Đề tài: Thực trạng và giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống thông tin phục vụ cho việc ra quyết định trong quá trình quản lý kinh tế ở nước ta hiện nay - Pdf 19

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đề tài
Thực trạng và giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống
thông tin phục vụ cho việc ra quyết định trong quá
trình quản lý kinh tế ở nước ta hiện nay
- 1 -
MỤC LỤC
- 2 -
A/ LỜI MỞ ĐẦU
Trên thế giới hiện nay đang diễn ra một cuộc cách mạng về thông tin hết sức
sôi động.Trong xu thế phát triển của thế giới có sự đóng góp to lớn của thông
tin ,khoa học công nghệ.Để phát triển thì mỗi quốc gia đều cần có những
nguồn lực nhất định và thông tin ngày nay đã trở thành một trong những nguồn
lực thực sự của mỗi quốc gia ,mỗi tổ chức.Vì vậy xu hướng chung của xã hội
ngày nay là hướng vào một xã hội thông tin ,trong xã hội đó những giá trị vật
chất mà thông tin và tri thức đem lại chiếm một tỉ lệ lớn trong xã hội.Thông tin
là một nguồn lực quan trọng góp phần to lớn không chỉ trong công tác quản
lý,điều hành các hoạt động mà còn góp phần tạo ra các giá trị mới ,mà sự tăng
trưởng của một quốc gia lại phụ thuộc rất lớn vào những giá trị mới trong quốc
gia đó.Vì vậy thông tin được coi là một trong những loại tài sản quan trọng
nhất đối với bất kỳ tổ chức nào.
Đối với Việt Nam hiện nay thì một trong những khâu yếu kém nhất đó là
quá trình quản lý.Chính bởi sự quản lý còn yếu kém mà chúng ta không tận
dụng được các nguồn lực gây lãng phí nguồn lực cho phát triển ,đôi khi còn có
những quyết định sai lầm… Vì vậy trong bài viết này em đi sâu nghiên cứu về
vai trò của thông tin trong quá trình quản lý kinh tế đặc biệt là quá trình ra
quyết định.Tuy nhiên ,các thông tin phải được tổng hợp lại thành một hệ thống
thông tin tuỳ theo nội dung ,tính chất …của thông tin.Do đó trọng tâm nghiên
cứu ở đây là hệ thống thông tin phục vụ cho quá trình quản lý đặc biệt là ra
quyết định .Trong công cuộc đổi mới của đất nước hiện nay đòi hỏi một trình
độ quản lý ở mức cao hơn, hoàn thiện hơn và một trong những vấn đề ảnh

1.Thông Tin
1.1.Các khái niệm
1.1.1.Thông tin chung:
Thông tin là một khái niệm rộng và phổ biến liên quan đến tất cả các
hoạt động của con người như sản xuất ,kinh doanh,nghien cứu khoa học ,nghệ
thuật,chính trị…Vì vậy cũng có nhiều khái niệm về thông tin khác nhau vói
nhiều góc độ xem xét khác nhau:góc độ triết học ,góc độ tin học, điều khiển
học…
Từ nhiều góc độ trên ta có thể nêu nên một khái niệm về thông tin một
cách tổng quát : Thông tin là thông báo tin tức các dữ liệu phản ánh hiện thực
khách quan,là thuộc tính đặc biệt của vật chất.Nó có thể được truyền đạt xử lý
phục vụ các hoạt động lý luận và thực tiễn của con người.
Thông tin luôn phản ánh mối liên hệ qua lại lẫn nhau giữa người gửi tin
với người nhận tin hoặc người sử dụng tin.
1.1.2.Thông tin kinh tế
a. Thông tin kinh tế
-là những tín hiệu mới , được thu nhận , được cảm thụ,và được đánh giá
là có ích cho việc ra quyết định hoặc giải quyết một nhiệm vụ nào đó trong
quản lý kinh tế.
Thông tin kinh tế là hoạt động thông tin gắn liền với hoạt động kinh tế,
xuất phát từ nhu cầu kinh tế và phục vụ cho kinh tế,nó lấy đối tượng phục vụ
là sự vận hành kinh tế .
1.1.3.Thông tin quản lý kinh tế:
a. Thông tin quản lý kinh tế
- 5 -
Thông tin quản lý kinh tế là những tin tức sự kiện liên quan đến hoạt
động quản lý kinh tế ở cả tầm vĩ mô và vi mô.
Ở tầm vi mô : để ra được quyết định kinh doanh người quản lý phải
được thông tin về nhu cầu ,giá cả hàng hoá ,về công nghệ ,tài chính ,chính sách
của chính phủ…

hệ.
Hàng ngày người quản lý thường tiếp nhận rất nhiều thông tin từ nhiều
nguồn khác nhau.Với số lượng lớn như vậy thì mỗi người mỗi doanh nghiệp
đều có thể trở thành một trung tâm thu và phát tin.Vì vậy những thông tin này
cần được tổng hợp lại sao cho ngắn gọn hơn nhưng vẫn chứa đựng đầy đủ
những nội dung cần thiết cho việc ra quyết định.Những thông tin này cũng có
những mối quan hệ tưong đối với nhau chẳng hạn như thông tin về sản phẩm
của doanh nghiệp với thông tin về sản phẩm của đối thủ cạnh tranh,hay thông
tin của nhà quản lý cho cấp dưới với thông tin về đối tượng quản lý.Như vậy
ngoài việc tổng hợp lại thông tin nhà quản lý còn phải nắm bắt mối quan hệ
trong các thông tin đó để giải quyết các mối quan hệ ấy.
1.2.3.Thông tin phản ánh trật tự và phẩm cấp của quản lý kinh tế.
Trong cơ cấu của mỗi tổ chức nhất định có thể hình thành nhiều bậc
quản lý vì người lãnh đạo cao nhất không thể bao quát toàn bộ công việc của
tổ chức đặc biệt là những tổ chức có quy mô lớn.Ở mỗi cấp quản lý như vậy
thì đều có luồng thông tin riêng của mình,các luồng thông tin này được trải
theo các kênh tổ chức của hệ thống ,nêu rõ cấp độ quyền hạn của từng cấp.Đối
với người lãnh đạo của hệ thống ,các thông tin đều được quy tụ tập trung giúp
cho người lãnh đạo có tầm nhìn chiến lược so với các nhà quản lý ở các cấp
phân hệ.
Tuy nhiên mức độ tổng hợp thông tin cao hay thấp còn phụ thuộc vào
loại thông tin và quy trình quản lý.Chẳng hạn để thực hiện chức năng hoạch
định trong quy trình quản lý ,doanh nghiệp cần có thông tin nội bộ và các
thông tin từ môi trường bên ngoài ,trong đó các thông tin về môi trường bên
- 7 -
ngoài chiếm tỉ lệ cao hơn.Nhưng để thực hiện chức năng kiểm tra ,lại chủ yếu
cần các thông tin nội bộ bên trong.Ta có thể thấy được mối quan hệ giữa các
cấp quản lý và các loại thông tin cần thiết được biểu diễn dưới dạng sơ đồ sau:
Cao
Trung bình

trước mắt và lợi ích vụn vặt dần dân trở thành tư duy có ý thức ,mang tính tự
giác tính khoa học.
Thông tin kinh tế giúp con người từ chỗ nhận thức thế giới lợi ích và xã
hội tiến tới nhận thức mối quan hệ lợi ích giữa cá thể với cộng đồng,đồng thời
nó cung cấp nhũng kiến thức cho các đối tượng tham gia vào quá trình kinh
tế ,giúp họ hiểu biết được mục đích ,phương pháp ,đối tượng khai thác các lợi
ích.
2.Quyết định quản lý kinh tế :
Quản lý kinh tế là nhằm đạt tới mục tiêu chung của mỗi một tổ
chức.trong quá trình quản lý kinh tế đó các nhà quản lý phải đưa ra các quyết
định giữa rất nhiều phương án được đề ra nhằm đi tới mục tiêu một cách tối ưu
nhất.Sự thành công của các nhà quản lý và của chính các tổ chức phụ thuộc rất
nhiều vào các quyết định mà họ đưa ra.Trong quá trình ra quyết định cung
chứa đụng rất nhiều rủi ro do các yếu tố thường xuyên biến động vì vậy nhà
quản lý phải là người dám chấp nhận rủi ro và dám chịu trách nhiệm về quyết
định của mình.
2.1.Khái niệm quyết định quản lý kinh tế:
Trước khi xem xét quyết định quản lý kinh tế ta cần xét xem thế nào là
quyết định: quyết định là quá trình xác định lựa chọn và thực hiện những
phưong thức hoạt động nhằm giải quyết một vấn đề nhất định.
Quyết định quản lý kinh tế là hành vi sáng tạo với tư cách là sản phẩm
lao động của chủ thể quản lý nhằm định ra mục tiêu ,chương trình và tính chất
hoạt động của người hay cấp phải thực hiện quyết định đó.Như vậy quyết định
quản lý kinh tế là các chỉ thị mệnh lệnh của chủ thể quản lý nhằm tổ chức định
hướng và kích thích các hoạt động kinh tế của đối tượng quản lý để thực hiện
mục tiêu của tổ chức
- 9 -
Mỗi quyết định quản lý nhằm trả lời một hoặc một số câu hỏi sau: Tổ
chức cần làm gì ? Khi nào làm cái đó ? Làm trong bao lâu ?Ai làm ? Và làm
như thế nào ?

