao đổi chất giữa xã hội với tự nhiên không ngừng giúp
cho nền kinh tế tự nhiên tái sản xuất với tái sản xuất mở rộng mà hơn thế nữa
còn tàn phá nó.
Ngày nay có rất nhiều số liệu khác nhau nói lên sự cạn kiệt nguồn tài
nguyên thiên nhiên và ô nhiễm môi trường sinh thái. Tất nhiên các số liệu này
xuất phát từ nhiều nguồn, nhiều cách thống kê và tổng hợp khác nhau, do đó
có thể có độ tin cậy không giống nhau song tất cả đều xác nhận một sự thật
rằng các nguồn tài nguyên đang bị con người khai thác và sử dụng quá mức,
đang cạn kiệt dần và môi trường sống đang bị ô nhiễm nhiều hơn dẫn đến
khủng hoảng sinh thái cục bộ.
Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế toàn cầu đã làm tăng nhanh
nhu cầu về các tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là tài nguyên nhiên liệu và
năng lượng. Các nguồn nhiên liệu hóa thạch trong thời gian qua đã đáp ứng
được ¾ năng lượng trên thế giới, trong đó đó dầu lửa chiếm vị trí quan trọng.
Theo dự đoán của cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế IAEA đến năm 2010
nhu cầu sử dụng dầu lửa trong lĩnh vực giao thông theo hướng công nghiệp
hóa nhu cầu dầu lửa vẫn là một nhu cầu rất lớn, và đang tiếp tục tăng.
Bên cạnh đó, các nguồn tài nguyên cải tạo được như rừng, đất, nước,
động thực vật thì tình hình có phần nghiêm trọng hơn.
Trong bài “ chiến lược rừng toàn cầu” gần đây trong tạp chí “ thông tin
môi trường” đã chỉ ra rằng: rừng khép tán và rừng thưa trên toàn thế giới chỉ

trình độ phát triển của xã hội ta hiện nay. Trong giai đoạn phát triển hiện nay
ở Việt Nam đang đồng thời tồn tại các nền văn minh trước nông nghiệp, công
nghiệp và thậm chí đã có những yếu tố của văn minh hậu công nghiệp. Xét về
hình thái kinh tế - xã hội, chúng ta đã có một kiến trúc thượng tầng và một ý
thức xã hội khá phát triển, nhưng cơ sở hạ tầng và tồn tại xã hội đang còn ở
trình độ chưa cao, điều kiện kinh tế - xã hội còn kém phát triển. Tất cả những
điều đó được phản ánh một cách rõ nét qua hiện trạng của môi trường sinh
thái, và qui định đặc điểm đó.
Việt Nam là một thành viên của ngôi nhà trái đất, vì vậy tuy có những
nét đặc thù riêng, nhưng vấn đề môi trường sinh thái ở Việt Nam có cả những
vấn đề về sự khan hiếm và cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên lẫn
những vấn đề ô nhiễm môi trường sống. Ngoài ra, sự ô nhiễm môi trường xã
hội cũng được coi là một trong những vấn đề sinh thái xã hội cấp thiết. Về
mặt biểu hiện thì tình hình môi trường sinh thái ở Việt Nam hiện nay về cơ
bản không có gì khác biệt so với tình hình môi trường sinh thái ở các nước
công nghiệp mà sự khác biệt chính là nguyên nhân đưa đến những hiện tượng
đó.
Nếu như ở các nước phát triển, hậu họa sinh thái là do sự phát triển của
kỹ thuật, công nghệ, do sự phát triển của nền văn minh công nghiệp, thì ở
Việt Nam, hậu họa sinh thái lại do sự kết hợp giữa phát triển và lạc hậu, do
ảnh hưởng của nếp nghĩ còn nặng nề, nếp làm của người sản xuất nhỏ và lối
sống công nghiệp còn chưa được hoàn thiện. Có thể nói, đây là hiện trạng
môi trường sinh thái của giai đoạn trước nền văn minh nông nghiệp và hậu
quả công nghiệp. Trong mỗi một vấn đề môi trường sinh thái đều mang tất cả
các đặc trưng này.
Nước ta có nhiều ưu thế về nguồn tai nguyên thiên nhiên và những điều
kiện địa lý tự nhiên, đặc biệt là có thế mạnh về các nguồn tài nguyên như: đất
đai, động thực vật, một số tài nguyên khoáng sản dầu mỏ, than đá, boxit…Khí
hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, mặt trời chiếu sáng quanh năm… là nguồn cung
cấp năng lượng vô tận cho sự sống của con người và mọi sinh vật. Đó là một

Nguyên nhân dẫn đến những vấn đề bức xúc trong lĩnh vực môi trường
là sự tách rời mục tiêu kinh tế và mục tiêu bảo vệ môi trường trong quá trình
phát triển xã hội. Hoạt động của con người là hoạt động có mục đích, mục
đích đầu tiên và cũng là cuối cùng của con người là mục đích về kinh tế, là
không ngừng cải thiện các điều kiện kinh tế xã hội, nâng cao mức sống của
mỗi thành viên trong xã hội cũng như của toàn xã hội. Bởi vậy, những chỉ tiêu
kinh tế như tổng số tìa nguyên thiên nhiê được đưa vao khai thác và sử dụng,
GDP, GDP/người…được coi là những tiêu chí quan trọng nhất đánh giá sự
giàu, nghèo, phát triển của một quốc gia, dân tộc. Cách đây khoảng hai ba
chục năm, con người vẫn rất tự hào về sự chinh phục tự nhiên của mình.
Không ai ngờ rằng, đằng sau những con số đó là sự mất mát không sao bù dắp
được của cả tự nhiên và xã hội, một môi trường sinh thái nghèo nàn, cạn kiệt
và ô nhiễm, đó là hậu quả tất yếu của việc tách rời các mục tiêu kinh tế với
mục tiêu sinh thái. Nguyên nhân sâu xa của viêc tách rời mục tiêu khinh tế và
bảo vệ môi trường là do không nhận thức được mối quan hệ cơ bản giữa phát
triển kinh tế với bảo vệ môi trường. Không có một cơ sở lý luận để nhận thức
điều đó, do vậy đã gây nhiều ảnh hưởng và sai lầm trong chính sách kinh tế
và bảo vệ môi trường. Mặt khác, khi hình thành chính sách phát triển kinh tế
đi kèm với chính sách bảo vệ môi trường, nhưng trong quá trình thực hiện, do
yêu cầu và lợi ích đem lại của phát triển kinh tế nên đã làm lu mờ đi chính
sách về môi trường, do vậy đã dẫn đến tình trạng thực hiện không đồng bộ hai
chính sách này. Bên cạnh đó thì hệ thống pháp luật và quản lý nhà nước còn
nhiều sai sót, kẽ hở làm cho chính sách bảo vệ môi trường gặp nhiều khó


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status