Phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm và một số biện pháp thúc đẩy sản lượng tiêu thụ sản phẩm của Công Ty Bia Việt Đức - Pdf 38

LỜI MỞ ĐẦU
Trong điều kiện hiện nay ,nền kinh tế thị trường nước ta ngày càng phát
triển ,cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt và sự phân cực giữa các doanh
nghiệp ,các thành phần kinh tế ngày càng nhanh chóng và quyết liệt hơn .
Muốn nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp , yêu cầu
doanh nghiệp phải thực hiện một loạt các quá trình sản xuất kinh doanh mang
tính đồng bộ .Trong quá trình hoạt động tiêu thụ sản phẩm –bán hàng chiếm
vị trí then chốt ,đây là công đoạn cuối cùng trong quá trình lưu thông hàng
hoá .Hoạt động tiêu thụ sản phẩm hàng hoá hay Marketing là hoạt động mang
tính linh hoạt cao , tuỳ theo đặc điểm sản xuất kinh doanh tại mỗi doanh
nghiệp và yếu tố tác động của thị trường , cơ chế chính sách mà doanh nghiệp
phải lựa chọn để xây dựng một chiến lược tiêu thụ sản phẩm cho phù hợp và
đạt hiệu quả cao nhất .
Công ty bia Việt Đức là một doanh nghiệp sản xuất bia chưa có nhiều
kinh nghiệm và tiếng tăm trên thị trường trong nước và thế giới .Vì vậy doanh
nghiệp càng phải chú trọng , nâng cao hơn nữa về công tác tiêu thụ sản phẩm
để sản phẩm của công ty ngày càng chiếm được uy tín trên thị trường trong
nước và ngoài nước .
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trong thời gian thực tập tại công ty
bia Việt Đức , kết hợp với việc phân tích , đánh giá thực trạng hoạt động sản
xuất kinh doanh của công ty , cùng với việc áp dụng kiến thức đã học tại
trường em quyết định lựa chọn đề tài Đồ án tốt nghiệp là :
“ Phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm và một số biện pháp thúc
đẩy sản lượng tiêu thụ sản phẩm của Công Ty Bia Việt Đức ”
Nội dung đồ án gồm 4 phần :
Phần I: Cơ sở lý thuyết về tiêu thụ sản phẩm
Phần II: Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công Ty Bia
Việt Đức
1
Phần III: Phân tích tình hình tiêu thụ sản phẩm của Công Ty Bia Việt
Đức

động tiêu thụ, xúc tiến bán hàng,... nhằm mục đích đạt được doanh số và lợi
nhuận cao nhất. Hay nói cách khác là doanh nghiệp phải thực hiện những hoạt
động Marketing để tiêu thụ những sản phẩm sản xuất ra.
Marketing khác với tiêu thụ là Marketing xuất hiện trước rất lâu trước
khi sản xuất ra sản phẩm và còn kéo dàI rất lâu sau khi sản phẩm đã được tiêu
thụ , trước khi sản xuất đầu tư nhà máy Marketing cần thực hiện nghiên cứu
thị trường để đảm bảo sản phẩm sản xuất ra đáp ứng được yêu cầu của khách
hàng .
I.2. Vai trò của tiêu thụ sản phẩm trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp
Tại các doanh nghiệp, hoạt động tiêu thị sản phẩm đóng vai trò rất quan
trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: Khi sản phẩm
của doanh nghiệp sản xuất ra được tiêu thụ điều đó có nghĩa là người tiêu
dùng đã tự nguyện chấp nhận sản phẩm của doanh nghiệp để thỏa mãn nhu
cầu nào đó của mình. Số lượng sản phẩm tiêu thụ được tỷ lệ thuận với uy tín
và chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp.
3
Hiện nay, đối với doanh nghiệp, dù sản phẩm của họ sản xuất ra đã
được người tiêu dùng chấp nhận sử dụng nhưng trách nhiệm của doanh
nghiệp vẫn chưa hết mà doanh nghiệp còn có một thời gian để bảo hành cho
các sản phẩm đó. Trong thời gian này điều kiện sẽ đáp ứng mọi yêu cầu của
khách hàng về sản phẩm của mình như đã cam kết. Điều này sẽ giúp cho
người tiêu dùng có thiện cảm hơn đối với các sản phẩm của doanh nghiệp và
việc sản phẩm của doanh nghiệp tăng lên, nó cũng đồng nghĩa với việc sản
phẩm của doanh nghiệp tiêu thị nhiều hơn. Từ những phản hồi của phía khách
hàng sẽ giúp cho doanh nghiệp nắm bắt được nhu cầu của thị trường cũng như
thị hiếu của khách hàng, điều này sẽ giúp doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả
hơn.
Về phương diện xã hội, hoạt động tiêu thụ có vai trò giúp cho việc cân
đối giữa cung và cầu của thị trường vì nền kinh tế quốc dân là một thể thống

