Đề tài " Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay dự án đầu tư trung và dài hạn trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam " - Pdf 19

Đề tài
" Giải pháp nâng cao hiệu quả cho
vay dự án đầu tư trung và dài hạn
trong hệ thống Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn
Việt Nam "
1
1
MỤCLỤC
2
2
3
3
MỞĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đối với ngân hàng, trong các tài sản của các ngân hàng thương mại thì
khoản mục cho vay bao giờ cũng chiếm tỷ trọng cao nhất và là khoản mục
mang lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng. Thu nhập từ tiền cho vay thể hiện
dưới dạng lãi tiền vay và phụ thuộc chủ yếu vào thời hạn của khoản vay. Thời
hạn cho vay càng dài thì lãi suất càng cao và do đó thu nhập của ngân hàng
càng lớn. Chính vì vậy nếu các ngân hàng có thể mở rộng cho vay nhất là cho
vay trung và dài hạn đối với các dựán đầu tư thì sẽ cóđiều kiện kiếm lời nhiều
hơn. Tuy nhiên cũng phải nói thêm rằng các khoản cho vay có thời hạn càng
dài thì càng tiềm ẩn một tỷ lệ rủi ro cao vàđó là lý do vì sao khi mở rộng quy
mô các ngân hàng thường chú trọng đến việc nâng cao hiệu quả tín dụng cũng
như hiệu quả dựán.
Không chỉ có vậy, việc đáp ứng tốt nhu cầu của các khách hàng cũng là
một thứ vũ khí cãnh tranh lợi hại của các ngân hàng. Khả năng mở rộng các
khoản vay dài hạn còn thể hiện tiềm lực vốn của ngân hàng, hiệu quả tín dụng
cao phần nào thể hiện năng lực quản lý, năng lực chuyên môn của cán bộ và
nhân viên ngân hàng. Đồng thời việc mở rộng tín dụng trung và dài hạn đặc

pháp: duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, điều tra thống kê, phân tích và so
sánh làm phương pháp luận cho việc nghiên cứu.
5. Kết cấu của luận văn
Tên đề tài: "Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay dựán đầu tư trung
và dài hạn trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Việt Nam".
Kết cấu: Ngoài phần Mởđầu, Kết luận và Danh mục Tài liệu tham khảo,
nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 : Lý luận chung về dựán đầu tư và cho vay dựán đầu tư trung
và dài hạn.
Chương 2 : Thực trạng cho vay dựán đầu tư trung và dài hạn trong hệ
thống ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
5
5
Chương 3 : Một số giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay dựán đầu tư
trung và dài hạn trong hệ thống ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn Việt Nam.
6
6
CHƯƠNG 1
LÝLUẬNCHUNGVỀDỰÁNĐẦUTƯVÀCHOVAY
DỰÁNĐẦUTƯTRUNGVÀDÀIHẠN
1.1. Khái niệm về dựán đầu tư.
1.1.1. Khái niệm chung.
Hiện nay còn nhiều định nghĩa khác nhau về DAĐT nhưng khái niệm
chung nhất là:
DAĐT là một hệ thống các thuyết minh, được trình bày một cách chi
tiết, có luận cứ về các giải pháp sử dụng nguồn lực, đểđạt được mục tiêu cao
nhất trong chủ trương đầu tư.
DAĐT bao gồm 4 phần chính:

phép nhập khẩu vật tư máy móc, xin hưởng các ưu đãi vềđầu tư, xin gia nhập
khu chế xuất - khu công nghiệp
1.2. Dựán đầu tư trung và dài hạn
1.2.1 Khái niệm chung
DAĐT trung và dài hạn là DAĐT cần lượng vốn lớn, thời gian tiến
hành đầu tư cũng như vận hành kết quảđầu tư kéo dài và mang tính rủi ro cao.
Mặt khác, nó vừa phải mang lại lợi ích kinh tế cho nhàđầu tư vừa phải phù hợp
với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Do đó, để tiến hành một công cuộc đầu tư phải có sự chuẩn bị hết sức
nghiêm túc. Sự chuẩn bịđó biểu hiện bằng việc nghiên cứu, soạn thảo các giải
pháp kinh tế, kỹ thuật nhằm tiến hành hoạt động đầu tư.
8
8
1.2.2 Đặc điểm dựán đầu tư trung và dài hạn
Xét về mặt hình thức thì DAĐT là tập hồ sơ, tài liệu trình bày một cách
chi tiết và có hệ thống một chương trình hoạt động và các chi phí tương ứng
đểđạt mục tiêu nhất định trong tương lai. Dựán đầu tư trung và dài hạn khác có
các đặc điểm khác với dựán đầu tư (nói chung) như sau:
- Dựán đầu tư trung và dài hạn có thời gian thực hiện trên 12 tháng.
- Dựán đầu tư trung và dài hạn phục vụ nhu cầu mở rộng phát triển sản
xuất theo chiều rộng và chiều sâu.
- Dựán đầu tư trung và dài hạn phục vụ nhu cầu phát triển và tăng
trưởng kinh tế.
- Dựán đầu tư trung và dài hạn là một hoạch định trong tương lai, được
thực hiện trong thời gian dài trên 12 tháng nên nó bất ổn định và tiềm ẩn nhiều
rủi ro, đặc biệt là rủi ro hệ thống.
1.3 Cho vay dựán đầu tư trung và dài hạn
1.3.1. Quy định về cho vay dựán đầu tư trung và dài hạn
* Một là, vốn chủ sở hữu tham gia vào dựán, phương án.
Cho vay trung và dài hạn với thời gian dài, độ rủi ro cao hơn so với cho

hạn tháng, quí, năm dựa vào số dưở mỗi kỳ hạn trả nợ và lãi suất cho vay.
Khách hàng có thể trả tiền lãi cùng nợ gốc tại mỗi kỳ hạn trả nợ hay trả tiền lãi
vào một ngày nào đó trong kỳ theo thoả thuận
1.3.2. Quy trình cho vay dựán đầu tư
Giống như cho vay ngắn hạn, quy trình cho vay DAĐT đối với các
khách hàng được bắt đầu bằng việc xem xét và quyết định cho vay, sau đó là
giải ngân vốn, theo dõi nợ vay và kết thúc bằng việc thu nợ gốc và lãi. Dựa
trên đề xuất vay DAĐT của khách hàng vay, ngân hàng thương mại phải xem
10
10
xét trong một thời gian nhất định vàđưa ra quyết định từ chối hay chấp nhận
cho vay.
Đề xuất vay vốn DAĐT của khách hàng được hợp thức hoá bằng các
tài liệu như: đơn xin vay; hồ sơ pháp lý chứng minh tư cách pháp nhân và vốn
điều lệ ban đầu; hồ sơ tình hình tài chính 2 năm trước khi đề xuất vay và của 2
quý trong năm đề xuất vay; các tài liệu liên quan đến DAĐT xin vay (luận
chứng kinh tế – kỹ thuật; bản phê duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật của cấp có
thẩm quyền; các văn bản có liên quan đến cung ứng vật tư thiết bị, nguyên vật
liệu, tiêu thụ sản phẩm; các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp hoặc cầm
cố ).
Việc chấp nhận hay từ chối cho vay một DAĐT của khách hàng phải
dựa vào thẩm tra các mặt như tư cách pháp nhân; mức vốn tham gia của đơn vị
vay vốn; tình hình sản xuất kinh doanh; tình hình công nợ, đồng thời phải xem
xét mục đích kinh tế xã hội, khả năng thực thi, nguồn cung cấp nguyên liệu,
nguồn nhân lực, hướng tiêu thụ sản phẩm, hiệu quả kinh tế, khả năng hoàn trả
vốn vay của dựán
Khi xem xét, thẩm định vàđi đến quyết định chấp nhận hay từ chối cho
vay một DAĐT của khách hàng phải quán triệt các nguyên tắc: Phù hợp với
nguồn vốn của ngân hàng cho vay, nghĩa là không vượt quá khả năng nguồn
vốn hiện có và sẽ huy động được dùng vào cho vay trung và dài hạn của bản