lựa chọn tức tiết kiệm nguồn lực nhất.Khi ra quyết định về sản phẩm sản xuất
cần dựa vào nguồn lực của công ty để quyết định sử dụng dây chuyền công
nghệ nào , nguyên vật liệu từ nguồn nào để đảm bảo lợi nhuận của doang
nghiệp đạt được mức đề ra.Như vậy chức năng đảm bảo nguồn lực cuả các
quyết định quản lý đòi hỏi khi đưa ra các quyết định ,các nhà quản lý cần xác
định rõ nguồn lực vật chất để thực hiện quyết định.
2.2.3.Chức năng phối hợp
Đối với quản lý ,một quyết định đưa ra phải nhằm một mục tiêu tổng
thể chung của cả hệ thống thông việc thực hiện các mục tiêu bộ phận.Như vậy
các bộ phận của tổ chức không chỉ quan tâm đến mục tiêu riêng của bộ phận
mình mà phải xem xét đóng góp của mục tiêu riêng đó vào mục tiêu chung
như thế nào.Vì vậy quyết định phải thực hiện chức năng phối kết hợp .Chức
năng này thực hiện trong quá trình đưa ra quyết định có sự phối kết hợp của
các bộ phận và cá nhân có liên quan đến quyết định,bao gồm cả bộ phận quản
lý và bộ phận bị quản lý ,đặc biệt giữa các bộ phận quản lý.Thực hiện chức
năng này nhằm tránh sự chồng chéo , mâu thuẫn giữa các quyết định trong tổ
chức hay bỏ xót một trong những nhiệm vụ cần làm.
2.2.4.Chức năng động viên cưỡng bức:
Các quyết định mà nhà quản lý đưa ra đều phải có các cấp dưới thực
hiện , quyết định được ban hành phải được coi như một mệnh lệnh hành chính
mang tính bắt buộc mà cấp dưới phải có trách nhiệm thực hiện.Tính bắt buộc
thể hiện ở việc ai vi phạm hoặc không hoàn thành tốt nhiệm vụ sẽ bị xử lý
nghiêm khắc.Tuy nhiên cũng cần phải động viên họ để họ làm việc hăng say
hơn sáng tạo hơn và đạt hiệu quả cao hơn do nhiều khi sự cưỡng bức làm việc
sẽ lam triệt tiêu sáng tạo của họ.
- 11 -
2.2.5.Chức năng bảo mật:
Các quyết định quản lý quan trọng cần được đảm bảo bí mật trong một
phạm vi nhất định như chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp , chiến lược
sản phẩm mới …Khi các thông tin quyết định bị rò rỉ hay bị đối thủ cạnh tranh