đó như thế nào.
2.Nghiên cứu về cung hàng hóa: Để xác định khả năng cung cấp cho thị
trường và tỷ lệ cung của doanh nghiệp trên thị trường.
3. Nghiên cứu tình hình giá cả trên thị trường: Bao gồm, sự hình thành
giá, các nhân tố tác động và dự đoán những biến động của giá trên thị trường.
Bao gồm sự hình thành giá, các nhân tố tác động và dự đoán những biến động
của giá trên thị trường. Trên thị trường có nhiều loại hàng hóa với tính chất
thời vụ khác nhau, hàng hóa của mình thì giá cả biến động như thế nào và
nghiên cứu của các đối thủ cạnh tranh, trên cơ sở đó để đưa ra mức giá của
doanh nghiệp mình cho phù hợp.
4. Nghiên cứu với tình hình cạnh tranh trên thị trường. Công việc này
nhằm xác định và tìm hiểu rõ về các đối thủ cạnh tranh của mình ở thời điểm
hiện tại cũng như tương lai. Nghiên cứu, khả năng cung ứng sức mạnh tài
chính, chiến lược sản xuất kinh doanh,... đặc biệt là những chính sách
5
marketing như: chính sách về giá, chính sách sản phẩm, mạng lưới phân phối,
chính sách xác tiền bán hàng,...
5. Nghiên cứu mạng lưới phân phối: Để đáp ứng được nhu cầu của
khách hàng một cách tốt nhất và thuận tiện nhất, doanh nghiệp cần phải
nghiên cứu đưa ra mạng lưới phân phối sao cho phù hợp với điều kiện của
doanh nghiệp và tổ chức bán hàng sao cho khách hàng hiệu quả cao nhất
trong sản xuất kinh doanh.
Để thu thập được những thông tin về thị trường, về nhu cầu của thị
trường một cách chính xác, doanh nghiệp thường sử dụng hai phương pháp
thu nhận thông tin sau:
- Phương pháp thu nhận thông tin bằng tài liệu
- Phương pháp thu nhận thông tin tại hiện trường.
II.1.2. Xử lý thông tin
Sau khi thu thập các thông tin về thị trường, doanh nghiệp tiến hành, lý
thuyết phục và lựa chọn ra những thông tin có giá trị, có ảnh hưởng đến hoạt

