BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đề tài
Vai trò của nền kinh tế vai trò của
đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự
phát triển kinh tế Việt Nam
1
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
2
Sau năm 1975, nước ta bước vào công cuộc xây dựng và phát triển đất
nước. Trong những năm đầu sau giải phóng, chúng ta tập trung chủ yếu vào
khôi phục nền kinh tế bị tàn phá sau chiến tranh. Chúng ta không thể không
nhắc tới sự ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa như Liên Xô, Trung Quốc.
Sau đó, cùng với xu thế toàn cầu hoá và quốc tế hoá nền kinh tế, cuộc
cải cách kinh tế 1986, đã thực sự tạo ra sự chuyển biến to lớn cho sự phát
triển kinh tế Việt Nam. Cuộc cải cách kinh tế đã đưa nền kinh tế nước ta từ …
bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Do vậy, nó
mở đầu nèn kinh tế hội nhập và phát triển cùng thế đưa nước ta phát triển
công nghiệp hoá, hiện đại hoá,không thể không nói đến một yếu tố quan trọng
đối với nền kinh tế còn non yếu như nước ta là nguồn vốn đầu tư, trong đó
vốn đầu tư trực tiếp là nguồn vốn có ý nghĩa quan trọng. Để tìm hiểu thực
trạng đề ra các giải pháp thu hút nguồn vốn này, ta không thể không tìm hiểu
vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài (ĐTTTNN).
Bài tiểu luận này sẽ trình bày về vai trò của nền kinh tế vai trò của đầu
tư trực tiếp nước ngoài (ĐTTTNN) đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam.
3
PHẦN NỘI DUNG
I. TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1. Khái niệm về đầu tư quốc tế
Đầu tư quốc tế là một hình thức của di chuyển quốc tế về vốn , trong
đó vốn được di chuyển từ quốc gia này đến quốc gia khác để thực thiện một
nhằm mục đích thu được lợi nhuộn cao hơn việc triển khai hoạt động sản xuất
kinh doanh ở nước ngoài
c. Đặc điểm của đầu tư nước ngoài
+ Các chủ đầu tư nước ngoài phả đống góp một số tối thiểu vào vốn
pháp định, tuỳ theo luật lệ của mỗi nứớc .
+ Quyền quản lý ,điều hành đối tượng đầu tư tuỳ thuộc vào mức độ vốn
góp >Nếu góp 100% vốn thì đối tượng đầu tư hoàn toàn do chủ đầu tư nước
ngoàI điều hành và quản lý .
+ Lợi nhuậntừ hoạt động sản xuất đầu tư phụ thuộc vào kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh và được phân chia lợi nhuận theo tỉ lệ vốn góp
+ FDI được xây dung thông qua việc xây dung doanh nghiệp mới, mua
lại toàn bộ hay tong phần doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất hoặc mua cổ
phiếu để thôn tính hay sáp nhập các doanh nghiệp với nhau .
d .Các hình thức của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trong thực tiễn ,FDI được thực hiện theo nhiều hình thức đầu tư khác
nhau, trong đó những hinh thức được áp dụng phổ biến bao gồm:
+ Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác inh doanh .
+ Doanh nghiệp liên doanh
+Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoàI
Tuỳ vào điều iện của tong nước ,các hình thức đầu tư trên đước áp dụng
ở múc độ khác nhau .
5
Bên cạnh đó, để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư ,chính phủ
các nước sở tại còn lập ra các khu vực ưu đãI đầu tư trong lãnh thổ nước mình
như : khu chế xuất ,khu công nghiệp tập trung , khu công nghệ cao và đặc khu
kinh tế, đồng thời còn áp dụng các hợp đồng xây dung _ kinh doanh chuyển
giao (B.T.O)_xây dung chuyển giao kinh doanh (B.O.T) và xây dung chuyển
giao (B.T).
II. VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI:
1. Tạo nguồn vốn bổ sung quan trọng
kinh tế giữa các nước trong khu vực và trên toàn thế giới. Xu hướng này
xuâts phát từ lợi ích của các quốc gia , khi tham gia vào lao động quốc tế các
nước sẽ phát huy được thế mạnh của mình đẻ phát triển nền kinh tế.