doanh nghiệp phải thu thập các thông tin có liên quan.Vì mục tiêu luôn gắn vói
nhũng điều kiện cụ thể và mục tiêu có thể thay đổi theo thời gian khi mà điều
kiện thay đổi.
II/ VAI TRÒ CỦA THÔNG TIN
1.Vai trò của thông tin nói chung.
Con người biết được môi trường xung quanh , đi sâu vào thế giới vật
chất và hiện tượng ,nắm bắt kiến thức … là nhờ có thông tin.Thông tin đóng
vai trò tổ chức và phát triển xã hội.
1.1.Thông tin có vai trò quan trọng trong việc hình thành nhận thức xã
hội và lập trường chính trị.
Thông tin là phương thức quan trọng để nhà nước thực hiện chức năng
quản lý xã hội . Xã hội thông tin là xu thế phát triển của thời đại hiện nay.Xu
thế sử dụng thông tin như một ngồn lực quan trọng ngày càng được khẳng
định.Trong đời sống chính trị , thông tin chính trị - xã hội phục vụ trực tiếp cho
công tác chính trị tư tưởng mọi cấp mọi ngành . Thông tin chính trị là công cụ
hàng đầu của một đảng cầm quyền . Đó chính là việc thực hiện mục đích chính
trị tư tưởng và tuyên truyền chính sáng của đảng cầm quyền .
1.2.Thông tin giữ vai trò quan trọng trong công tác lãnh đạo và quản lý.
Hiệu quả quản lý phụ thuộc vào chất lượng các quyết định mà chất
lượng các quyết định lại phụ thuộc vào sự đầy đủ và chất lượng của thông
tin .Cho nên không có thông tin đúng đắn thì không thể có quá trình quản lý
nào hiệu quả được.Chỉ có nhũng tin tức được chủ thể quản lý nhận thức như là
kiến thức có ích cho chủ thể quản lý mới là thông tin quản lý.
- 13 -
1.3.Thông tin giữ vai trò quan trọng trong công tác giáo dục và đào tạo.
Các hoạt động đào tạo giảng dạy học tập , nghiên cứu … luôn luôn cần
đến sự hỗ trợ đắc lực của công tác thông tin ,thông qua hàng loạt các loại hình
thu thập ,xử lý ,lưu trữ và phổ biến thông tin.Con người có thể tiếp thu được
những tinh hoa của nhân loại từ thế hệ này sang thế hệ khác , từ nơi này đến
nơi khác là nhờ có thông tin ,dù ở bất cứ hình thức nào.


2.2.Thông tin là công cụ của các quyết định
Thông tin là căn cứ để tiến hành xây dựng chiến lược của hệ thống.
Trong quá trình xác định các chỉ tiêu chiến lược, cần thiết tiến hành các tính
toán dựa trên những thông tin xác thực về cơ sở vật chất , vật tư , tiền vốn, và
sự kêt hợp tôi ưu giữa các nguồn lực từ đó đưa ra được quyết định phù hợp.
Thông tin là công cụ để kiểm tra tính đúng đắn của quyết định.Mỗi
quyết định sẽ cho ra những kết quả và những kết quả đó lại đựơc đưa đến chủ
thể quản lý dưới dạng thông tin phản hồi.
Vai trò công cụ cho các quyết định của thông tin đựợc thể hiện ở chỗ
bản thân các quyết định được đưa ra chính là những thông tin thể hiện ở việc
phân phát các quyết định cho cấp dưới đồng thời kiểm tra hoạt động của họ.
Một quyết định sẽ không được thực thi nếu như nó không được thông tin đến
các cấp dưới để họ thực hiện quyết định.
2.3. Đánh giá quyết định khi nó đã được thực thi nhờ hệ thống thông tin
phản hồi.
Chủ thể quản lý muốn tác động lên đối tượng bị quản lý thì phải đưa ra
các thông tin ( mệnh lệnh , chỉ thị ,nghị quyết ,quyết định…),đó chính là thông
tin điều khiển.Tuy nhiên nhà quản lý không phải là người chỉ phát tin là các
quyết định đi cho các cấp dưới mà họ còn phải tiếp nhận thông tin phản hồi lại
từ hệ thống nhằm đánh giá không phải chỉ hoạt động của tổ chức mà còn để
- 15 -
chủ thể
quản lý
đối tượng
quản lý
đánh giá hoạt động ra quyết định của chính nhà quản lý.Nếu quyết định đó
không con phù hợp hoặc không phải là phương án tối ưu nhất nhà quản lý phải
điều chỉnh quyết định đó sao cho phù hợp với tinh hình hiện tại.Vì Thông tin
có thể thay đổi rất nhanh chóng theo thời gian việc sử dụng những thông tin cũ

