Quá trình phát triển cổ phần hóa doanh nghiệp tư nhân và một số biện pháp thúc đẩy cổ phần hóa tư nhân p2 potx - Pdf 20

Cải cách Doanh nghiệp nhà nớc có thể tiến hành bằng nhiều cách khác
nhau nh: bán Doanh nghiệp nhà nớc, cho thuê Doanh nghiệp nhà nớc, cải
cách cơ chế quản lý Doanh nghiệp nhà nớc Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà
nớc chỉ là một trong những giải pháp sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả
Doanh nghiệp nhà nớc. Tuy nhiên thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của
nớc ta trong thập kỷ vừa qua cho thấy cổ phần hoá là giải pháp phù hợp với
nền kinh tế nớc ta trong giai đoạn phát triển hiện nay.
Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nớc ở Việt Nam bắt đầu đợc thực hiện
thí điểm thí điểm từ năm 1990. Cơ sở pháp lý cho việc thực hiện chơng trình
này là Quyết định số 143/HĐBT ngày 10-5-1990 của Hội đồng bộ trởng và
sau đó đợc thực hiện với quy mô rộng hơn. Việc chuyển sang nền kinh tế thị
trờng đợc Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) khởi xớng đã tạo ra những điều
kiện để cải cách triệt để hơn đối với Doanh nghiệp nhà nớc, thông qua việc
cổ phần hoá chúng. Sở dĩ cổ phần hoá đợc coi là giải pháp triệt để vì nó giải
quyết đợc căn nguyên của những yếu kém trong tổ chức quản lý và hoạt
động của Doanh nghiệp nhà nớc đó là vấn đề sở hữu. Những giải pháp cải
cách Doanh nghiệp nhà nớc khác chỉ động chạm đến cơ chế quản lý theo
hớng tăng cờng quyền tự chủ của của Doanh nghiệp nhà nớc trong một
hoặc một số lĩnh vực cụ thể. Cổ phần hoá doanh nghiệp chấp nhận sự dung
hoà của nhiều thành phần kinh tế khác nhau trong bản thân các thực thể kinh
tế vĩ mô mà trớc hết là trong các doanh nghiệp. Cổ phần hoá Doanh nghiệp
nhà nớc là giải pháp làm thay đổi kết cấu sở hữu của chúng, điều mà trớc
đổi mới ít ai dám nghĩ đến chứ cha nói là triển khai nó.
2. Đối tợng của cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nớc ở nớc ta.
Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nớc là biện pháp cải cách Doanh nghiệp
nhà nớc tối u của nớc ta. Tuy nhiên, không phải tất cả các doanh nghiệp
đều có thể đổi mới bằng phơng thức này. Có những doanh nghiệp mà Nhà
nớc cần duy trì 100% vốn Nhà nớc. Đó là khu vực kinh tế quốc doanh đóng
vai trò chủ đạo trong nền kinh tế trên các lĩnh vực sau:
- Các doanh nghiệp hoạt động nhằm phục vụ cho công tác an ninh và
quốc phòng : sản xuất vũ khí, đạn dợc, sản xuất thuốc nổ, sản xuất phơng

tài sản hiện có của doanh nghiệp. Theo tinh thần nghị quyết 28/CP các doanh
nghiệp vừa và nhỏ là những doanh nghiệp có tổng số vốn từ 300 tỷ đồng trở
xuống và có số lao động dới 1000 ngời, không kể số lao động làm hợp đồng
theo thời vụ. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ không chỉ dễ xác định giá trị tài
sản hơn các doanh nghiệp có quy mô lớn mà còn phù hợp với sức mua của cán
bộ công nhân viên tại nhiệm sở và trong ngành.
3. Mục tiêu cổ phần hoá một bộ phận Doanh nghiệp nhà nớc
Đại hội Đảng lần thứ VIII (1986) đã khẳng định Triển khai tích cực và
vững chắc việc cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nớc để huy động vốn, tạo
thêm động lực thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả làm cho tài sản Nhà
nớc ngày càng tăng lên chứ không phải t nhân hoá
Nghị định 44/1998/NĐ-CP ngày 29/6/1998 của Chính Phủ về việc
chuyển một số Doanh nghiệp nhà nớc thành công ty cổ phần đã nêu rõ:
chuyển Doanh nghiệp nhà nớc thành công ty cổ phần nhằm các mục tiêu:
- Huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm cá nhân, các tổ chức kinh
tế, tổ chức xã hội trong nớc và nớc ngoài để đầu t đổi mới công nghệ tạo
thêm việc làm, phát triển doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh, thay đổi cơ
cấu Doanh nghiệp nhà nớc.
- Tạo điều kiện để ngời lao động trong doanh nghiệp có cổ phần và
những ngời đã góp vốn đợc làm chủ thực sự; thay đổi phơng thức quản lý
tạo động lực thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, tăng cờng phát
triển đất nớc, nâng cao thu nhập của ngời lao động, góp phần tăng trởng
kinh tế của đất nớc.
Qua những văn bản cơ bản đó có thể khẳng định các mục tiêu của cổ
phần hoá đã đợc xác định một cách rõ ràng và nhất quán. Song phải chăng
huy động vốn để phát triển doanh nghiệp là mục tiêu hàng đầu, nâng cao vai
trò làm chủ thực sự, tạo động lực thúc đẩy kinh doanh có hiệu quả là mục tiêu
hàng thứ, hay hai mục tiêu ở vị trí ngang nhau.
Huy động vốn và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn là một trong những
điều kiện quan trọng hàng đầu để thúc đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hoá-

Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 17/3/1995 của Bộ chính trị đã nêu thực
hiện từng bớc vững chắc việc cổ phần hoá một bộ phần doanh nghiệp không
cần Nhà nớc đầu t 100% vốn. Tuỳ tính chất, loại hình doanh nghiệp mà tiến
hành bán một tỉ lệ cổ phần cho công nhân viên chức làm việc tại doanh nghiệp
để tạo động lực bên trong trực tiếp thúc đẩy phát triển và bán cổ phần cho tổ
chức hay cá nhân ngoài quốc doanh để thu hút vốn, mở rộng quy mô kinh
doanh. Nh vậy, Nghị quyết của Đảng chỉ ra mục tiêu, đồng thời cũng nêu
khái quát hình thức, mức độ cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nớc.
4. Tiền đề để cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nớc.
- Điều kiện và môi trờng pháp lý về cơ bản đã đợc xác lập đặt tất cả
các doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trờng. Việc thực hiện thơng
mại hoá các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong nền
kinh tế là tiền đề cơ bản và cần thiết để từng bớc thực hiện cổ phần hoá các
Doanh nghiệp nhà nớc.
- Chính Phủ đã nhận thức đợc tầm quan trọng của vấn đề cổ phần
hoá các Doanh nghiệp nhà nớc và quyết tâm thực hiện. Điều này thể hiện ở
việc ban hành các văn bản luật và dới luật nhăm thực hiện chơng trình cổ
phần hoá Doanh nghiệp nhà nớc nh luật công ty, quyết định 315 và 330 về
sắp xếp lại sản xuất trong khu vực kinh tế Nhà nớc. Chỉ thị 84-TTg của Thủ
tớng Chính phủ về thí điểm cổ phần hoá một số Doanh nghiệp nhà nớc
Ngoài ra còn có các quyết định, thông t của các Bộ và các liên Bộ để cụ thể
hoá việc thực hiện vấn đề này. Điều này góp phần xác định rõ quan điểm và
phơng hớng chỉ đạo thống nhất ở mọi cấp, mọi ngành cho đến từng doanh
nghiệp triển khai thực hiện.
- Tình hình kinh tế đất nớc đã có nhiều biến đổi theo hớng tích cực:
giá cả thị trờng đã đợc duy trì tơng đối ổn định, mức lạm phát đã đợc
kiềm chế, đồng tiền Việt Nam đã giữ đợc giá, lãi suất đã ở mức khuyến
khích các hoạt động đầu t sản xuất kinh doanh Điều này đã tạo điều kiện
thuận lợi về tâm lý cho mọi ngời muốn đầu t thông qua hình thức mua cổ
phiếu trong các Doanh nghiệp nhà nớc đợc cổ phần hoá.

Với những tiền đề nh thế thì quá trình cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà
nớc của chúng ta đã diễn ra nh thế nào? Chúng ta đã làm đợc những gì và
còn hạn chế gì? Để từ đó có biện pháp thích hợp thúc đẩy nhanh hơn nữa quá
trình cổ phần hoá.
II. Thực trạng cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nớc ở Việt Nam.
1. Quá trình cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nớc ở nớc ta.
Từ đầu thập kỷ 90, cùng với đổi mới các chính sách kinh tế - xã hội,
Đảng ta đã có chủ trơng chuyển một bộ phận Doanh nghiệp nhà nớc thành
công ty cổ phần. Khởi đầu là Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai của Ban chấp
hành TW khoá VII tháng 11/1991. Nghị quyết này đã chỉ ra : chuyển một số
doanh nghiệp quốc doanh có điều kiện thành công ty cổ phần và thành lập một
số công ty cổ phần mới, phải làm thí điểm, chỉ đạo chặt chẽ, rút kinh nghiệm
chu đáo trớc khi mở rộng phạm vi thích hợp. Trải qua 15 năm thực hiện đến
hết năm 2005, chúng ta đã thành lập đợc 2987 công ty cổ phần trên cơ sở cổ
phần hoá Doanh nghiệp nhà nớc và bộ phần Doanh nghiệp nhà nớc. Kết quả
thực hiện qua từng năm nh sau:
Năm Số Doanh nghiệp nhà nớc đợc cổ phần hoá

1990-1992
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
Không
02
01
03


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status