Phân tích thị trường theo yếu tố địa lý, là việc phân chia thị trường
thanh các đơn vị địa phương khác nhau như quốc gia, khu vực, vùng, tỉnh,
thành phố hay thị xã. Doanh nghiệp có thể tự quyết định ở một số hay vài
vùng hay tất cả.
Phân tích thị trường theo yếu tố nhân khẩu học là phân chia thị trường
thành những nhóm trên cơ sở những biến nhân khẩu học như tuổi tác, giới
tính, qui mô gia đình, thu thập, nghề nghiệp học vấn, tôn giáo, chủng học và
dân tộc.
7
Phân khúc thị trường theo yếu tố tâm lý là phân chia thị trường căn cứ
vào tầng lớp xã hội, lối sống hay nhân cách.
Phân hóa thị trường theo hành vi là phân chia thị trường thành các
nhóm khách hàng căn cứ vào trình độ hiểu biết, thái độ và phản ứng đối với
sản phẩm.
II.2.2. Lựa chọn thị trường mục tiêu
1. Khái niệm thị trường mục tiêu
Thị trường mục tiêu là bộ phận của thị trường mà doanh nghiệp quyết
định theo đuổi.
2. Đánh giá các khúc thị trường
Trước khi quyết định tập trung vào một hoặc vài khúc thị trường cụ thể
,doanh nghiệp cần đánh giá kỹ lưỡng về các khúc .Có ba tiêu thức cần xem
xét là
+Quy mô và sự phát triển của các khúc thị trường :
-Quy mô:số lượng người mua ,chi tiêu bình quân cho sản phẩm
-Tốc độ tăng trưởng : về số lượng ngườ mua ,về chi tiêu cho sản phẩm
+Khả năng sinh lời và rủi ro :phụ thuộc vào số lượng và đặc điểm của các đối
thủ cạnh tranh hiện tại ,các sản phẩm thay thế tiềm năng và người nhập
nghành tiềm năng .
+Tính phù hợp với mục tiêu và nguồn lực của doanh nghiệp
-phục vụ khúc thị trường đó có xa rời mục tiêu kinh doanh ban đầu của doanh

khối lượng bán bao nhiêu, ban khi nào.
Chi phí bán hàng: Các loại chi phí có liên quan đến việc bán số hàng
hóa (bao gồm cả chi phí cho hoạt động mảketing)
Lợi nhuận: tính theo từng mặt hàng và tính cho toàn bộ sản phẩm
Tiến độ tiêu thụ sản phẩm: cần được hoạch định một cách chi tiết và
tuân thủ nghiêm ngặt, vì tiến độ tiêu thụ sản phẩm còn liên quan đến tiến độ
sản xuất và tiến độ cung ứng vật tư, kỹ thuật của doanh nghiệp.
9
Những điều kiện liên quan đến tiêu thụ sản phẩm: địa điểm giao hàng,
hình thức thanh toán, phương thức vận chuyển, tỷ lệ chiết khấu......, tất cả cần
được xác định rõ ràng trong kế hoạch tiêu thụ sản phẩm.
Dự kiến biến động ảnh hưởng đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm: thời
tiết, các nhà cung ứng đầu vào, phương tiện vận chuyển, nguồn lưu cần thiết
cho hoạt động tiêu thụ sản phẩm, cũng như những biến động có thể xảy ra, để
từ đó có các kế hoạch dự phòng và biện pháp ứng phó trong trường hợp cần
thiết
II.3.2. Những căn cứ để lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm.
Việc lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp do phòng kế
hoạch phụ trách và đưa vào một số yếu tố sau:
Nhu cầu thị trường đối với sản phẩm: chất lượng, kiểu dáng, mẫu mã,
mức giá,........ hiện tại và xu thế trong tương lai.
Phương án kinh doanh mà doanh nghiệp lựa chọn.
Chiến lược và chính sách kinh doanh của doanh nghiệp (đặc biệt là các
nguyên tắc cho kế hoạch tiêu thụ sản phẩm)
Các đơn đặt hàng, hợp đồng đã ký.
Các căn cứ khác: Dự kiến về thay đổi ngân sách dành cho hoạt động
marketing, thay đổi mạng lưới tiêu thụ, khả năng mokử rộng thị trường, hệ
thống chính sách pháp luật của nhà nước,........
II.3.3. Quá trình lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp.
Để lkập được một kế hoạch tiêu thụ có hiệu quả, doanh nghiệp cần