hình hoạt động khác nhau đều được vận hành và có quan hệ với bên ngoài
nhờ vào bộ máy và cơ chế quản lý kinh tế riêng của nó.Hệ thống thông tin
của các doanh nghiệp không chỉ giúp cho những người quản lý doanh nghiệp
kiểm soát được các hoạt động kinh tế bên trong cũng như tác động bên ngoài
trong quá trình đề ra và tổ chức thực hiện các quyết định kinh tế để đạt được
mục tiêu của doanh nghiệp.
Trong nên kinh tế thị trường nước ta hiện nay nhà nước không còn làm
thay cho doanh nghiệp trong việc giải quyết các vấn đề cơ bản của nó.Sự tồn
tại và phát triển của doanh nghiệp phụ thuộc vào quyết định ,khả năng tổ
chức thực hiện các hoạt động sản xuất của nó.Vì vậy đòi hỏi doanh nghiệp
phải tự tìm kiếm thông tin tự ra quyết định và tự chịu trách nhiệm về quyết
định của mình.Đòi hỏi doanh nghiệp phải có một hệ thống thông tin riêng của
mình.Hệ thống thông tin này phải đáp ứng được nhu cầu thông tin mới của
doanh nghiệp do thị trường thường tồn tại nhiều bất ổn.
1.2.Hệ thống thông tin thị trưòng.
Hệ thống thông tin thị trường hình thành và phát triển do nhu cầu thông
tin của xã hội ngày càng gia tăng.Hệ thống thông tin thị trường liên quan đến
các tổ chức thực hiện các quá trình tổ chức thực hiện các quá trình thu thập
,xử lý cung cấp các thông tin kinh tế phục vụ cho nhu cầu thông tin của nền
kinh tế.Sự hình thành và phát triển của hệ thống thông tin thị trường đã tạo ra
các mối quan hệ thông tin mới trong nền kinh tế.Đó là các quan hệ thị truờng
về thông tin(cung-cầu ,giá cả ,cạnh tranh…)
Hệ thống thông tin thị trưòng cũng có mối liên hệ chặt chẽ với các hệ
thống thông tin của chính phủ của doanh nghiệp.Nó bổ xung hỗ trợ cho khả
- 17 -
năng thông tin của các hệ thông đó và tạo thành một mạng lưới thống nhất
trong nền kinh tế.hệ thống thông tin thị trưòng còn có mối quan hệ mật thiết
với các hệ thông thị trưòng khác và tham gia vào các hoạt động kinh tế thị
trường.
1.3.Hệ thống thông tin kinh tế của chính phủ.

Một sự kiện lớn đối với Việt Nam vừa qua đó là việc trở thành thành
viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO.Khi ra nhập WTO thì một
trong những điều lệ cơ bản của nó là thông tin, được thể hiện ở một số điểm
như WTO đề ra các điều luật và nhiệm vụ của các thành viên là phải nắm vững
các điều lệ khi ra nhập(quá trình nắm bắt thông tin).Nếu xét WTO là một chủ
thể quản lý còn Việt Nam là đối tượng bị quản lý thì WTO quy định cho các
thành viên của mình phải làm một số nhiệm vụ gì(thông tin quyết định) và Việt
Nam phải có các báo cáo định kỳ về từng lĩnh vực(thông tin phản hồi).Đây
chính là một quá trình thông tin.Như vậy thông tin là điều kiện tất yếu trong
nội bộ một nước.Không chỉ có chính phủ là người phải hiểu biết các luật lệ của
WTO mà các doanh nghiệp cũng phải nắm rõ thông tin khi doang nghiệp làm
ăn với các đối tác nứơc ngoài.Thực tế cho thấy thời gian vừa qua chính vì
không có thông tin về các nền kinh tế trên thế giới mà nền kinh tế Việt Nam
phải chịu nhiều tổn thất như : Chúng ta không tìm hiểu kỹ về giá cả thị trưòng
gạo,do đó không có nhũng dự báo về giá cả và chúng ta đã bán gạo cho trung
quốc với giá rẻ nhưng ngay sau đó thì giá gạo trên thế giới tăng cao và chúng
ta bị tổn thất nặng.Hay việc chung ta bị mỹ kiện về bán phá giá một số mặt
hàng(thuỷ sản ,may măc ) do không nắm được luật chống bán phá giá của
Mỹ.Đây chỉ là một trong những bất cập về hệ thống thông tin của nước ta.Để
đánh giá đúng được thực trạng hệ thống thông tin kinh tế của nước ta hiện nay
cần xem xét cả nhũng ưu điểm và nhược điểm trong hệ thống thông tin kinh tế.
2.1.Những ưu điểm trong hệ thống thông tin kinh tế
- 19 -
Trước hết,ta xem xét nhũng ưu điểm của hệ thống thông tin kinh tế có
những ưu điểm sau:
Thứ nhất:Thông tin được cung cấp đầy đủ kịp thời và chính xác hơn nhờ
việc có thêm nhiều công cụ để thu thập hay xử lý …thông tin nhờ đó chất
lượng thông tin được nâng lên một phần ,đã giúp cho các các cấp quản lý kinh
tế ra được những quyết định kịp thời với nhũng bất ổn của nền kinh tế,góp
phần ổn định sản xuất kinh doanh.Ngoài ra ,các hoạt động thông tin đa dạng

cấp, các bộ phận như hệ thống thông tin kinh tế của ngành ngân hàng , hàng
không , ngành bưu chính viễn thông ….
Thứ tư: Về phía các doanh nghiệp thì nhìn chung hệ thống thông tin
kinh tế nội bộ của doanh nghiệp đã có nhiều đổi mới và tiến bộ.Các thông tin
có tính định hướng kinh tế theo các chương trình , mục tiêu của nhà nước hoặc
cấp trên giúp cho các cán bộ quản lý hoạch định chiến lược ,các kế hoạch phát
triển kinh tế trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp.Nhờ tính định
hướng kinh tế của các thông tin mà khi đề ra mục tiêu của doanh nghiệp mình
các doanh nghiệp phải căn cứ vào mục tiêu chung của đất nước , mục tiêu đó
của doanh nghiệp phải nhằm góp phần thực hiện mục tiêu của đất nước hay ít
nhất mục tiêu đó không làm tổn hại đến mục tiêu chung của đất nước.Như vậy
tránh tình trạng doanh nghiệp quá chạy theo mục tiêu , mục đích của minh mà
bất chấp mọi quy định của nhà nước.
Thứ năm : Về phía nhà nước thì nhà nước đã ban hành và cải cách một
số quy chế ,luật lệ hoạt động của các bộ phận trong hệ thống thông tin để phù
hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường, nhất là trong hệ thống thông tin
của chính phủ và doanh nghiệp.Để nâng cao khả năng thông tin của đất nước
thì nhà nước đã đầu tư hoặc khuyến khích đầu tư vào những ngành về công
nghệ thông tin.Trong xu thế hội nhập và mở cửa hiện nay không chỉ có các
doanh nghiệp mới sử dụng thông tin như một công cụ để nâng cao khả năng
của doanh nhgiệp mà các nhà nước các chính phủ cũng sử dụng thông tin
nhằm năng cao năng lực cạnh tranh quốc gia khi quan hệ thương mại với các
- 21 -
nước trên thế giới .Hệ thống thông tin của chính phủ ngày càng được nâng cấp
nó không chỉ phục vụ cho công tác quản lý vĩ mô của nhà nước mà còn hỗ trợ ,
kết nối với thông tin thị trưòng và hệ thống thông tin doanh nghiệp , tạo ra mối
quan hệ chặt chẽ giữa các hệ thống thông tin này.
2.2. Những nhược điểm của hệ thống thông tin kinh tế của nước ta
Tuy hệ thống thông tin kinh tế của nước ta đã đạt được nhiều tiến bộ so
với thời kỳ trước .Song nó vẫn tồn tại nhiều hạn chế gây ảnh hưởng khá lớn

bán gạo cho Trung Quốc trong năm 2006.Do không nắm bắt được , không tìm
hiểu kỹ lưỡng về xu hướng vận động của giá cả mà Việt Nam đã ký hợp đồng
bán gạo rất lớn cho Trung Quốc với một mức giá hiện tại là thấp nhưng đến lúc
giao hàng cho bên bạn giá gạo lúc đó đã tăng rất nhanh và cao.Vì vậy Việt
Nam đã chịu một tổn thất rất lớn do đầu vào của sản xuất gạo thì cao mà giá
bán gạo ra lại thấp.Về phía Trung Quốc do có được thông tin về giá cả này mà
đã ký một hợp đồng rất lớn ,và lợi nhuận rất cao.
Hạn chế tiếp theo của hệ thống thông tin kinh tế của nước ta là thuộc về
yếu tố con người.Phương tiện, thiết bị để thông tin và nắm bắt thông tin mặc
dù đã đa dạng hơn so với thời kỳ trước và còn được tiếp cận với công nghệ
hiện đại (mặc dù vẫn đi sau các nước trong khu vực và thế giới ) nhưng nguồn
nhân lực làm nhiệm vụ thu thập, đánh giá, xử lý thông tin lại chưa tận dụng
đựơc những trang thiết bị này.Hạn chế của con ngưòi về mặt thông tin chủ yếu
do các nguyên nhân sau : Trình độ của con người trong việc thu thập và xử lý
thông tin, nguyên nhân thuộc về đạo đức ,khả năng tiếp nhận thông tin.Ta có
thể xem xét từng nguyên nhân để thấy rõ thực trạng về nguồn nhân lực của vấn
đề thông tin:
Trong các nguyên nhân thì nguyên nhân chủ yếu là do trình độ chuyên
môn về những lĩnh vực cần thông tin của đội ngũ nhân lực này còn thấp.Vì vậy
thông tin thường tồn tại ở dạng thông tin thô chưa được xử lý hay xử lý nhưng
không đáp ứng được so với yêu cầu.Ngay cả việc phát hiện ra thông tin thô có
lúc cũng là một khó khăn vì thông tin tồn tại một cách vô hình nó chỉ được
- 23 -
biểu hiện thông qua các phương tiện của nó.Tuy nhiên đôi khi thông tin không
được thể hiện rõ ràng cụ thể nó có thể ẩn đi hoặc biểu hiện dưới một hình thái
thông tin của sự việc hiện tượng khác.Vì vậy đòi hỏi người thu thập cũng phải
có một trình độ nhất định mới phát hiện được ra thông tin đó có liên quan đến
sự việc hiện tượng mình nghiên cứu nếu không sẽ bỏ xót thông tin.Đối với nhà
nước ta khi đầu tư vào trang thiết bị phương tiện thông tin đã không chú ý đến
việc đào tạo con người để có trình độ tương xứng với trình độ công nghệ tăng

Hạn chế tiếp là thông tin thiếu chính xác không đảm bảo độ tin cậy và
tính hữu ích.Thông tin được lấy hoặc được cung cấp từ những nguồn thiếu tin
cậy.Ngay cả báo chí một trong những kênh thông tin quan trọng nhất ,một
nguồn thông tin đáng tin cậy tuy nhiên ở Việt Nam lại tồn tại một thực trạng
đó là việc báo chí đưa những thông tin sai ,chưa chính xác về một số hiện
tượng sự kiện.Một nghịch lý nữa là mặc dù thông tin lúc đầu là sai và có thể
được đính chính lại nhưng uy tín của những tờ báo này vẫn không chịu chút
thiệt hại nào.Sở dĩ như vậy là vì dư luận xã hội đối với việc tờ báo đó đã từng
đưa thông tin sai là hầu như không có phản ứng, ngưòi đọc đã quá rễ rãi trong
việc tiếp nhận thông tin.Vì vậy hiện tượng này vẫn có thể lặp đi lặp lại vài lần
mà ít có sự sửa chữa khuyết điểm của một số tờ báo.Nguyên nhân của việc đưa
thông tin sai thì có nguyên nhân chủ yếu như: do đạo đức của người viết
báo.Vì một số lợi ích vật chất nhất định mà họ đựoc hưởng khi đưa ra những
thông tin có lợi về một số đối tượng nào đó mặc dù thông tin đó không đúng
sự thật. hoặc có nguyên nhân khác như khi có thông tin báo chí không xác
minh tính chính xác của nó đã cho đăng bài và khi có những thông tin thể hiện
rõ rthông tin trước là sai thì mới đính chính.Ngoài ra thông tin không đảm bảo
chất lượng cũng có thể bắt nguồn từ sự yếu kém của phương tiện được trang bị
:những hình ảnh không rõ nét ,những âm thanh bị nhiễu khó nghe …làm cho
người tiếp nhận thông tin khó khăn trong việc tiếp nhận và xử lý.Để xử lý
được những thông tin này đòi hỏi một lượng chi phí tăng lên về thời gian ,
kinh phí ,nhân lực cho việc lọc thông tin nhiễu.Về tính hữu ích của thông tin
- 25 -


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status