Luận văn
Đầu tư quốc tế và vai trò của
FDI đối với sự phát triển
kinh tế đối với Việt Nam
1
Chương 1: Đầu tư quốc tế và vai trò của FDI đối với sự
phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
I. Lý luận về đầu tư quốc tế:
1. Khái niệm đầu tư quốc tế:
Đầu tư quốc tế là một quá trình kinh tế trong đó các nhà đầu tư nước
ngoài ( tổ chức hoặc cá nhân) đưa vốn hoặc bất kỳ hình thức giá trị nào
vào nước tiếp nhận đầu tư để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh
doanh, dịch vụ nhằm thu lợi nhuận hoặc đạt được các hiệu quả xã hội.
Hợp tác đầu tư quốc tê giữa các nước là xu hướng có tính quy luật trong
điều kiện tăng cường quốc tế hóa đời sống kinh tế hiện nay
2. Các hình thức đầu tư quốc tế:
2.1 Đầu tư gián tiếp:
Đây là hình thức đầu tư quốc tế mà người bỏ vốn và người sử dụng vốn
là hai chủ thể khác nhau.Đầu tư quốc tế được thực hiện theo các dạng sau
đây:
Đây là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn đầu tư và người sủ dụng
vốn là một chủ thể. Có nghĩa là các doanh nghiệp, các cá nhân người
nước ngoài (các chủ đầu tư) trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý, sử
dụng vốn đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư nhằm thu hồi vốn đã bỏ
ra.
Trong thực tiễn đầu tư trực tiếp được thực hiện dưới các dạng sau đây:
+ Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh:
Đây là một loại hình đầu tư trong đó các bên tham gia hợp đồng ký
kết thỏa thuận để tiến hành một hoặc nhiều hoạt động sản xuất kinh
doanh ở nước nhận đầu tư, trên cơ sở quy định rõ đối tượng, nội
dung kinh doanh, nghĩa vụ, trách nhiệm và phân chia kết quả kinh
doanh cho các bên tham gia.
Hợp đồng hợp tác kinh doanh do đại diện có thẩm quyền của các
bên hợp danh ký. Thời gian có hiệu lực của hợp đồng do các bên
thỏa thuận và được cơ quan có thẩm quyền của nước nhận đầu tư
chuẩn y.
3
+ Doanh nghiệp liên doanh: Do các bên nước ngoài với nước chủ
nhà cùng góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi và chia sẻ rủi ro
theo tỷ lệ vốn góp. Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo
hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo
pháp luật nước nhận đầu tư. Mỗi bên liên doanh chiu trách nhiệm
đối với bên kia, với doanh nghiệp liên doanh trong phạm vi phần
vốn của mình trong vốn pháp định. Tỷ lện góp vốn của bên nước
ngoài hoặc các bên nước ngoài do các bên liên doanh thỏa thuận.
+ Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: Là doanh nghiệp thuộc sở
hữu của nhà đầu tư nước ngoài (tổ chức hoặc cá nhân người nước
cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường thế giới.
- Sự phát triển của các phương tiện giao thông, thông tin, liên
lạc… đã giúp cho các chủ đầu tư mở rộng không gian đầu tư.
- Thể chế chính trị, kinh tế - xã hội của các quốc gia đã có nhiều
thay đổi phù hợp với xu thế quốc tế hóa lực lượng sản xuất.
- Tình hình an ninh quốc tế ngày càng tốt hơn, đặc biệt là thời kỳ
hậu chiến tranh lạnh, cùng với toàn cầu hóa là xu hướng khu
vực hóa kinh tế thế giới.
II. Vai trò của đầu tư trực tiếp FDI đối với nước nhận đầu tư và
nước đi đầu tư:
1. Vai trò đối với nước nhận đầu tư
1.1.Tác động tích cực:
- Tăng trưởng kinh tế: FDI tác động tích cực đến các yếu tố quan
trọng quyết định đến sự tăng trưởng: bổ sung vốn trong nước và
cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, tiếp nhận chuyển giao công
nghệ hiện đại, kỹ xảo chuyên môn và phát triể khả năng công nghệ
nội địa, phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm, thúc đẩy xuất
nhập khẩu và tiếp cận với thị trường thế giới, tạo liên kết giữa các
ngành công nghiệp.