11

Giói thiệu Tăng trưởng Bão hoà suy thoáI thời gian
II.4.2. Chính sách giá
Giá của sản phẩm hàng hóa có vị trí rất quan trọng và ảnh hưởng trực
tiếp đến quá trình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, nó đem đến lợi nhuận
cũng như sự tồn tại và phát triển hay diệt vong của doanh nghiệp.
Mức giá của sản phẩm không thể quyết định một cách cứng nhắc từ khi
sản phẩm mới được tung ra trên thị trường, mà phải được xem xét một cách
định kỳ trong suốt chu kỳ sống của sản phẩm, tùy theo những thay đổi về mục
tiêu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, sự vận động của thị trường, chi
phí sản xuất của doanh nghiệp cũng như mức giá của đối thủ cạnh tranh,..
Mục tiêu để xác định giá phải được bắt nguồn từ mục tiêu chung của doanh
nghiệp, cũng như vị trí của doanh nghiệp trên thị trường. Có 3 mục tiêu xác
định giá cơ bản:
- Mục tiêu định giá theo lợi nhuận được định hướng.
- Mục tiêu định giá theo hoạt động tiêu thụ có định hướng
- Các mục tiêu giá theo hiện trạng xã hội.
Ngoài việc căn cứ vào các mục tiêu, chiến lược phát triển mà áp dụng
các chính sách giá trên, doanh nghiệp còn có thể áp dụng các chính sách sau:
- Chính sách định giá thấp: Chính sách này chỉ nên áp dụng đối với
những loại sản phẩm có độ co giãn của cầu đối với giá lớn, chi phí giảm nếu
khối lượng sản phẩm gia tăng.
- Chính sách giá theo thị trường: Thường được áp dụng đối với những
sản phẩm có tính cạnh tranh hoàn hảo.
- Chính sách định giá cao: Thường được áp dụng với những sản phẩm
cao cấp hay với những sản phẩm có chu kỳ sống ngắn.
12
- Chính sách bán phá giá: Quy định mức giá thấp với mục đích tiêu thụ
nhanh sản phẩm hoặc để tiêu diệt đối thủ cạnh tranh.

tiêu thụ sản phẩm của mình.
3. Kênh gián tiếp trung (Kênh cấp 2):
Việc mua bán sản phẩm hàng hóa phải trải qua nhiều khâu trung gian
đó là người bán buôn và bán lẻ. Kênh này thuộc loại kênh dài, nó có thời gian
lưu chuyển và chi phí lớn hơn các loại kênh trên nhưng nó thích hợp với điều
kiện sản xuất và lưu thông nhiều loại sản phẩm hàng hóa, phù hợp với quan hệ
mua bán của nhiều loại doanh nghiệp. Sản phẩm hàng hóa lưu chuyển qua
kênh này chiếm tỷ trọng trong toàn bộ khối lượng sản phẩm hàng hóa lưu
chuyển của cả nền kinh tế quốc dân.
- Ưu điểm: Do quan hệ mua bán theo từng khâu nên tổ chức kênh tương
đối chặt chẽ, vòng quay vốn nhanh. Người sản xuất, người trung gian do
chuyên môn hóa nên có điều kiện để nâng cao năng suất lao động, khả năng
thỏa mãn nhu cầu của thị trường được đáp ứng tốt.
- Nhược điểm: Do kênh dài nên khả năng rủi ro thường lớn
4. Kênh gián tiếp dài (Kênh cấp 3):
Kênh này ngòai 2 khâu trung gian như kênh cấp 2, còn có thêm khâu
môi giới trung gian. Người môi giới ở đây hoạt động rất năng động, cung cấp
các thông tin cần thiết cho người bán và người mua. Tuy nhiên, khả năng bị
14
Người sản
xuất
Người bán
buôn
Người tiêu dùng Người bán
lẻ
rủi ro của loại kênh này khi áp dụng phụ thuộc nhiều vào tư cách của những
người môi giới trung gian.
Tiêu thức lựa chọn kênh phân phối có vai trò quan trọng trong chính
sách phân phối. Khi doanh nghiệp xây dựng chính sách phân phối của mình
cần phải xem xét đến các khía cạnh sau:

sản phẩm, các chỉ tiêu kinh tế, mức độ thỏa mãn nhu cầu của sản phẩm, các
điều kiện và phương thức mua bán, thông tin về uy tín, nhãn mác, biểu tượng
của doanh nghiệp…
-Triển lãm và hội chợ thương mại :Đây là hình thức để doanh nghiệp
giới thiệu với khách hàng và các doanh nghiệp khác về những thông tin sản
phẩm cũng như những thông tin về doanh nghiệp .Đó là nơI trưng bày giới
thiệu sản phẩm của các doanh nghiệp và là nơI gặp gỡ giữa người bán và
người mua .Mục đichs của triển lãm và hội trợ là trưng bày giới thiệu các sản
phẩm , ký kết các hợp đồng mua bán ,tìm kiếm các thông tin ,các mặt hàng
mới
- Lựa chọn các phương tiện quảng cáo: Báo hình, báo nói, báo viết,
băng hình, phim quảng cáo (dùng trong các hội chợ, chào hàng xuất nhập
khẩu,…), áp phích, tờ rơi, biển quảng cáo, bao bì, nhãn sản phẩm,…
- Triển lãm và hội chợ thương mại: Đây là hình thức để doanh nghiệp
giới thiệu với khách hàng và các doanh nghiệp khác những thông tin về sản
phẩm cũng như những thông tin về doanh nghiệp. Đó là nơi trưng bày giới
thiệu so của nhiều doanh nghiệp và là nơi gặp gỡ giữa người bán và người
mua. Mục đích của triển lãm và hội chợ là trưng bày, giới thiệu các sản phẩm,
ký kết hợp đồng mua bán, tìm kiếm các thông tin, các mặt hàng mới, thị
trường mới và quảng cáo, quảng bá sản phẩm.
- Tổ chức chào hàng: Chào hàng là hoạt động nhằm mục đích tìm kiếm
khách hàng, tìm kiếm thị trường. Các nhân viên thực hiện nhiệm vụ chào hàng
cần phải biết rõ về sản phẩm của mình như giá trị sử dụng, cách sử dụng sản
16
phẩm, hiểu rõ về thị trường, biết nghệ thuật trình bày và giới thiệu sản phẩm,
phân biệt được sản phẩm của mình với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh,
giải đáp được những thắc mắc của khách hàng nhằm gây được tình cảm và sự
tín nhiệm của khách hàng.
II.5. Tổ chức thực hiện kế hoạch tiêu thụ sản phẩm
II.5.1Tổ chức tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của quá trình sản

II.6.Đánh giá công tác tiêu thụ sản phẩm.
Đánh giá công tác tiêu thụ sản phẩm có đạt hiệu quả hay không là khâu
cuối cùng của công tác tiêu thụ sản phẩm. Nó giúp doanh nghiệp thấy được
những mặt được cũng như những mặt yếu kém còn tồn tại. Từ đó doanh
nghiệp có kế hoạch phát huy những điểm mạnh và khắc phục những yếu kém
trong chu kỳ kinh doanh tiếp theo.
Tiêu thụ là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh.
Thông qua tiêu thụ, doanh nghiệp thực hiện được giá trị và giá trị sử dụng của
sản phẩm, thu hồi được vốn bỏ ra, góp phần tăng nhanh tốc độ luân chuyển
vốn và thỏa mãn được phần nào nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Sản phẩm chỉ
được coi là đã tiêu thụ khi và chỉ khi doanh nghiệp đã thu được tiền hay khách
hàng chấp nhận trả tiền.
- Đánh giá tình hình tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa về mặt số lượng, chất
lượng, chủng loại mặt hàng và thời hạn tiêu thụ.
- Xác định nguyên nhân, ảnh hưởng đến tình hình tiêu thụ.
III. Các nguyên nhân ảnh hưởng đến tiêu thụ sản phẩm
Có rất nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến tiêu thụ sản phẩm, trong đó
có một số nguyên nhân chủ yếu sau:
III.1. Những nguyên nhân thuộc về bản thân doanh nghiệp:
Hàng hóa tiêu thụ trong kỳ chịu ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân như
số lượng, chất lượng sản phẩm hàng hóa và việc tổ chức công tác tiêu thụ.
- Số lượng sản phẩm, hàng hóa: Doanh nghiệp muốn đạt được khối
lượng tiêu thụ cao thì trước hết phải có đủ sản phẩm hàng hóa để tiêu thụ.
18
Khối lượng
SP, HH bán ra
=
Số lượng SP,
HH tồn kho
đầu kỳ