2. Chuyển giao công nghệ:
Khi đầu vào một nước nào đó , chủ đầu tư không chỉ chuyển vào đó
vốn bằng tiền mà còn chuyển vào cả vốn hiện vật máy móc, thiết bị, nguyên
vật liệu…(hay còn gọi là công nghệ cứng) và vốn vô hình như chuyên gia kỹ
thuật công nghệ, tri thức khaohọc bí quyưết quản lý, năng ực tiếp cận thị
trường ( hay còn gọi là công nghệ mềm ).Thông qua hoạt dộng ĐTTTNN ,
quá trình chuyển giao công nghệ được thực hiện tương đối nhanh chóng và
thuận tiện cho cả bên đầu tư cũng như bên nhận đầu tư.
Một trong nhưng trở ngại lớn nhất trên con đường phát triên kinh tế của
hầu hết các nước đang phát triển là trình đọ khoa học kỹ thuật công nghệ còn
lạc hậu. Trong thời đại khoa học công nghệ hát triển như vũ báo hiện nay thì
các nước đang phát triển tự nghiên cứa để phát triển khoa học kỹ thuật công
nghệ cho kịp với các nước phát triển và vô cùng khó khăn và tốn kém. Con
đường nhanh nhất để phát triển kỹ thuật công nghệ và trình độ sản xuất của
các nước này là phải biết tậnđụng những thành tựa của các nước tiên tiến
thông qua chuyển giao công nghệ .Mặc dù việc tiếp nhận công nghệ của các
7
nước này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng đây cũng là lợi ích căn bản
của các nước khi tiép nhận ĐTTTNN.
Đối với Việt Nam, chúng ta đang trong quá trình công nghiệp hoá , hiện
đại hoá, công nghệ còn lạc hậu, việc tiếp nhận khoa học công nghệ của các
nước tiên tiến là điều kiện, chiến lược phát triển không thể thiếu, đặc biệt
thông qua con đường ĐTTTNN.
3. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Tranh thủ vốn và kỹ thuật của nước ngoài, các nước đang phát triển nó
để thực hiện mục tiêu quan trọng hàng đầu là đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế.
Đây cũng là điểm nút của các nước đang phát triển thoát khỏi caí vòng luẩn
dụng , năng suất lao động cũng tăng lên theo. Vì vậy có thể thông qua tỷ lệ
đầu tư tực tiếp nước ngoàI trong tổng đầu tư để đánh giá vai trò của đầu tư
nước ngoàI đối với tăng trưởng kinh tế. Lấy ví dụ như trường hợp của
Singapore, thời kỳ từ 1972-1980 đạt mức tăng trưởng trung bình là 8% , trong
đó tư bản đầu tư là 6,8%, sức lao động là 2.1%, còn nhân tố năng suất lao
động là -0.9%. Như vậy tư bản đầu tư chiếm tới 80%trong tăng trưởng kinh tế
của Singapore.
Tổng vốn đầu tư trong thời kì 1972-1989 của Singapore là 20450triệu
dollars singgapore, trong đó số ượng vốn đầu tư nước ngoài lên tới 16040
triệu dollars chiếm 78,5%
Xem xét riêng trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp ở các nước đang
phát triển , ĐTTTNN đã đóng một vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng
của lĩnh vực này. Ví dụ như các công ty nứoc ngoàI đã sản suất tới 78% giá trị
sản phẩm công nghiệp chế tạo của PPhilippin, 62,9% của Singapore , 43,4%
của Coumbia, 39,8% của Malayxia, 35,9% của Venexuela, 32%của brazin,
29,8% của Mêchico , 29,4% của Argentina, và 27% của Indonexia.
Qua nghiên cứu tình hình thực tiễn của nhiều quốc gia đang phát triển
châu Á trong nhưng năm của hai thập kỷ 80 và 90 , các chuyên gia của ADB
đưa ra kết qủ phân tích như sau:
Ảnh hưởng nhân quả khi tăng 1% của các nhân tố:
9
Chỉ tiêu AID FDI CX CLF GDPN GR S
Nhịp độ tăng trưởng 0.047 0.119 0.097 0.137 0.8
tỷ lệ tiết kiệm -0.016 0.032 0.016 0.4 0.053
Nguồn: tuyển tập báo cáo hội thảo ‘’Một số vấn đề kinh tế vĩ mô’’.
Trung tâm nghiên cứu hệ thống và quản lý -1992.