- FDI là một trong những nguồn quan trọng để bù đắp sự thiếu hụt về
vốn, ngoại tệ của các nước nhận đầu tư đặc biệt là đối với các nước
đang phát triển. Hầu hết các nước đang phát triển đều rơi vào
"vòng luẩn quẩn" đó là: thu nhập thấp dẫn đến tiết kiệm thấp, vì
vậy đầu tư thấp rồi hậu quả lại là thu nhập thấp. Tình trang luẩn
5
quẩn này chính là "điểm nút" khó khăn nhất mà các nước này phải
vượt qua để hội nhập vào quỹ đạo tăng trưởng kinh tế hiện đại.
6
năm gần đây, các hình thức này thường đan xen nhau với các đặc
điểm rất đa dạng, Phần lớn công nghệ được chuyển giao giữa các
chi nhánh của TNCs sang nước đang phát triển ở hình thức 100%
vốn nước ngoài và doanh nghiệp liên doanh có phần lớn vốn nước
ngoài, dưới các hạng mục chủ yếu như những tiến bộ công nghệ,
sản phẩm công nghệ, công nghệ thiết kế và xây dựng, kỹ thuật
kiểm tra chất lượng, công nghệ quản lý, công nghệ marketing.
Nhìn chung các TNCs rất hạn chế chuyển giao những công nghệ
mới có tính cạnh tranh cao cho các chi nhánh của chúng ở nước
ngoài vì sợ lộ bí mật hoặc mất bản quyền công nghệ do việc bắt
chước, cải biến hoặc nhái lại công nghệ của công ty nước chủ nhà.
Bên cạnh việc chuyển giao công nghệ sẵn có, thông qua FDI các
TNCs còn góp phần tích cực đối với tăng cường năng lực nghiên
cứu và phát triển công nghệ của nước chủ nhà. Các hoạt động
nghiên cứu và phát triển của các chi nhánh TNCs ở nước ngoài đó
là cải biến công nghệ cho phù hợp với điều kiện sử dụng của địa
phương. Dù vậy, các hoạt động cải tiến công nghệ của các doanh
nghiệp đầu tư nước ngoài đã tạo ra nhiều mối quan hệ liên kết cung
cấp dịch vụ công nghệ từ các cơ sỏ nghiên cứu, ứng dụng công
nghệ trong nước. Nhờ đó đã gián tiếp tăng cường năng lực phát
triển công nghệ địa phương. Mặt khác, trong quá trình sử dụng
công nghệ nước ngoài, các nhà đầu tư và phát triển công nghệ
trong nước học được cách thiết kế, chế tạo…công nghệ nguồn, sau
đó cải biến cho phù hợp với điều kiện sử dụng của địa phương và
biến chúng thành công nghệ của mình. Nhờ những tác động tích
cực trên, khả năng công nghệ của nước chủ nhà được tăng cường,
vì thế nâng cao năng suất các thành tố, nhờ đó thúc đẩy tăng
trưởng.
1.2.Tác động tiêu cực:
- Khi tiếp nhận FDI có nghĩa là nước chủ nhà đã mở cửa giao lưu với
nền văn hóa các dân tộc trên thế giới, do đó ngoài việc tiếp thu
những điều tốt đẹp không thể tránh khỏi việc du nhập những lối
sống không tốt cho nền văn hóa dân tộc…
- FDI có thể là mối đe dọa đến an ninh kinh tế của nước chủ nhà
thông qua thao túng một số ngành sản xuất quan trọng, những hàng
8
hóa thiết yếu hoặc đẩy mạnh đầu cơ, buôn lậu, rút chuyển vốn đi
nơi khác… Hơn thế nữa, vì mục tiêu theo đuổi lợi nhuận cao,
không loại trừ việc các tập đoàn xuyên quốc gia TNCs có thể can
thiệp gián tiếp vào các vấn đề chính trị của nước chủ nhà.
- Các nước đang phát triển có nguy cơ trở thành bãi rác công nghệ do
chuyển giao công nghệ cũ, công nghệ không phù hợp với điều kiện
của các nước đang phát triển, giá cả đắt hơn thực tế làm cho phía
nước chủ nhà bị thiệt thòi trong quá trình chia lợi nhuận do định
giá công nghệ quá cao so với giá trị thực tế của nó.
- Sàn xuất và quảng cáo sàn phẩm ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con
người như: rượu bia, thuốc lá, thực phẩm sử dụng nhiều hóa chất.
