QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ HÀ NỘI pot - Pdf 20

TIỂU LUẬN QUY HOẠCH
Câu 1: Kể tên và nêu nôi dung các loại
hình đồ án quy hoạch đô thị Việt Nam
Lo¹i1. Đồ án quy hoạch chung thành phố trực thuộc trung ương
1. Nội dung đồ án quy hoạch chung thành phố trực thuộc trung ương bao gồm việc
xác định mục tiêu, động lực phát triển, quy mô dân số, đất đai, chỉ tiêu cơ bản về
hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật của đô thị; mô hình phát triển, cấu trúc phát triển
không gian nội thị và khu vực ngoại thị, kể cả không gian ngầm; định hướng hệ
thống các công trình hạ tầng kỹ thuật khung; đánh giá môi trường chiến lược;
chương trình ưu tiên đầu tư và nguồn lực thực hiện.
2. Bản vẽ của đồ án quy hoạch chung thành phố trực thuộc trung ương được thể
hiện theo tỷ lệ 1/25.000 hoặc 1/50.000. Đồ án quy hoạch phải thể hiện rõ khu vực
nội thị và các khu vực dự kiến phát triển.
3. Thời hạn quy hoạch đối với quy hoạch chung thành phố trực thuộc trung ương
từ 20 đến 25 năm, tầm nhìn đến 50 năm.
4. Đồ án quy hoạch chung thành phố trực thuộc trung ương đã được phê duyệt là
cơ sở để lập quy hoạch chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật đô thị và quy hoạch phân
khu trong đô thị.

Đồ đồ án quy hoạch chung đô thị đối với thành phố trực thuộc Trung Ương(TÂY HỒ TÂY)
TIỂU LUẬN QUY HOẠCH
Lo¹i2. Đồ án quy hoạch chung thành phố thuộc tỉnh, thị xã
1. Nội dung đồ án quy hoạch chung thành phố thuộc tỉnh, thị xã bao gồm việc xác
định mục tiêu, động lực phát triển, quy mô dân số, đất đai, chỉ tiêu về hạ tầng xã
hội, hạ tầng kỹ thuật; mô hình phát triển, định hướng phát triển không gian nội thị
và khu vực ngoại thị, trung tâm chính trị - hành chính, dịch vụ, thương mại, văn
hoá, giáo dục, đào tạo, y tế, công viên cây xanh, thể dục, thể thao cấp đô thị; quy
hoạch hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật khung trên mặt đất, trên cao và ngầm
dưới đất; đánh giá môi trường chiến lược; kế hoạch ưu tiên đầu tư và nguồn lực
thực hiện.
2. Bản vẽ của đồ án quy hoạch chung thành phố thuộc tỉnh, thị xã được thể hiện

3. Thời hạn quy hoạch đối với quy hoạch chung đô thị mới từ 20 đến 25 năm.
4. Đồ án quy hoạch chung đô thị mới đã được phê duyệt là cơ sở để lập quy hoạch
phân khu, quy hoạch chi tiết các khu vực và lập dự án đầu tư hạ tầng kỹ thuật
khung trong đô thị mới.
Đồ án Quy hoạch chi tiết khu đô thị mới Tây Nam Hà Nội
Lo¹i5. Đồ án quy hoạch phân khu
1. Nội dung đồ án quy hoạch phân khu bao gồm việc xác định chức năng sử dụng
cho từng khu đất; nguyên tắc tổ chức không gian, kiến trúc cảnh quan cho toàn khu
vực lập quy hoạch; chỉ tiêu về dân số, sử dụng đất, hạ tầng kỹ thuật đối với từng ô
phố; bố trí công trình hạ tầng xã hội phù hợp với nhu cầu sử dụng; bố trí mạng lưới
các công trình hạ tầng kỹ thuật đến các trục đường phố phù hợp với các giai đoạn
phát triển của toàn đô thị; đánh giá môi trường chiến lược.
2. Bản vẽ của đồ án quy hoạch phân khu được thể hiện theo tỷ lệ 1/5.000 hoặc
1/2.000.
3. Thời hạn quy hoạch đối với quy hoạch phân khu được xác định trên cơ sở thời
hạn quy hoạch chung và yêu cầu quản lý, phát triển đô thị.
4. Đồ án quy hoạch phân khu đã được phê duyệt là cơ sở để xác định các dự án đầu
tư xây dựng trong đô thị và lập quy hoạch chi tiết.
TIỂU LUẬN QUY HOẠCH
Đồ án quy hoạch phân khu
Loai6. Đồ án quy hoạch chi tiết
1. Nội dung đồ án quy hoạch chi tiết bao gồm việc xác định chỉ tiêu về dân số, hạ
tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật và yêu cầu tổ chức không gian, kiến trúc cho toàn khu
vực quy hoạch; bố trí công trình hạ tầng xã hội phù hợp với nhu cầu sử dụng; chỉ
tiêu sử dụng đất và yêu cầu về kiến trúc công trình đối với từng lô đất; bố trí mạng
lưới các công trình hạ tầng kỹ thuật đến ranh giới lô đất; đánh giá môi trường chiến
lược.
2. Bản vẽ của đồ án quy hoạch chi tiết được thể hiện theo tỷ lệ 1/500.
3. Thời hạn quy hoạch đối với các quy hoạch chi tiết được xác định trên cơ sở thời
hạn quy hoạch phân khu và theo yêu cầu quản lý, nhu cầu đầu tư.