các công cụ, chính sách tài chính (như thuế, lãi suất,…) để khuyến khích hay
hạn chế sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm hàng hóa.
19
IV. MỘT SỐ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA DOANH
NGHIỆP
IV. 1. Đánh giá chung tình hình tiêu thụ
Để đánh giá tình hình tiêu thụ về mặt khối lượng theo từng sản phẩm,
hàng hóa, có thể dùng thước đo hiện vật và sử dụng công thức:
Tỷ lệ % thực hiện kế
hoạch tiêu thụ từng loại
=
Số lượng SP từng loại tiêu thụ kỳ thực tế
Số lượng SP từng loại tiêu thụ kỳ kế hoạch
Ngoài việc đánh giá tình hình tiêu thụ sản phẩm về mặt khối lượng thì
doanh nghiệp cũng phải cần đánh giá việc tiêu thụ sản phẩm qua các chủng
loại mặt hàng. Phân tích tình hình tiêu thụ mặt hàng sẽ giúp cho doanh nghiệp
biết được mặt hàng nào bán được, thị trường nào đang cần mặt hàng này, với
số lượng bao nhiêu, mặt hàng không bán được,... qua đó doanh nghiệp có
hướng sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn.
Trong công tác tiêu thụ sản phẩm việc đánh giá tỷ lệ % hoàn thành kế
hoạch tiêu thụ cũng như chủng loại mặt hàng tiêu thụ là rất quan trọng, nhưng
việc xem xét đến kỳ hạn tiêu thụ của sản phẩm cũng phải được doanh nghiệp
quan tâm đến. Việc giao kịp thời và nhanh chóng sản phẩm cho khách hàng là
biện pháp để đảm bảo chất lượng của sản phẩm, thu hồi vốn nhanh cũng là tạo
điều kiện thuận lợi cho khách hàng và cho cả doanh nghiệp thực hiện được
các kế hoạch sản xuất kinh doanh đã đề ra. Khi phân tích tình hình tiêu thụ,
cần tính ra và so sánh sản phẩm, hàng hóa đã chuyển giao từng thành, từng
quý của từng sản phẩm với hợp đồng đã ký kết. Cần liên hệ với tình hình sản
xuất kinh doanh để đảm bảo tính nhịp nhàng giữa sản xuất và tiêu thụ, sao cho
sản xuất đến đâu thì tiêu thụ ngay đến đó, tránh ứ đọng sản phẩm. Mặt khác

DOANH :
1.Qúa trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp:
Tên đơn vị : Nhà máy bia Việt Đức
Địa chỉ: Đường Vũ Xuân Thiều –P.Phúc Lợi-Q.Long Biên- Hà Nội
Điện thoại:048750404 Fax:8448750973
Thành lập tháng6-1994
Đơn vị chủ quản :công ty TNHH CN TP Ngọc Lâm
21
Nhà máy bia Việt Đức được thành lập vào tháng 6- năm 1994 là một
doanh nghiệp tư nhân ,trực thuộc công ty TNHH CN TP Ngọc Lâm
Khi mơí thành lập nhà máy có hơn 200CBCNV với mặt bằng sản xuất
gồm những nhà xưởng cáp 4 được xây dựng trong đường Vũ Xuân Thiều –
P.Phúc Lợi- Quận Long Biên – Hà Nội .khi mới thành lập nhà máy chủ yếu
sản xuất các sản phẩm bia hơI ,bia chai xanh ,bia chai nâu và bia lon.Vào thời
điểm này máy móc và trang thiết bị của nhà máy đều được nhập từ các nước
phát triển trên thế giới nên sản phẩm của công ty được người tiêu dùng ưa
chuộng .Tuy nhiên vào thời điểm đó thì cán bộ lãnh đạo quản lý không được
qua đào tạo ,chủ yếu đều trưởng thành từ công nhân đI lên nên cũng gặp một
số khó khăn nhất định .
Nhà máy bia Việt Đức trực thuộc công ty TNHH CNTP Ngọc Lâm,
được thành lập theo quyết định số 5350/QĐ-UB ngày 9/9/1993, của UBTP Hà
Nội.Số đăng ký kinh doanh :044960.ngày cấp chứng nhận đăng ky kinh doanh
:15/9/1993
Kể từ thời điểm đó cho tới nay ,mọi giao dịch trong hoạt động sản xuất
kinh doanh ,công ty đều sử dụng tên:
Tên doanh nghiệp:Công ty TNHH Công Nghiệp Thực Phẩm Ngọc Lâm
Tên giao dịch quốc tế :ngọc lâm intrucdial food stuff company produce
and bottle in viet nam
Địa chỉ giao dịch chính :số nhà 554-Đường Nguyễn Văn Cừ- Quận
Long Biên –Hà Nội

-Quy trình vạn hành máy chiết và đóng chai
-Quy trình vận hành hầm thanh trùng
3.2 Giới thiệu quy trình công nghệ sản xuất bia
*Quy trình chiết bia hơI vào chai pet
- Tiêu chuẩn chai :
+Màu xanh lá cây sẫm . mầu trắng
23
+Vỏ chai được phép có vết xước nhẹ không làm ảnh hưởng đến độ
bóng và chất lượng cảm quan
+không dùng những chai có vết xước nặng gây mờ nhạt chai
+Không dùng những chai có dính dầu mỡ ,nước chấm thực phẩm ,và
hoá chất gây hại trong thực phẩm
+Không dùng chai dập , quá cũ
- Rửa chai
+Đổ nước ngâm từ 10-15 phút
+Rửa bằng máy khuấy chai cho sạch các chất bẩn và tạp chất bẩn ở
thành chai
+Up vào két ,nền nhà cho ráo nước rồi mới chiết chai
+Các chai ,box có vết khó tan phảI được ngâm trong dung dịch NAOH
>2% rồi mới rửa chai
-Chiết chai
+Khi mở bia vào bầu chiết :Mỏ áp vào bầu trước tạo áp trong bầu .Mở
bia vào bầu sau tránh tạo bọt trong bầu chiết
+Duy trì đẳng áp giữa máy chiết và tank thành phẩm
+Khi chiết chai phảI tuân thủ các bước sau :
Xả bọt nhẹ trong vòi chiết
Đặt thẳng chai tới tâm của trục vòi chiết và bàn nâng
Xả khí CO2 vào chai trước cho cân bằng với áp xuất trong bầu ,sau
đó mở tiếp van xả bia vào chai .Khi xả bia phảI xả từ từ cho bia hoà đều xung
quanh để tránh tạo bọt áp xuất dư gây áp đối kháng ở giai đoạn cuối gây vơI

bộ góp hơi trong khoang
-Các ống trong bể dưới của giàn chạy chai thông qua theo từng khoang
có tác dụng trao đổi nhiệt độ tăng dần đến một nhiệt độ tối đa 60-62 độ C rồi
giảm dần (làm mát chai ).Chai được chạy với một lịch trình cài sẵn tổng bằng
45-55 phút cả hành trình .ở mỗi hành trình có một khoảng thời gian nhất định
chai di chuyển ở vùng nhiệt đó
25

Trích đoạn CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status