- Coi thường lao động, xúc phạm lao động trong một số trường hợp,
khai thác cạn kiệt sức lao động của người làm thuê, làm tăng
khoảng cách giàu nghèo giữa các cá nhân, giữa các vùng…
2. Vai trò của FDI đối với nước đi đầu tư:
Đối với các nước đi đầu tư, vai trò của FDI chủ yếu thể hiện ở những
tác động tích cực, cụ thể ở một số khía cạnh như sau:
- Khi thị trường trong nước đã bão hòa về một lọa sản phẩm nào đó
thì việc đầu tư ra nước ngoài vẫn đem lại một khoản lợi nhuận cao
góp của các bên khi tham gia, còn đối với doanh nghiệp 100% vốn
nước ngoài thì người nước ngoài (chủ đầu tư) toàn quyền quản lý
doanh nghiệp.
Lợi nhuận của nhà đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào kết quả hoạt
động kinh doanh và được phân chia theo tỷ lệ vốn góp.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài được thông qua việc xây dựng doanh
nghiệp mới, mua lại toàn bộ hoặc từng phần doanh nghiệp đang hoạt
động hoặc sát nhập các doanh nghiệp với nhau.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ gắn liền với di chuyển vốn mà
còn gắn liền với chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và
kinh nghiệm quản lý và tạo ra thị trường mới cho cà phía đầu tư và
phía nhận đầu tư.
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài hiện nay gắn liền với các hoạt động
kinh doanh quốc tế của các công ty đa quốc gia.
10
Đầu tư trực tiếp nước ngoài ít chịu sự chi phối của Chính phủ và do
các nhà đầu tư hoặc doanh nghiệp tư nhân thực hiện, đặc biệt ít bị phụ
thuộc vào mối quan hệ giữa nước của chủ đầu tư và nước gián tiếp
nhận đầu tư so với các hình thức di chuyển vốn khác như ODA.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo một nguồn vốn dài hạn cho nước chủ
nhà. Do đó, nước chủ nhà sẽ được tiếp nhận một nguồn vốn lớn bổ
sung cho vốn đầu tư trong nước mà không phải lo trả nợ.
Trong đầu tư trực tiếp nước ngoài quyền sở hữu và quyền sử dụng
gắn liền với chủ đầu tư. Thành viên của hội đồng quản trị và việc điều
hành, quản lý quá trình sản xuất kinh doanh được phân theo tỷ lệ vốn
góp. Quyền lợi của chủ đầu tư được gắn liền với lợi ích do đầu tư
mang lại.
2. Xu hướng của đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới:
đầu tư Anh, Hoa Kỳ giảm dần. Trong đó sự phát triển mạnh mẽ về kinh
tế và sự tăng giá của các đồng tiền, vai trò của các chủ đầu tư Nhật,
Pháp, Đức… có xu hướng tăng lên (đặc biệt là các chủ đầu tư Nhật Bản)
2.4. Có sự thay đổi về cơ cấu và lĩnh vực đầu tư: Hiện này, hoạt động đầu
tư trực tiếp nước ngoài vào một số ngành có xu hướng tăng như: Công
nghệ chế biến, công nghệ cao, dịch vụ, ngân hàng…Còn các ngành như:
Thực phẩm, khai thác tài nguyên thiên nhiên, sử dụng nhiều lao động có
xu hướng giảm dần. Các chủ đầu tư thường tập trung vào các dự án có
quy mô nhỏ, tài nguyên chất lượng, có sự ưu đãi của chính phủ và tận
dụng thị trường nước sở tại
2.5. Khu vực Đông Á và Đông Nam Á đang trở thành nơi hấp dẫn đầu tư
trực tiếp nước ngoài: Khu vực Đông Á và Đông Nam Á có tốc độ tăng
trưởng kinh tế khá cao và ổn định. Các quốc gia trong khu vực ban hành
chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài tạo ra môi trường đầu tư ổn
đinh, thông thoáng. Ngoài ra, sự tăng giá của đồng Yên Nhật và chính
sách đầu tư ra nước ngoài của Nhật Bản và một số quốc gia khác cũng
góp phần không nhỏ trong việc làm tăng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào khu vực này.
12
Đồ thị : tốp 10 quốc gia thu hút nhiều FDI nhất Châu Á
Theo đồ thị thì trong 10 quốc gia thu hút FDI nhiều nhất Châu Á thì có
tới 5 quốc gia thuộc khi vực Đông Nam Á trong đó có Việt Nam.
IV. Kinh nghiệm của Trung Quốc:
Trung Quốc được coi là một quốc gia thành công trong việc thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cho quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa.