Theo kết quả trên đây thì tăng 1% đầu tư tư nhân nứoc ngoàI sẽ làm
tăng nhịp độ tăng trưởng lên 0.119% và tỷ lệ tiết kiệm tăng 0.032%. Tuy
nhiên đó mới chỉ là sự phản ánh hết tác dụng to lớn về chất của ĐTTTNN đối
với sự tăng trưởng kinh tế.
nhiều nwocs đang phát triển.Ví dụ như ở singapỏe lên tới 72.9% brazin 37.2%
Mechico 32.1%,ĐàI loan 26.5%
Thái Lan 22.7% Hồng Kông 16.5% .Cùng với việc tăng năng xuất
khẩu hang hoá đầu tư trực tiếp nước ngoàI còn góp phần mở rộng thị trường
trong và ngoàI nước đa số các dự án đầu tư nước ngoàI đều có phương án
bao tiêu sản phẩm .Đây gọi là hiện tượng ‘hai chiều ‘ đang trở thành một hiện
tượng khá phổ biến ở các nước đang phát triển như hiện nay .
Về mặt xã hôị,đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tạo ra được nhiều chỗ làm
việc mới, thu hút được một khối lượng người đáng kể người lao động ở nước
nhận đầu tư vào làm việc trong các đơn vị của đầu tư nước ngoài. Điều này
góp phần đáng kể vào việc làm giảm bớt nạn thất nghiệp, vốn là vấn đề nan
giải của nhiều quốc gia. Đặc biệt đối với nhiều nước đang phát triển, nơi có
lực lượng lao động rất phong phú nhưng không có điều kiện khai thác và sử
dụng được thì ĐTTTNN được coi là chiếc chìa khoá quan trọng để giải quyết
vấn đề trên, vì ĐTTTNN tạo ra các điều kiện về vốn và kĩ thuật cho phép khai
thác và sử dụng các tiềm năng của nền kionh tế, trong đó có tiềm năng về lao
động. ở một số nước đang làm việc trong các doanh nghiệp chi nhánh nước
ngoài so với tổng số người có việc làm đạt tỷ lệ tương đối cao như:Singapỏe
54,6%, brazin 23%, mêhico 21%.
11
III. VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI SỰ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM:
Trong thời gian qua ,ĐTTTNN đã đóng một vai trò rất quan trọng đối
với sự phát triển kinh tế –xã hội ở Việt Nam:
Đóng góp đáng kể vào giá trị sản lượng công nghiệp –chiếm tới 36,4%
giá trị sản lượng công nghiệp (tương đương với khu vực doanh nghiệp nhà
nước);nhưng ngành công ngiệp nhẹ như:dệt may, da giày chiếm 12,1%; sản
xuất vật liệu xây dựng, gốm thuỷ tinh 9,7%; thực phẩm, đồ uống 22,5%, và
phần lớn các nghành công nghệ cao như sản phẩm điện tử, máy tính, thiết bị
văn phòng, ôtô, xe máy đều do các doanh nghiệp FDI sản xuất.
88,0
100
100
55,5
50,6
-Xà phòng bột giặt.
-Sản xuất thép.
-Sản xuất xi mâng.
-Dệt vải
-May mặc
-Sản xuất bia
-Sản xuất đường
48,0
46,2
32,8
33,5
27,4
28
25,7
12
Tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp bình quân hằng năm (theo giá
năm 1994)
Thời kì
Toàn ngành
DNNN
Doanh
nghiệp ngoài
quốc doanh.
Doanh
nghiệp FDI
ngoài
40,07
9,7
3,06
35,94
4,5
6,73
41,35
8,72
3,25
34,22
4,26
8,2
41,27
8,54
3,31
33,45
4,19
9,24
40,4
8,64
3,26
33,09
4,25
10,36
38,53
8,58
3,38
32,31
3,92
(%)
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
72,4
87,4
108,4
117,1
131,2
145,3
163,5
183,8
217,6
20,0
21,8
24,5
27,8
31,5
34,6
38,5
46,5
58,1
23,39
25,00
Số lao động các doanh nghiệp khu vực
có vốn đầu tư nước ngoài
40756
5
48928
7 691088
Trong đó lao động nữ
24615
1
30742
7 448477
% lao động nữ trong tổng số 60.4 62.83 64.89
Tốc độ phát triển liên hoàn về số lương 100 120.05 141.24
14
của lao động (%)
Trong đó :Tốc độ phát triển liên hoàn
của lao động nữ(%) 100 124.89 145.88
Nguồn: Tính từ thực trạng doanh nghiệp qua kết qủa điều tra năm
2001,002,003’’.NXB Thống kê, Hà Nội,2004.