kết luận chính xác về giá trị của dựán, từđó có quyết định cho vay đúng mức,
chắc chắn mang lại hiệu quả kinh tế dựđịnh.
Đối với các ngân hàng thương mại việc thẩm định các DAĐT xin vay
có thể dựa vào kết quả thẩm định của các tổ chức thẩm định chuyên nghiệp
nhà nước hay dân lập. Trong trường hợp này, trách nhiệm của ngân hàng là
12
12
phải có khả năng đánh giá chất lượng thẩm định dựán được thực hiện bởi một
tổ chức thẩm định nào đó.
Trong trường hợp DAĐT xin vay cỡ vừa và nhỏ, thời hạn thu hồi vốn
không quá 5 năm, ngân hàng phải tự thực hiện thẩm định DAĐT xin vay. Dù
tái thẩm định hay tự thẩm định thì ngân hàng cũng đều cần đến đội ngũ cán bộ
tín dụng đủ năng lực đánh giá DAĐT xin vay và từđóđưa ra kết luận chấp
nhận hay từ chối tài trợđối với DAĐT xin vay.
Muốn thẩm định hay tái thẩm định một DAĐT xin vay có kết quả
mong muốn phải tuân thủ quy trình thẩm định, nghĩa là phải đi từ khâu thu
thập thông tin cần thiết cho việc đánh giá dựán đầu tư, xử lý thông tin bằng
những phương pháp thẩm định nhất định vàđi đến những kết quả cụ thể và xác
đáng được ghi trong tờ trình thẩm định dựán đầu tư.
Xét về nội dung thẩm định dựán, người ta thường thực hiện thẩm định
ba mặt cơ bản là phương diện kỹ thuật, phương diện kinh tế và phương diện
tài chính.
Thẩm định DAĐT về phương diện kỹ thuật làđi sâu nghiên cứu và phân
tích các yếu tố kỹ thuật và công nghệ, thiết bị chủ yếu của DAĐT đểđảm bảo
tính khả thi của DAĐT khi thi công xây dựng cũng như khi vận hành công
trình đã hoàn thành. ởđây, người ta chúýđến sự phù hợp của quy mô DAĐT
với khả năng tiêu thụ sản phẩm, nguồn cung cấp nguyên vật liệu, năng lực,
năng lực quản lý của doanh nghiệp. Sự lựa chọn thiết bị và công nghệ của
dựán đầu tư, sự cung ứng nguyên vật liệu và các yếu tốđầu vào, sự lựa chọn
địa điểm xây dựng công trình, việc quản lý dựán từ khi thai nghén đến khi kết

hành dựán đầu tư.
1.4 . Nguồn vốn cho vay dựán đầu tư của các ngân hàng thương mại.
14
14
Một trong những vấn đề sống còn đối với mỗi ngân hàng thương mại là
phải bảo đẩm khả năng thanh toán của mình. Đểđảm bảo yêu cầu này thì hoạt
động cho vay của ngân hàng phải gắn bó chặt chẽ, dựa trên nền tảng nguồn
vốn mà ngân hàng cóđược. Nghĩa là cơ cấu cho vay phải phù hợp với cơ cấu
nguồn vốn, các khoản cho vay DAĐT cần phải được hình thành nên từ những
nguồn vốn ổn định và có thời gian dài tương ứng. Theo nguyên tắc đó thì
nguồn vốn cho vay DAĐT bao gồm: Vốn tự có của ngân hàng thương mại;
vốn huy động dưới hình thức tiền gửi trung dài hạn kể cả một phần vốn huy
động ngắn hạn; vốn uỷ thác của Chính phủ và các tổ chức trong và ngoài
nước; vay nước ngoài; vay từ ngân hàng trung ương Mỗi nguồn vốn trên lại
có những ưu nhược điểm và tuỳ từng điều kiện cụ thể mà các ngân hàng
thương mại sẽ quyết định sử dụng nguồn vốn nào thích hợp nhất đối với mình.
Nguồn vốn tự có của ngân hàng là nguồn ổn định nhất tuy nhiên khối
lượng của nó lại không lớn; nguồn tiền gửi trung và dài hạn cũng không đáng
kể do không nhiều khách hàng sử dụng loại hình tiền gửi này của các ngân
hàng thương mại; phát hành trái phiếu lại có chi phí cao hơn so với tiền gửi
cùng số lượng; vốn vay từ NHTW cũng bị hạn chế và phụ thuộc vào chính
sách tiền tệ quốc gia (thông thường NHTW chỉ cho các NHTM vay ngắn hạn,
thậm chí trong trường hợp NHTW đang có chủ trương thắt chặt tiền tệ thì các
NHTM còn không được vay); việc sử dụng một phần vốn huy động ngắn hạn
để cho vay đối với các DAĐT là một trong những phương án khả thi song để
tránh những rủi ro có thể xảy ra những người làm công tác quản trị ngân hàng
cũng cần phải tính toán tỷ lệ trích chuyển. Trong điều kiện hiện nay, hình thức
vay nợ nước ngoài để cho vay dựán được khá nhiều ngân hàng trên thế giới
đặc biệt làở các nước đang phát triển sử dụng (ưu điểm của nguồn vốn này là
khối lượng lớn, lãi suất lại thường được ưu đãi, hơn nữa điều kiện cho vay lại

16
16
Cho vay DAĐT trung và dài hạn thúc đẩy sản xuất phát triển vì nó là
một loại đầu tư theo chiều sâu nhằm mở rộng sản xuất, tăng quy mô, năng lực
sản xuất kinh doanh, tăng thêm sản lượng và chất lượng cho sản phẩm. Khi
một dựán đi vào hoạt động, nó làm mở rộng sản xuất với máy móc thiết bị
công nghệ, cơ sở vật chất kỹ thuật được trang bịđầy đủ là cho năng lực sản
xuất kinh doanh tăng lên, sản phẩm hàng hoáđược sản xuất ra không những
nhiều hơn về số lượng, mà còn đa dạng về mẫu mã, phong phú về chủng loại
và chất lượng cao, từđó có thể kích thích nhu cầu xã hội và xuất khẩu ra nước
ngoài. Đầu tư vào các dựán sản xuất máy móc thiết bị phục vụ cho sản xuất thì
năng suất lao động sẽ tăng lên, tiết kiệm được một khoản ngoại tệ lớn do
không phải nhập máy móc thiết bị từ nước ngoài. Khi tốc độ phát triển sản
xuất càng cao, nhu cầu vốn lưu động càng lớn, tạo thị trường sử dụng vốn
ngắn hạn. Trong điều kiện đó, hiệu quả cho vay ngày càng được quan tâm.
Đảm bảo hiệu quả cho vay DAĐT trung và dài hạn làđiều kiện để ngân
hàng làm tốt vai trò trung tâm thanh toán. Khi hiệu quả cho vay trung và dài
hạn được nâng cao sẽ tăng vòng quay vốn cho vay, với một lượng tiền như cũ
có thể thực hiện số lần giao dịch lớn hơn, tạo điều kiện tiết kiệm tiền trong lưu
thông, củng cố sức mua của đồng tiền.
Hiệu quả cho vay DAĐT trung và dài hạn góp phần kiềm chế lạm phát,
ổn định tiền tệ, tăng trưởng kinh tế, tăng uy tín quốc gia. Thông qua cho vay
chuyển khoản, thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt, nghiệp vụ cho vay
DAĐT trung và dài hạn của ngân hàng thương mại đã trực tiếp làm giảm khối
lượng tiền trong lưu thông, là nguyên nhân tiềm ẩn của lạm phát. Bởi vậy nâng
cao hiệu quả cho vay DAĐT trung và dài hạn sẽ tạo khả năng giảm bớt tiền
thừa trong lưu thông, góp phần hạn chế lạm phát ổn định tiền tệ, tăng uy tín
quốc gia.
17
17

ngân hàng.
Hiệu quả cho vay DAĐT trung và dài hạn làm tăng khả năng sinh lời
của các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng thông qua việc giảm chi phí nghiệp vụ,
quản lý và các chi phí thiệt hại khác.
Hiệu quả cho vay DAĐT trung và dài hạn đảm bảo khả năng thanh toán
và lợi nhuận của ngân hàng, tạo thế mạnh cho ngân hàng trong cạnh tranh.
Hiệu quả cho vay DAĐT trung và dài hạn tạo thuận lợi cho sự phát
triển bền vững của ngân hàng. Chính nhờ có hiệu quả cao trong cho vay
DAĐT trung và dài hạn ngân hàng có nhiều khách hàng trung thành, uy tín và
sản xuất kinh doanh có hiệu quả, đó là cơ sởđem lại nhiều lợi nhuận cho ngân
hàng. Như vậy hiệu quả cho vay sẽ củng cố thêm mối quan hệ xã hội của ngân
hàng .
Từ những ưu thế trên, việc củng cố và nâng cao hiệu quả cho vay trung
và dài hạn làđiều cần thiết cho tồn tại và phát triển lâu dài của NHTM.
1.5.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay DAĐT trung và dài hạn.
Dưới góc độ ngân hàng thì hiệu quả cho vay DAĐT trung và dài hạn
có thểđánh giá qua các chỉ tiêu sau:
1.5.3.1 Các chỉ tiêu định tính
DAĐT trung và dài hạn được đánh giá là hiệu quả khi nó mang lại cho
ngân hàng thu nhập đủđể trang trải cho các chi phí liên quan và có lãi, hạn chế
thấp nhất yếu tố rủi ro. Điều này không chỉ phụ thuộc vào ngân hàng mà còn
phụ thuộc vào khách hàng (những người vay vốn đểđầu tư). Khách hàng cũng
là một yếu tố quan trọng cần phải xem xét và họ chính là một phần trong quan
hệ tín dụng, góp phần vào sự thành công của ngân hàng. Một khoản cho vay
chỉ có thể coi là có hiệu quả khoản vay đóđược sử dụng đúng mục đích và có
hiệu quả; hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn.
19
19
Một yêu cầu đối với hiệu quả hoạt động cho vay của ngân hàng là phải
đảm bảo bùđắp phí huy động vốn và phí cho vay, góp phần giảm phí tín dụng.

dài hạn.
* Đối với ngân hàng: Xuất phát từđặc điểm của đầu tư và mục đích hoạt
động đầu tư của ngân hàng, việc phân tích, đánh giá hiệu quả cho vay DAĐT
trung và dài hạn được thực hiện thông qua các chỉ tiêu sau:
- Chỉ tiêu tỷ lệ giữa lợi ích và chi phí :
Đây là chỉ tiêu so sánh giữa lợi ích thu được (Bene fit-B)và chi phí bỏ ra
( Cost-C) của dựán. Chỉ tiêu này cho biết lợi ích thu được trên một đồng vốn
bỏ ra. Vì vậy, nếu hệ số B/C >= 1 thì dựán có thể chấp thuận. Tuy nhiên, chỉ
tiêu này có nhược điểm là không cho biết được quy mô tiền lời của dựán.
- Chỉ tiêu lợi ích ròng trên tổng vốn đầu tư :
Được xác định bằng lợi nhuận ròng chia cho tổng vốn đầu tư. Đây là
thước đo khả năng sinh lời của vốn đầu tư, là chỉ tiêu quan trọng để xác định
hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu quả sử dụng vốn
đầu tư của dựán càng cao và ngược lại.
- Chỉ tiêu suất thu hồi nội bộ ( Internal rate of return - IRR)
Nó cóưu điểm :Cho biết khả năng sinh lời riêng của dựán, có thể so
sánh với lãi suất thị trường để quyết định đầu tư vì nó biểu thị lãi suất tối đa
mà các dựán có thể chịu đựng được.
- Chỉ tiêu thời gian hoàn vốn :
Nó phản ánh mức độ thu hồi vốn đầu tư nhanh hay chậm. Tuy nhiên chỉ
tiêu này có nhược điểm là không xem xét phần thu nhập sau thời gian hoàn
vốn, không tính đến thời điểm phát sinh thu nhập và chi phí, không tính đến
quy mô của dưán.
21
21
Cần phải xem xét cơ cấu vốn vay và vốn cổ phần. Phải có một cơ cấu
vốn hợp lý vì sử dụng vốn vay phải trả lãi cốđịnh, còn sử dụng vốn cổ phần sẽ
phải trả lãi theo mức độ hiệu quả của dựán
-Chỉ tiêu phân tích, đánh giá khả năng thanh toán:
Giá trị tài sản có lưu động