Từ thập kỷ 80, Trung Quốc đã xuất hiện trong danh sách 10 nước đang
phát triển đứng đầu thế giới về thu hút FDI. Đặc biệt, trong những năm
được chi phí đầu tư.
Như vậy, với hàng loạt các chính sách khuyến khích đầu tư nước
ngoài cùng với những tiềm năng vốn có của đất nước Trung Quốc đã
được đánh giá là nước có môi trường đầu tư thuận lợi nhất Châu Á.
Vì vậy, nhằm thu hút được các dự án đầu tư mới từ Hoa Kỳ và giành
được sự tin cậy từ những doanh nghiệp đã đầu tư vào Viêt Nam thì
cần phải cải thiện môi trường đầu tư để không thua kém so với Trung
Quốc và các nước trong khu vực.
14
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
CỦA MỸ TẠI VIỆT NAM
I. Tác động của hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ đến đầu tư
FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam
1. Nội dung chủ yếu về hoạt động đầu tư giữa Việt Nam và Hoa Kỳ theo
tinh thần Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ:
Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) có hiệu lực tháng
12.2001
Những nội dung chủ yếu về quan hệ đầu tư giữa Việt Nam và Hoa Kỳ
được trình bày trong Chương 4 gồm 15 điều của Hiệp định. Ngoài ra, nội
dung về quan hệ đầu tư còn được trình bày ở Phụ lục H và I; các thư trao đổi
của đại diện 2 phía tham gia ký kết hiệp định thương mại về chế độ cấp giấy
phép đầu tư; và ở Điều 1, Điều 4 Chương 7 của Hiệp định.
Nội dung về quan hệ đầu tư giữa Việt Nam và Hoa Kỳ thể hiện trong
người Việt Nam, và hạn chế số vấn đề cần phải đạt được sự đồng thuận
trong Hội đồng Quản trị (tức là những vấn đề mà thành viên Việt Nam được
quyền phủ quyết).
Phân biệt giá.
- Loại bỏ dần mọi phân biệt về giá đối với các nhà đầu tư hoặc cá nhân Mỹ
(về điện nước, giao thông, thuê nhà cửa, v.v ) ngay hoặc sau 2-4 năm tuỳ
theo loại giá.
Quan hệ đầu tư giữa hai Bên Hoa Kỳ và Việt Nam về cơ bản được thiết
lập dựa trên 2 nguyên tắc: Đối xử quốc gia và đối xử Tối huệ quốc.
Nguyên tắc Đối xử quốc gia trong hoạt động đầu tư được hiểu là các
khoản đầu tư như: việc thành lập, mua lại, mở rộng, quản lý, điều hành, vận
hành, bán hoặc định đoạt đầu tư bằng các cách khác, mỗi Bên dành cho Bên
khi họ hoạt động đầu tư trên đất nước mình sự đối xử không kém thuận lợi
hơn sự đối xử dành cho các khoản đầu tư của công dân hoặc công ty của
nước mình. Điều đó có nghĩa là các doanh nghiệp trong nước được hưởng
những quyền lợi và nghĩa vụ nào trong hoạt động đầu tư thì các nhà đầu tư
nước ngoài cũng có những nghĩa vụ và quyền lợi tương tự, hay nói cách
khác, các nhà đầu tư Việt Nam được hưởng những ưu đãi và thuận lợi nào
16
trong hoạt động đầu tư thì cũng phải dành cho công dân và các công ty Mỹ
những ưu đãi và điều kiện tương tự (thực hiện bình đẳng giữa các nhà đầu tư
trong và ngoài nước).
Nguyên tắc Tối huệ quốc trong hoạt động đầu tư được hiểu là các
khoản đầu tư như: việc thành lập, mua lại, mở rộng, quản lý, điều hành, vận
hành, bán hoặc định đoạt đầu tư bằng các cách khác mỗi Bên dành cho Bên
kia khi họ hoạt động đầu tư trên đất nước mình sự đối xử không kém thuận
lợi hơn sự đối xử dành cho các khoản đầu tư của công dân hoặc công ty của
nước thứ ba trên lãnh thổ của mình. Điều đó có nghĩa là Việt Nam đã dành
những ưu đãi thuận lợi nào cho công dân hoặc công ty của một nước thứ ba
Sau 9 năm
17
2. Đánh giá tác động
Đánh giá tác động sau 5 năm thực hiện Hiệp định Thương mại song phương
Việt Nam - Hoa Kỳ đối với thương mại, đầu tư và cơ cấu kinh tế của Việt
Nam, các chuyên gia của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Cục
Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Cơ quan Phát triển quốc tế
Hoa Kỳ (USAID) nhận định, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tăng mạnh, nhất
là trong những lĩnh vực mà Việt Nam có thể mạnh xuất khẩu.