là đường giới hạn cho phép xây dựng công trình trên lô đất.
Chỉ giới đường đỏ
là đường ranh giới được xác định trên bản đồ quy hoạch và thực địa,
để phân định ranh giới giữa phần đất được xây dựng công trình và phần đất được dành
cho đường giao thông hoặc các công trình hạ tầng kỹ thuật, không gian công cộng
khác.
MẬT ĐỘ XÂY DỰNG
Chúng ta cứ nhắc đến văn bản xây dựng là thường nhắc đến mật độ xây dựng nhưng
chúng ta phải hiểu được mật độ xây dựng là gì đã :
Có hai cách định nghĩa mật độ xây dựng :
a)Mật độ xây dựng thuần (net-tô) là tỷ lệ diện tích chiếm đất của các công trình kiến
trúc xây dựng trên tổng diện tích lô đất (không bao gồm diện tích chiếm đất của các
công trình như: các tiểu cảnh trang trí, bể bơi, sân thể thao ngòai trời (trừ sân ten-nit
và sân thể thao được xây dựng cố định và chiếm khối tích không gian trên mặt đất),
TIỂU LUẬN QUY HOẠCH
bể cảnh…).
b)Mật độ xây dựng gộp (brut-tô) của một khu vực đô thị là tỷ lệ diện tích chiếm đất
của các công trình kiến trúc trên tổng diện tích toàn khu đất (diện tích toàn khu đất
bao gồm cả sân đường, các khu cây xanh, không gian mở và các khu vực không xây
dựng công trình trong khu đất đó)
HỆ SỐ SỬ DỤNG ĐẤT
Hệ số sử dụng đất là tỷ lệ giữa tổng diện tích sàn toàn công trình (m2 không bao gồm
diện tích sàn của tầng hầm, tầng mái) với diện tích toàn bộ lô đất (m2)
Hệ số sử dụng đất: 5,0. – Tổng diện
tích sàn xây dựng: 50.480 m
CHIÊU CAO CÔNG TRÌNH
Chiều cao công trình xây dựng được quy định tại mục 1.3.8 của Quy chuẩn QCVN 03:
2009/BXD. “Chiều cao công trình tính từ cốt mặt đất đặt công trình theo quy hoạch
được duyệt tới điểm cao nhất của công trình, kể cả mái tum hoặc mái dốc”
Câu 2: NÊU VÀ PHÂN TÍCH MỘT VẤN ĐỀ ĐÔ THỊ Ở HÀ NỘI