phát triển DAĐT của ngân hàng đối với nền kinh tế.
Chỉ tiêu này tăng liên tục qua nhiều thời kỳ có thể nói dư nợ cho vay
DAĐT trung dài hạn đang có xu hướng tăng, tuy nhiên khi đánh giá hiệu quả
cho vay DAĐT trung và dài hạn qua chỉ tiêu này cần phải xem xét cả số
tương đối và số tuyệt đối.
Thu nợ DAĐT trung và dài hạn
- Chỉ tiêu quay vòng vốn:
Tổng dư nợ trung và dài hạn
Phản ánh sự quay vòng vốn nhanh hay chậm của loại tín dụng này.
Thông thường vòng quay càng lớn thể hiện việc thu hồi nợ càng tốt và ngược
lại .Do đó cần xem xet trong mối quan hệ với các chỉ tiêu khác:
Nợ quá hạn của DAĐT trung và dài hạn
- Chỉ tiêu nợ quá hạn:
Tổng dư nợ DAĐT trung và dài hạn
Đây là chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả cho vay DAĐT trung và
dài hạn. Chỉ tiêu này cho biết tỉ lệ nợ quá hạn trong tổng dư nợ cho vay DAĐT
trung và dài hạn. Tỉ lệ này càng thấp chứng tỏ sử dụng nguồn vốn có hiệu quả.
Chỉ tiêu này được đánh giá cả về số tuyệt đối và tương đối thì mới có thể kết
luận chính xác về hiệu quả cho vay DAĐT trung và dài hạn. Tuy nhiên để xác
định chính xác cần xem xét các nguyên nhân của nó.
23
23
- Chỉ tiêu nợ quá hạn khóđòi:
Nợ quá hạn khóđòi của DAĐT trung và dài hạn
x 100%
Tổng dư nợ DAĐT trung và dài hạn
Phản ánh tỉ lệ % nợ quá hạn khóđòi của toàn bộ hoạt động về cho vay
DAĐT trung và dài hạn. Chỉ tiêu này cao thì việc thu hồi vốn của Ngân hàng
khó khăn ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay, ngược lại, tỷ lệ này thấp thì hiệu
quả cho vay mang lại sẽ cao. Có thể xem thêm chỉ tiêu:

Phản ánh hiệu quả của cho vay DAĐT trung và dài hạn và vai trò của
chúng trong toàn bộ hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Chỉ tiêu:
Lợi nhuận cho vay DAĐT trung dài hạn
= x 100%
Tổng tài sản
Chỉ tiêu này cho biết khả năng sinh lời tổng tài sản của Ngân hàng đối với
cho vay DAĐT trung và dài hạn.
* Đối với khách hàng:
Các chỉ tiêu thường được sử dụng đểđánh giá hiệu quả của khoản vay
bao gồm doanh thu tăng từ hoạt động của dựán, lợi nhuận tăng từ hiệu quả của
hoạt động dựán và mức tăng năng suất lao động từ việc thực hiện dựán. Các
chỉ tiêu này càng cao càng cho thấy hiệu quả sử dụng vốn vay của doanh
nghiệp. Đó là tiền đềđể khách hàng thực hiện đúng cam kết trả nợ cho ngân
hàng đồng thời bản thân khách hàng có lợi nhuận, đóng góp vào sự phát triển
chung của nền kinh tế.
Ngoài ra, ở góc độ kinh tế xã hội, chúng ta có thể xem xét một số chỉ
tiêu phản ánh các giá trị gia tăng được tạo ra từ khoản cho vay của ngân hàng,
đó là:
25
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status