Chuyên gia Steve Perker của Dự án Hỗ trợ thúc đẩy thương mại (Star - Việt
Nam) của USAID cho biết, tác động kinh tế trực tiếp nhất của BTA là việc
trao Quy chế quan hệ thương mại bình thường (MFN) cho hàng Việt Nam.
Thị trường Hoa Kỳ vừa được mở cửa là một lối thoát cho lợi thế cạnh tranh
bị dồn nén của Việt Nam, khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài và trong
nước đầu tư vào các ngành nghề có nhiều khả năng xuất khẩu sang Hoa Kỳ.
Minh chứng cho làn sóng đầu tư này là ngay khi Hiệp định được kấ nháy ở
cấp độ kỹ thuật vào năm 1999, lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào
các lĩnh vực này đã tăng mạnh. Riêng trong giai đoạn 1999 - 2005, đầu tư
trực tiếp nước ngoài vào ba lĩnh vực quần áo và hàng dệt may, giày dép, chế
biến gỗ và đồ gỗ đã tăng bảy lần, từ 120 triệu USD trong năm 1999 lên tới
851 triệu USD trong năm 2005 và sau đó tăng gần gấp đôi lên 1,5 tỷ USD
trong năm 2006. Tỷ lệ của các lĩnh vực này trong tổng vốn đầu tư được đăng
kấ tăng từ chỉ 3% trong năm 2006 lên đỉnh điểm là 27% trong năm 2003,
trước khi quay trở về mức 12% trong năm 2006, khi đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào các lĩnh vực khác bắt đầu tăng trưởng mạnh hơn, cũng là khi tác
động chung của Hiệp định và các hoạt động cải cách khác bắt đầu có tác
dụng đối với toàn bộ nền kinh tế.
giá trị gia tăng trong nước. Phần còn lại là của các nguyên liệu đầu vào nhập
khẩu, chủ yếu là từ các nhà cung cấp châu á, sử dụng cho các sản phẩm may
mặc thành phẩm. Giá trị nhập khẩu nói chung của Việt Nam tăng mạnh hơn
giá trị xuất khẩu nên đã tạo ra sự thâm hụt mậu dịch đáng kể, trong đó giá trị
thâm hụt thương mại với các nước còn lại trên thế giới vượt trên cả giá trị
thặng dư thương mại song phương với Hoa Kỳ. Thâm hụt mậu dịch nói
19
chung của Việt Nam tăng từ 1,2 tỷ USD năm 2001 lên 5,1 tỷ USD năm
2006.
Mặc dù vậy, BTA thật sự đã có những tác động mạnh mẽ đến thu hút đầu tư
nước ngoài của Việt Nam. Theo điều tra của Star - Việt Nam, hầu hết các
nhà đầu tư nước ngoài đều cho rằng, BTA có tác động quan trọng đối với
các quyết định đầu tư của họ ở Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài của Hoa Kỳ, tất cả các DN có vốn đầu tư nước ngoài
có xuất khẩu sang Hoa Kỳ và tất cả các DN có vốn đầu tư nước ngoài trong
các ngành dịch vụ. Đồng thời, theo ông Steve Parker, BTA cũng có tác động
gián tiếp nhờ việc cải thiện môi trường kinh doanh, thúc đẩy quá trình gia
nhập WTO của Việt Nam và góp phần cải thiện sự kỳ vọng vào sự tăng
trưởng kinh tế mạnh mẽ và bền vững.
II. THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN FDI CỦA MỸ TẠI VIỆT NAM
1. Quy mô vốn đầu tư
Trong những năm gần đây, sự thay đổi trong môi trường đầu tư của
Việt Nam đã thu hút không ít nhà đầu tư nước ngoài, Trong đó, có không ít
nhà đầu tư của Hoa Kỳ, theo nhận định của các nhà kinh tế thì Việt Nam
đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư Hoa Kỳ.