/người; về chất lượng nhà ở, có tới 60% nhà ở cần cải tạo nâng cấp
cả ngôi nhà và tiện nghi. Ước tính đến năm 2010, 80 dự án xây dựng nhà tái định cư
của Thành phố dù được hoàn thành với tổng số 29.400 căn hộ, thì Thành phố vẫn
TIỂU LUẬN QUY HOẠCH
thiếu tới 13.000 căn hộ. Theo ước tính của nhiều nguồn khác nhau thì Hà Nội đang
thiếu nhà một cách trầm trọng, đặc biệt là nhà ở cho người thu nhập thấp. Do vậy em
quyết định lựa chọn đề tài: “ Một số kiến nghị về việc giải quyết nhà ở
cho người thu nhập thấp trên địa bàn thành phố Hà Nội” cho bài
tiểu luận cuối kì này.
Hi vọng sẽ đóng góp một phần vào việc giải quyết vấn đề bức xúc về nhà ở
cho người thu nhập thấp ở Hà Nội.
I: Cơ sở khoa học của việc giải quyết nhà ở cho người thu nhập thấp .
Xu thế chung của thế giới là tăng trưởng kinh tế gắn liền với phát triển đô thị. Tăng
trưởng kinh tế thường kéo theo tình trạng phân hóa giàu nghèo và các vấn đề nan giải
bức xúc về công bằng và tiến bộ xã hội. Hà Nội cũng không ngoài quy luật đó. Để
giải quyết bất bình đẳng bao gồm nhiều lĩnh vực trong đó có nhà ở, chính quyền Hà
Nội đã có nhiều quan tâm đến giải quyết nhà ở cho học sinh, sinh viên các trường Đại
học, Cao đẳng, dạy nghề, đã thí điểm xây dựng nhà ở cho công nhân các khu công
nghiệp và là một trong những đô thị đầu tiên của cả nước giải quyết nhà ở cho người
thu nhập thấp.
Đã có những kết quả đáng kể song cũng còn không ít tồn tại. Sự gia tăng dân số, quá
trình đô thị hoá và công nghiệp hoá đang diễn ra nhanh chóng cũng như sức ép của quá
trình di dân từ nông thôn ra thành phố đã khiến cho vấn đề nhà ở tại đô thị trở thành một
trong những vấn đề cấp bách nhất của Việt
Nam.
Chính sách đổi mới đã dẫn đến sự chấm dứt
các hình thức nhà ở bao cấp của nhà nước và
sự chuyển đổi nhanh chóng sang xây dựng
nhà ở tư nhân. Ngày nay, những người muốn
có một ngôi nhà mới sẽ phải tìm mua trên thị

56 dự án lớn và 140 dự án
nhỏ trên khắp trong và
xung quanh thành phố.
Theo ước tính, đến năm
2010, các dự án khu đô thị
mới sẽ tạo thêm hơn 10
triệu mét vuông cho quỹ
nhà Hà Nội. Đây là một
con số lớn nếu chúng ta biết rằng hiện nay chỉ có khoảng 20% dân số Hà Nội có đủ điều
kiện tài chính để mua những căn nhà này. Thêm 10% được nhà nước ưu đãi khi mua nhà,
đó là những người có đóng góp cho sự nghiệp xây dựng tổ quốc hoặc là những người có
hoàn cảnh thiệt thòi nhất.
Mặc dù cái gọi là “tầng lớp trung lưu” đang xuất hiện một cách nhanh chóng, nhưng vẫn
còn khoảng 70% dân số thành phố không thể mua nổi nhà riêng hoặc nhà căn hộ bởi thu
nhập của họ rất thấp. Mặc dù theo Ban Quản lý Phát triển Nhà ở Hà Nội, khoảng 440.000
mét vuông sử dụng sẽ được dành cho những người có thu nhập thấp từ các dự án đô thị
mới trong giai đoạn 2001-2005, nhưng lại không đề cập cụ thể đến khả năng tài chính của
những người này, nên không biết họ có điều kiện để mua được nhà hay không.
Khó kiểm soát thu nhập
Trên lý thuyết, khoảng 20% quỹ nhà do các doanh nghiệp nhà nước như HUD đầu tư xây
dựng sẽ được bán với mức giá ưu tiên cho những người tái định cư hoặc các hộ gia đình
có thu nhập thấp. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng còn tồn tại ở đây là làm thế nào để xác
định chính xác thu nhập của từng hộ gia đình. Ở Việt Nam, nhiều người ngoài công việc
chính còn làm thêm 2-3 công việc phụ để kiếm thêm thu nhập. Hiện không có một cơ
TIỂU LUẬN QUY HOẠCH
quan nào ở Việt Nam có khả năng giám sát thu nhập của người dân, và do đó, khó có thể
phân nhà bao cấp một cách công bằng. Rõ ràng là chính sách nhà bao cấp hiện nay
không được minh bạch cho lắm, và do đó làm nảy sinh tâm lý ghen tức và đố kỵ trong
người dân Hà Nội.
Vấn đề đầu cơ

hình không gian xã hội và không gian kinh tế hoàn toàn mới do dân số thành phố. Một
trong những hậu quả của quá trình di dân này là sự phân tách khu vực ở, một điều mà
nhìn chung các nhà quy hoạch đô thị đều không mong muốn. Khái niệm công năng hỗn
hợp thể hiện trong các khu nhà ở (nhìn chung có ba loại: biệt thư có sân vườn, nhà liên
kế và chung cư cao tầng) chỉ có tác dụng phân biệt dân cư đối với một bộ phận xã hội
TIỂU LUẬN QUY HOẠCH
tương đối nhỏ thuộc tầng lớp trên của xã hội Việt Nam. Bên cạnh đó, quá trình phân tách
này không chỉ diễn ra ở những khu vực có người chuyển đến sinh sống, mà còn ở cả
những nơi mà họ đã chuyển đi - nơi mà những người có thu nhập thấp lại thế chỗ họ, từ
đó bắt đầu chuỗi mắt xích di dân điển hình. Do đó, việc nâng cao giá trị của các khu vực
ven đô Hà Nội lại tạo ra mâu thuẫn với nguy cơ giảm giá trị khu vực trung tâm Hà Nội, đặc
biệt là khu Phố Cổ với 36 phố phường. Mặt khác, việc người dân chuyển từ khu Phố Cổ
đến những khu đô thị mới có thể là cơ hội cho các cấp quản lý thành phố và quy hoạch
thành phố để họ thực hiện quá trình phi tập trung hoá những nơi có mật độ dân cư dày
đặc nhất trên thế giới, và để bổ sung thêm cho kết cấu nhà ống. Cuối cùng, thậm chí
chúng ta còn có thể thực hiện những biện pháp cải tạo đô thị như đã từng thực hiện ở
Khu Phố Tàu và khu Little India của Singapore. Nếu có làm, thì phải học tập kinh nghiệm
của các nước khác, và phải thực hiện một cách nhạy cảm hơn, giống như trong trường
hợp Khu Phố Tàu của Singapore.
Cần giải quyết nhiều vấn đề và thực hiện nhiều biện pháp để giảm bớt tình trạng thiếu nhà
ở cho những người có thu nhập thấp trong tương lai.
II: Thực trạng về giải quyết nhà ở cho người thu nhập thấp trên địa bàn
thành phố Hà Nội và kinh nghiệm một số nước trên thế giới
1. Kinh nghiệm giải quyết vấn đề nhà ở của một số nước trên thế giới
TIỂU LUẬN QUY HOẠCH
Kinh nghiệm giải “bài toán nhà ở” của Hungary
Hungary đã giải quyết thành công bài toán nhà ở cho dân chúng và góp phần thúc
đẩy kinh tế phát triển bền vững.
Một góc thủ đô Budapest
Bài toán về nhà ở cho dân chung luôn là bài toán khó đói với hầu hết các nước. Nhiều

tuổi theo “Chương trình an cư lập nghiệp” và “Ưu đãi cho vay mua và thuê nhà” với điều
kiện mua căn hộ và nhà ở có diện tích hợp lý vừa đủ. Tháng 10/2009, nhà nước
Hungary ban hành sắc lệnh “Trợ cấp vay vốn mua thuê nhà cho thanh niên và gia đình
đông con”. Nhà nước đã chi 20 tỉ forint cho kế hoạch này, vì nhà nước cho rằng kế hoạch
này nhằm ổn định những trụ cột đang lao động xây dựng đất nước và an sinh xã hội.
Theo chương trình này, nếu cặp vợ chồng trẻ mới cưới từ 35 tuổi trở xuống và những
người lao động trẻ ở độ tuổi này có thể mua nhà theo “phương thức trả góp”, đồng thời
được vay tiền với lãi suất từ 9% - 10% theo quy định chung, nhưng nhà nước sẽ ưu đãi
giảm cho từ 2% tới 3%. Một cặp vợ chồng trẻ có một con nếu mua nhà chỉ cần trả trước
từ 10% tới 20% là có thể mua được căn hộ hợp lý. Số tiền còn lại được trả góp trong 15
năm, nếu vay nhà nước sẽ hưởng lãi suất từ 5% - 6%. Chính sách ưu tiên cho tầng lớp
thu nhập thấp, lớp người trẻ tuổi đang lao động và các cặp vợ chồng mới cưới, gia đình
đông con đã góp phần rất lớn ổn định xã hội và ổn định cả thị trường nhà đất, đồng thời
cũng chống được nạn đầu cơ, sốt ảo, thao túng thị trường nhà đất. Chính phủ Hungary
cho biết kể từ khi thực thi chương trình này vào năm 2009, Nhà nước đã tiết kiệm được
25,6 tỉ forint năm 2009, năm 2010 là 68,6 tỉ forint và năm 2011 là 78,3 tỉ forint.
Cùng với chính sách ưu đãi cho người nghèo và người lao động, nhà nước Hungary
cũng thực hiện chính sách tăng thuế đối với tầng lớp có thu nhập cao và ở những căn hộ,
khu nhà rộng quá tiêu chuẩn chung theo quy định là 25 mét vuông/người. Ngoài ra, kể từ
ngày 1/1/2006, nhà nước còn thu thêm khoản thuế gọi là “Thuế nhà ở hào hoa” đối với
những căn hộ sang trọng với mức thuế 0,5%. Nếu khu nhà ở hoặc khuôn viên có giá trị
160 triệu forint thì hàng năm phải nạp 300.000 forint tiền thuế. Kể từ tháng 1/1/2010, nhà
nước thực hiện thu thuế đối với căn hộ hoặc khu nhà trị giá trên 30 triệu forin với mức
thuế 0,35% với khu nhà từ 30 triệu tới 50 triệu forint, 0,5% với căn hộ và khu nhà có trị
giá trên 50 triệu forint.
Với chính sách này, Hungary cơ bản giải được bài toán nhà ở. Vì vậy, năm 2005 thị
trường nhà đất trở nên quá nóng, chính phủ tăng lãi suất cho vay mua nhà, nhưng việc
cho thuê nhà vẫn không thay đổi. Vì vậy, Hungary đã nhanh chóng giải quyết tình trạng
như sốt ảo, tăng giá ảo, đầu cơ, giữ thị trường nhà đất không bị “nổ bóng xà phòng”. Khi
khủng hoảng nhà đất thứ cấp ở Mỹ dội vào, các nước đều giảm đầu tư vào nhà đất ở

nước là rất ít vì vậy chỉ còn một số doanh nghiệp nhà nước mang tính chủ chốt ,nên
Nhà nước khó có thể vừa là người sản xuất lại là người cung ứng nhà ở nhất là đối với
một mặt hàng lớn như nhà thì càng khó ,nếu giả sử Nhà nước có tự cung ứng đi
chăng nữa chúng ta lại đi theo vết xe đổ của nhưng năm về trước là bao cấp nhà ,Vì
vậy chúng ta cần có một hướng đi khác trong việc giải quyết nhà ở xã hội hiện nay.Việc
để các chủ đầu tư tự xây dựng nhà ở xã hội cũng có những mặt ưu của nó như là tốc
độ diễn ra sẽ nhanh hơn, thẩm mỹ quan của công trình sẽ cao hơn ,nó chỉ có nhược
điểm khi không có sự bảo lãnh của nhà nước làm cho giá nhà nên cao khó đến tay của
Kinh nghiệm giải “bài toán nhà ở” của Hungary
Hungary đã giải quyết thành công bài toán nhà ở cho dân chúng và góp phần thúc
đẩy kinh tế phát triển bền vững.
Một góc thủ đô Budapest
Bài toán về nhà ở cho dân chung luôn là bài toán khó đói với hầu hết các nước. Nhiều
nước đã thành công, nhiều nước đã thất bại trong việc giải quyết bài toán này, thậm chí
dẫn tới khủng hoảng cho vay thứ cấp nhà đất như ở Mỹ năm 2008.
Trong mấy chục năm trời, Hungary chỉ giải quyết được 20% nhà ở cho dân chúng. Chính
phủ Hungary nhận thức rằng bài toán nhà ở chẳng những là động lực quan trọng thúc
đẩy kinh tế quốc dân, mà còn là vấn đề an sinh và ổn định xã hội, là nhân tố ổn định kinh
tế phát trriển bền vững có hiệu quả, chống lại tác động tiêu cực từ bên ngoài dội vào.
Bởi vậy, năm 2001, nhà nước Hungary đưa ra “Kế hoạch phát triển nhà ở” tiến hành cải
tạo những khu chung cư đã có, đồng thời tiến hành xây dựng thêm các khu nhà mới,
trong đó nhà nước đứng ra trợ cấp mà ưu tiên là tầng lớp dân chúng, lao động có thu
nhập thấp, khuyến khích các hộ tự cải tạo nhà ở với sự trợ cấp của nhà nước. Năm 2003
nhà nước trợ cấp 1,9 tỉ forint tu sửa lại 14.000 ngôi nhà, năm 2004 trợ cấp tiếp 1,1 tỉ forint
cải tạo và nâng cấp hơn 6.000 ngôi nhà. Ngoài ra có 27 khu chung cư mới được xây
dựng.
Tháng 5/2004 khi gia nhập EU, Hungary đã tranh thủ 25 tỉ EUR vốn đầu tư của EU vào
xây dựng các trục đường ở Thủ đô Budapest, đường tàu điện ngầm và các khu chung.
Từ năm 2004 tới tháng 10/2008, thị trường nhà đất ở các thành phố lớn, nhất là xung
quanh Thủ đô Budapest phát triển mạnh, trở thành động lực quan trọng chủ yếu thúc đẩy

cũng thực hiện chính sách tăng thuế đối với tầng lớp có thu nhập cao và ở những căn hộ,
khu nhà rộng quá tiêu chuẩn chung theo quy định là 25 mét vuông/người. Ngoài ra, kể từ
ngày 1/1/2006, nhà nước còn thu thêm khoản thuế gọi là “Thuế nhà ở hào hoa” đối với
những căn hộ sang trọng với mức thuế 0,5%. Nếu khu nhà ở hoặc khuôn viên có giá trị
160 triệu forint thì hàng năm phải nạp 300.000 forint tiền thuế. Kể từ tháng 1/1/2010, nhà
nước thực hiện thu thuế đối với căn hộ hoặc khu nhà trị giá trên 30 triệu forin với mức
thuế 0,35% với khu nhà từ 30 triệu tới 50 triệu forint, 0,5% với căn hộ và khu nhà có trị
giá trên 50 triệu forint.
Với chính sách này, Hungary cơ bản giải được bài toán nhà ở. Vì vậy, năm 2005 thị
trường nhà đất trở nên quá nóng, chính phủ tăng lãi suất cho vay mua nhà, nhưng việc
cho thuê nhà vẫn không thay đổi. Vì vậy, Hungary đã nhanh chóng giải quyết tình trạng
như sốt ảo, tăng giá ảo, đầu cơ, giữ thị trường nhà đất không bị “nổ bóng xà phòng”. Khi
khủng hoảng nhà đất thứ cấp ở Mỹ dội vào, các nước đều giảm đầu tư vào nhà đất ở
Hungary, như năm 2007 FDI vào nhà đất tới 2 tỉ EUR, nhưng năm 2008 chỉ có 410 triệu
EUR và năm 2009 chỉ có 96 triệu EUR, từ tháng 7/2008 tới tháng 4/2010 giá nhà đất sụt
giảm 10% tới 15%, tại Budapest giá nhà đất giảm 20% - 25%. Trong tình hình này, nhà
nước vẫn kiểm soát được thị trường nhà đất và tới nay về cơ bản thị trường này vẫn
được ổn định.

TIỂU LUẬN QUY HOẠCH
những người thu nhập thấp.Nếu như có bàn tay hỗ trợ của Nhà nước thì giá nhà của
các doanh nghiệp sẽ giảm bài toán nhà ở sẽ được giải quyết.
Nhà nước không thể tạo ra được những nguyên nhiên vật liệu để mà cung cấp thẳng
trực tiếp cho các chủ đầu tư ,hay cũng như không thể tạo ra một đội ngũ lao động để
cung cấp cho chủ đầu tư để chủ đầu tư .Vậy nhà nước không thể hỗ trợ trực tiếp các
chủ đầu tư .Trong tay Nhà nước có hai thứ có thể hỗ trợ chủ đầu tư một cách gián tiếp
đó là tiền và hệ thống luật pháp( các chính sách về đất ,thuế ,vay vốn) nhưng tìên thì
khống thể biết hỗ trợ như thế nào cho đủ ,hỗ trợ thẳng trực tiếp bằng tiền có thể xảy ra
nhiều tiêu cực trong xã hội khi đó dòng tiền chảy vào lưu thông sẽ lớn tình trạng lạm
phát sẽ xẩy ra.Khi mà hỗ trợ bằng tiền thì chưa chắc chủ đầu tư sẽ đầu tư cho nhà ở

bức xúc về nhà ở cho người thu nhập thấp ở Hà Nội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status