-Thúc đẩy sản xuất hàng hoá , mở rộng thị trường, phát triển các ngành
dịch vụ, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, chuyển dich cơ cấu
kinh tế theo hướng công nghiệp hoá -hiện đại hoá, tạo ra năng suất lao động
cao , từng bước đưa nền kinh tế nước ta chuyển biến theo hướng kinh tế thị
trường hiện đại.
Một nền kinh tế phát triển theo hướng công nghiệp hoá , hiện đại hoá
phải thể hiện ở tỷ trọng khu vực II( công nghiệp và xây dựng) trongGDP ngày
càng cao hơn hẳn khu vực I ( gồm các ngành khai thác tự nhiên :nông, lâm,
thuỷ hải sản). Điều này đang diễn ra ở nước ta.Nếu như năm 1990 khu vực I
chiếm 22,67% thì đến năm 2003 tỷ lệ này là 21,83% và 39,95% . Đây là sự
chuyển dịch kinh tế rất ấn tượng giữa khu vực I và khu Vực II.
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2078.1
2580.7
2986.2
4054.3
5448.9
6255.9
9185.0
9361.0
11541.4
14483.0
15029
16705
19800
52
112
169
252
336
788
1890
1982
2547
3320
3573
16
Việt kiều từ 15 nước khác nhau đã đầu tư 63 dự án với vốn đầu tư đăng
ký 208,67 triệu USD, chỉ bằng 0,5% tổng vốn đầu tư, quy mô bình quân của
một dự án thấp hơn quy mô bình quân của cả nước. Vốn đầu tư của Việt kiều
chủ yếu là từ ba nước: CHLB Đức, Liên bang Nga và Pháp.
Các thành phố lớn, có điều kiện kinh tế xã hội thuận lợi vẫn là những
địa phương dẫn đầu thu hút ĐTNN. Thành phố Hồ Chí Minh dẫn đầu cả
nước, chiếm 31,2% về số dự án và 26% về vốn đăng ký. Hà Nội đứngthứ hai
chiếm 11% về số dự án và 11,1 5 về vốn đăng ký. Tiếp theo là Đồng Nai và
Bình Dương. Riêng vùng trọng điểm phía Nam (TP HCM, Bình Dương và Bà
Rịa - Vũng Tàu) chiếm 56% tổng vốn ĐTNN của cả nước. Vùng kinh tế trọng
điểm phía Bắc (Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh)
chiếm 26,3% tổng vốn ĐTNN đăng ký của cả nước.
Đến hết năm 2003, có khoảng 1.400 dự án ĐTNN đầu tư vào các KCN,
KCX (không kể các dự án đầu tư xây dựng hạ tầng KCN) còn hiệu lực, với
tổng vốn đăng ký 11.145 triệu USD, bằng 26,7% tổng vốn ĐTNN cả nước.
b) Tình hình thực hiện dự án
Tổng vốn ĐTNN thực hiện từ năm 1988 đến nay đạt hơn 28 tỷ USD
(gồm cả vốn thưc hiện của các dự án hết hạn hoặc giải thể trước thời hạn);
trong đó vốn nước ngoài khoảng 25 tỷ USD, chiếm 89% tổng vốn thực hiện.
Riêng thời kỳ 1991-1995, vốn thực hiện đạt 7,15 tỷ USD, thời kỳ 1996-2000
đạt 13,5 tỷ USD. Trong 3 năm 2001-2003, vốn thực hiện đạt 7,7 tỷ USD
bằng70% mục tiêu đề ra tại Nghị quyế 092001/NQ-CP ngày 28/8/2001 của
Chính phủ cho 5 năm 2001-2005 (11 tỷ USD).
Trong quá trình hoạt động, nhiều dự án triển khai có hiệu quả đã tăng
vốn đăng ký, mở rộng quy mô sản xuất. Từ 1988 tới cuối năm 2003 đã có
khoảng 2.100 lượt dự án tăng vốn đăng ký với số vốn tăng hêm trên 9 tỷ
USC. Trong ba năm 2001-2003, vốn bổ sung đạt gần 3 tỷ USD, bằng 47,6%
tổng vốn đầu tư đăng ký mới.
17
chỉnh quy hoạch ngành theo hướng xoá bỏ độc quyền và bảo hộ sản xuất
trong nước, tạo điều kiện cho khu vực ĐTNN tham gia nhiều hơn vào phát
triển các ngành. Trước nhất, đề nghị điều chỉnh Quy hoạch ngành xi măng, sắt
thép, nước giải khát, viễn thông, tổng sơ đồ phát triển ngành điện theo hướng
loại bỏ bớt các hạn chế đối với ĐTNN phù hợp với các cam kết quốc tế song
phương và đa phương. Ban hành các quy hoạch ngành còn thiếu như quy
hoạch mạng lưới các trường đại học, dạy nghề cùng với các điều kiện, tiêu
chuẩn cấp phép cho các dự án thuộc lĩnh vực này. Trên cơ sở đó xem xét
chấm dứt hiệu lực của Công văn số 180/VPCP-QHQT của Văn phòng Chính
phủ về việc yêu cầu tạm dừng xem xét các dự án mới đào tạo đại học. Điều
chỉnh lại Quy hoạch phát triển Khu công nghiệp đến năm 2010 cho phù hợp
với tình hình thực tế tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương có thể chủ
động xây dựng mới hoặc mở rộng KCN trong trường hợp đã lấp đầy trên 60%
diện tích đất công nghiệp hiệncó.
- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách về ĐTNN theo
hướng hình thành một mặt bằng pháp lý chung cho đầu tư trong nước và đầu
tư nước ngoài, tạo thêm điều kiện thuận lợi, đảm bảo tính minh bạch và dễ
tiên đoán, phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế.
Trước mắt giải quyết các vướng mắc về thuế thu nhập doanh nghiệp và
thuế giá trị gia tăng theo hướng Bộ KH & ĐT đã trình Thủ tướng Chính phủ
tại Công văn số 806/BKH-PC ngày 6/2/2004. Sửa đổi Nghị định số
105/2003/NĐ-CP ngày 19/9/2003 của Chính phủ theo hướng nới lỏng hạn chế
tỷ lệ lao động nước ngoài trong các doanh nghiệp ĐTNN hoạt động trong lĩnh
vựccông nghệ cao, giáo dục đào tạo, cơ sở khám chữa bệnh.
- Tiếp tục cải tiến quy trình thẩm định dự án theo hướng mở rộng diện
đăng ký cấp phép đầu tư, rút ngắn thời hạn thẩm định, từng bước chuyển từ
"tiền kiểm" sang "hậu kiểm". Trước mắt, đề nghị các Bộ và Uỷ ban nhân dân
các tỉnh, thành phố xem xét có ý kiến sớm về các dự án mà Bộ KH & ĐT đã
19
gửi xin ý kiến, thực hiện đúng quy định về thời gian xem xét góp ý ghi trong
- Thanh toán dứt điểm trong năm 2004 các công trình điện ngoài hàng
rào theo Nghị quyết 09/2001/NĐ-CP của Chính phủ và Chỉ thị số 19 của Thủ
tướng Chính phủ. Đối với những trường hợp vướng mắc, không thể thanh
toán được, đề nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định để thông báo rõ
với chủ đầu tư.
- Đề nghị Chính phủ giao Bộ Tài nguyên - Môi trường phối hợp với các
cơ quan chức năng nghiên cứu trình Chính phủ phương án xử lý các vướng
mắc của các dự án kinh doanh nhà và phát triển đô thị. Cụ thể: các vướng mắc
về cơ chế chuyển quyền sử dụng đất cho người mua, cơ chế thuê, cho thuê lại
đất: cơ chế đối với các dự án thứ cấp; các quy định đối với các công trình sau
khi bán hết nhà v.v
- Tiếp tục mở rộng phân cấp quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài,
sửa đổi Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc phân cấp quản lý dự án
đầu tư nước ngoài đối với Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương đến 20 triệu USD - áp dụng chung cho tất cả các tỉnh, thành phố.
- Đề nghị Chính phủ giao Bộ Công nghiệp phối hợp với Bộ Kế hoạch
và Đầu tư nghiên cứu xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển ngành công
nghiệp phụ trợ và các giải pháp nhằm tăng cường liên kết giữa khu vực kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài và kinh tế trong nước.
21
2. Tình hình đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2005
a) Kết quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Trong 11 tháng đầu năm 2005 cả nước thu hút 5,61 tỷ USD vốn đầu tư
mới, tăng 48,6% so với cùng kỳ năm 2004, trong đó vốn cấp mới đạt 3,78 tỷ
USD tăng 92,9% so với cùng kỳ và vốn bổ sung đạt 1,78 tỷ USD bằng 99,6 so
với cùng kỳ.
Vốn thực hiện của khu vực FDI đạt 3 tỷ USD, tăng 14,5% so với cùng
kỳ năm 2004, trong đó vốn pháp định chiếm khoảng 30% (bên Việt Nam góp
chiếm khoảng 10% vốn pháp định); doanh thu đạt koảng 20,2 tỷ USD tăng
26,6% so với cùng kỳ năm 2004, trong đó giá trị xuất khẩu (trừ dầu thô) đạt
định, không làm ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp FDI khi áp
dụng các Luật mới.
- Ban hành chính sách ưu đãi, khuyến khích mọi thành phần kinh tế,
nhất là kinh tế tư nhân và đầu tư nước ngoài đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng,
kinh doanh bất động sản đáp ứng nhu cầu và thực tế hội nhập kinh tế quốc tế.
- Bổ sung cơ chế, chính sách xử lý các vấn đề pháp lý liên quan đến
việc thực hiện các cam kết của nước ta trong lộ trình AFTA và các cam kết đa
phương và song phương trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là trong
mở cửa lĩnh vực dịch vụ (bưu chính viễn thông, vận chuyển hàng hoá, y tế,
giáo dục và đào tạo…)
- Đẩy mạnh việc đa dạng hoá hình thức đầu tư để khai thác các kênh
đầu tư mới như cho phép thành lập công ty hợp danh, ĐTNN theo hình thức
mua lại và sáp nhập (M&A)… Sớm ban hành Quy chế công ty quản lý vốn
(holding company) để điều hành chung các dự án. Tổng kết việc thực hiện thí
điểm cổ phần hoá các doanh nghiệp ĐTNN để nhân rộng.
* Về quản lý nhà nước trong hoạt động ĐTNN
- Đẩy mạnh việc triển khai phân cấp quản lý giữa Chính phủ và chính
quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; chú trọng vào công tác hướng
23
dẫn, kiểm tra, giám sát thực hiện việc thực hiện chính sách pháp luật của các
địa phương tránh tình trạng ban hành chính sách ưu đãi vượt khung; giảm dần
sự tham gia trực tiếp của cơ quan quản lý trung ương vào xử lý các vấn đề cụ
thể, trong đó nhiệm vụ giám định đầu tư và hậu kiểm được tăng cường; đào
tạo và bồi dưỡng cán bộ quản lý từ trung ương đến địa phương thông qua tổ
chức tập huấn, đào tạo ngắn hạn.
- Tiếp tục thực hiện nghiêm túc chỉ thị 13 của Thủ tướng Chính phủ,
trong đó có việc tiến hành đều đặn chương trình giao ban Vùng; duy trì, nâng
cao chất lượng các cuộc đối thoại với cộng đồng các nhà đầu tư, kịp thời giải
quyết các khó khăn vướng mắc trong hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư.
- Thực hiện có hiệu quả cơ chế một cửa và giải quyết kịp thời các vấn
Trong 6 tháng đầu năm, khối doanh nghiệp ĐTNN đã thu hút thêm hơn
10.000 lao động, đưa tổng số lao động trong khu vực FDI cho đến nay khoảng
1,067 triệu lao động.
Tuy nhiên trong 6 tháng đầu năm đã có 18 dự án bị rút giấy phép trước
thời hạn với tổng vốn đăng ký 65,3 triệu USD.
b) Thu hút vốn đầu tư
* Về cấp mới
Trong tháng 6/2006 cả nước có 58 dự án được cấp giấy phép đầu tư với
tổng vốn đầu tư đăng ký là 245 triệu USD. Tính chung, trong 6 tháng đầu năm
đã có thêm 339 dự án được cấp giấy phép với tổng vốn đầu tư đăng ký là 2,26
tỷ USD, tăng 5% về số dự án và tăng 21% về vốn đăng ký so với cùng kỳ
năm trước.
Các dự án cấp mới tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp và xây
dựng, chiếm 72,78% về số dự án và 62,7% tổng vốn đăng ký; nông - lâm -
ngư nghiệp chiếm 4,59% về số dự án và 0,55% tổng vốn đăng ký và ngành
dịch vụ chiếm 22,63% về số dự án và 36,74% tổng vốn đăng ký.
Thành phố Hồ Chí Minh do thu hút được một số dự án lớn, trong đó có
dự án Intel với vốn đầu tư 605 triệu USD, đã vươn lên đứng đầu trong cả
25