Theo tính toán của tổng cục thống kê thì trong số các nước đầu tư vào
Việt Nam trong thời gian qua, thì dẫn đầu vẫn là Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật
Hàn Quốc
Nhật Bản
Xingapo
Trung Quốc
Mỹ
Nước khác
Đài Loan
Hàn Quốc
Nhật Bản
Xingapre
Trung Quốc
Mỹ
Nước khác
21
trong giai đoạn này thông qua 3 hình thức: Thứ nhất là hình thức trực tiếp,
thứ hai là hình thức gián tiếp bằng việc các doanh nghiệp Hoa kỳ mua cổ
phần của các doanh nghiệp Việt Nam và trở thành những đối tác chiến lược;
hình thức thứ 3 là cung cấp tín dụng cho xuất nhập khẩu, phục vụ các dự án
đầu tư cho doanh nghiệp Việt Nam.
Từ đầu năm 2006, khu công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh của
Việt Nam được lựa chọn là điểm đến của Intel sau khi tập đoàn này đã lựa
chọn trên 150 quốc gia. Dự án 605 triệu USD này của Intel cũng đã góp
phần đưa Thành phố Hồ Chí Minh vươn lên đứng đầu trong cả nước về thu
hút đầu tư nước ngoài trong 6 tháng đầu năm 2006, chiếm hơn 30% tổng
vốn đăng ký của cả nước. Và dự án này cũng là “sự đảm bảo vàng” cho các
tập đoàn khác chú ý đến môi trường đầu tư của Việt Nam, không chỉ cho các
nhà đầu tư Hoa Kỳ mà còn của các quốc gia khác.
Tiếp theo đó, chuyến thăm Hoa Kỳ của Chủ tịch nước Nguyễn Minh
Triết và đoàn 150 doanh nghiệp vào đầu năm 2007 với những buổi làm việc
Dự kiến trong 5 năm đầu, mỗi năm EurOrient sẽ đầu tư từ 3 đến 4 dự án với
vốn đầu tư khoảng 1 tỉ USD.
Như vậy, chúng ta có thể thấy được dòng vốn đầu tư của các nhà đầu
tư Hoa Kỳ đang dần chú ý đến Việt Nam. Tuy nhiên cũng có thể nhận thấy
được rằng nguồn vốn này là còn khá khiêm tốn. Vì vậy, để nâng cao dòng
vốn này của các nhà đầu tư Hoa Kỳ, chúng ta cần phải tận dụng các lợi thế
sẵn có, cần phải "gia tốc" hơn nữa và tranh thủ thời gian hơn nữa. Do các
doanh nghiệp Việt Nam đang phải cạnh tranh mạnh mẽ với các doanh
nghiệp khác trong khu vực về lợi thế. Ví dụ khi Intel đầu tư vào Việt Nam,
họ đã đưa lên bàn cân so sánh giữa Việt Nam với các nước khác trong khu
vực như: Trung Quốc, Ấn Độ Do vậy theo tôi việc giải quyết nhanh chóng
các thủ tục hành chính để tính đến lợi ích dài hạn của nền kinh tế có ý nghĩa
rất quan trọng.
Thực tế hiện nay các doanh nghiệp Hoa Kỳ rất quan tâm tới việc đầu
tư vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng, giao thông, điện lực Vì vậy chúng ta phải
giải quyết sớm các yếu kém trong lĩnh vực này. Một ví dụ điển hình là khi
giới thiệu với các doanh nghiệp Hoa Kỳ về các địa điểm đầu tư tại Việt
23
Nam, các doanh nghiệp Hoa Kỳ tỏ ra rất e ngại về vấn đề giao thông, họ nói
rằng họ chấp nhận những điều kiện đầu tư vào các địa điểm đó nhưng vấn đề
giao thông, đi lại tại các khu vực đó quá nhỏ, không đáp ứng được việc lưu
chuyển hàng hoá. Do vậy có thể khẳng định rằng hạn chế về cơ sở hạ tầng
đặc biệt là giao thông vận tải đang là điều mà chúng ta cần quan tâm cần giải
quyết để không chủ tạo sự tin tưởng của các nhà đầu tư Hoa Kỳ mà còn các
nhà đầu tư ở các quốc gia khác.
Cùng với những chuyển biến tích cực trong quan hệ ngoại giao và
kinh tế giữa Việt Nam-Hoa Kỳ trong thời gian qua, chính phủ Việt Nam
Dầu khí là ngành có quy mô đầu tư lớn nhất khoảng 20,6 triệu USD/dự án
với sự hiện diện của nhiều tập đoàn lớn như Unocal và Conoco Đứng tiếp
theo là lĩnh vực dịch vụ có 69 dự án và tổng vốn đầu tư 791 triệu USD; còn
lại là các dự án trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp.