Hoàn thiện quy trình đánh giá rủi ro trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán tại công ty TNHH kiểm toán và tư vấn phan dũng (PDAC) - Pdf 20


BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
KHOA KẾ TOÁN - TÀI CHÍNH
&&&&& KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Kế Toán Đề tài: Hoàn thiện quy trình đánh giá rủi ro trong giai
đoạn lập kế hoạch kiểm toán tại công ty TNHH
kiểm toán và tƣ vấn Phan Dũng (PDAC).
GVHD: Th. Sĩ Phan Văn Dũng.
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Hƣơng.
MSSV: 4913054030
Lớp: 49DN1 Nha trang, năm 2011

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 01

2.2.3.2 Đánh giá rủi ro kiểm soát trên số dƣ các tài khoản 45
2.2.3.3 Đánh giá rủi ro phát hiện đối với các khoản mục nghiệp vụ 45
2.2.3.4 Đánh giá rủi ro kiểm toán ảnh hƣởng đến thủ tục kiểm toán đƣợc áp dụng
46
2.2.4 Nhận xét về quy trình đánh giá rủi ro trong giai đoạn lập kế hoạch do
PDAC thực hiện 47
CHƢƠNG III: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY
TRÌNH ĐÁNHGIÁ RỦI RO TRONG GIAI ĐOẠN LẬP KẾ HOẠCH KIỂM
TOÁN TẠI PDAC 49
3.1. Tính tất yếu khách quan phải hoàn thiện quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán
trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán: 49
3.1.1 Nhu cầu hội nhập với khu vực và quốc tế trong thời đại mới 49
3.1.2 Định hƣớng chiến lƣợc phát triển của PDAC 51
3.2 Giải pháp hoàn thiện ”quy trình đánh giá rủi ro trong giai đoạn lập kế hoạch
kiểm toán tại PDAC” 51
3.2.1. Hoàn thiện quy trình đánh giá Hệ thống kiểm soát nội bộ 51
3.2.2. Hoàn thiện phƣơng pháp xác định rủi ro cho các khoản mục 54
3.2.3 Hoàn thiện giấy tờ làm việc đánh giá rủi ro kiểm toán 55
3.2.4 Nâng cao năng lực trình độ của kiểm toán viên 56
3.3. Điều kiện thực hiện các giải pháp hoàn thiện 57
KẾT LUẬN 59
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ.
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Luận văn tốt nghiệp GVDH: Th.Sĩ.Phan Văn Dũng

Nguyễn Thị Thanh Hương Page 1

LỜI CẢM ƠN


Từ khi nước ta bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới nền kinh tế theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, vai trò của các doanh nghiệp lớn nhỏ ngày càng quan trọng
trong nền kinh tế quốc dân. Cùng với sự đòi hỏi tính minh bạch của báo cáo tài chính,
nhu cầu sử dụng các dịch vụ kiểm toán của các công ty và doanh nghiệp ngày càng
cao.
Hoạt động kiểm toán đã có lịch sử phát triển lâu dài và gắn liền với quá trình
phát triển của xã hội loài người, để phục vụ nhu cầu xã hội, những lĩnh vực và loại
hình kiểm toán khác nhau đã lần lượt hình thành, trong đó hiện nay kiểm toán độc lập
rất phát triển trong nền kinh tế thị trường.
Hiện nay nhận thức về tầm quan trọng của kiểm toán ngày càng cao từ đó tạo ra
môi trường rất thuận lợi cho các công ty kiểm toán phát triển mở rộng tầm hoạt động,
nhất là ở nước ta hiện nay, kiểm toán là một lĩnh vực còn khá mới.
Tuy nhiên, từ sau sự kiện ENRON thì yêu cầu đòi hỏi về chất lượng kiểm toán
ngày càng chặt chẽ và khắt khe hơn. Đó là một thách thức lớn cho các công ty kiểm
toán. Để chất lượng kiểm toán cao, đòi hỏi kiểm toán viên phải tuân thủ các chuẩn
mực kiểm toán và chuẩn mực chế độ kế toán, hiểu biết rõ về khách hàng, đánh giá rủi
ro tổng thể và chi tiết. Vì vậy để có được một cuộc kiểm toán hữu hiệu và hiệu quả thì
cần thiết phải tiếp cận kiểm toán dựa trên rủi ro. Việc thực hiện đánh giá rủi ro được
thực hiện xuyên suốt trong quá trình kiểm toán. Trong đó quan trọng nhất là giai đoạn
lập kế hoạch kiểm toán. Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn Phan Dũng (viết tắt là
PDAC) là Công ty kiểm toán trong nước, được thành lập trong thời gian chưa lâu nên
việc xây dựng một quy trình chuẩn để đánh giá rủi ro còn nhiều hạn chế.
Chính vì nhận thấy tầm quan trọng của việc đánh giá rủi ro trong giai đoạn lập kế
hoạch kiểm toán báo cáo tài chính nên Em đã chọn Đề tài Khóa luận tốt nghiệp của
mình là: "Hoàn thiện quy trình đánh giá rủi ro trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
tại Công ty TNHH Kiểm Toán và Tư Vấn Phan Dũng ".
 Mục tiêu của đề tài:
Thông qua việc hệ thống hóa những vấn đề lí luận và thực tiễn, đi sâu vào phân tích
rủi ro và đánh giá rủi ro trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán do PDAC thực hiện,
đề tài hướng tới đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện quy trình đánh

Nguyễn Thị Thanh Hương Page 4 CHƢƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO KIỂM TOÁN
TRONG GIAI ĐOẠN LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH

1.1. Lý luận cơ bản về rủi ro kiểm toán
1.1.1 Kiểm toán và rủi ro:
Kiểm toán là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng về những thông tin
được kiểm tra nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa thông tin đó với các
chuẩn mực đã được thiết lập. Quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi các kiểm
toán viên đầy đủ năng lực và độc lập.
Kiểm toán tài chính là hoạt động đặc trưng nhất của kiểm toán bởi nó chứa
đựng đầy đủ các sắc thái kiểm toán ngay từ khi ra đời cũng như trong quá trình phát
triển. Kiểm toán tài chính là quá trình sử dụng các phương pháp kĩ thuật nghiệp vụ và
các thủ tục kiểm toán nhằm thu thập các bằng chứng kiểm toán cần thiết làm cơ sở cho
việc xác minh và bày tỏ ý kiến về tính trung thực và hợp lí của các BCTC đã lập so với
những chuẩn mực chung được chấp nhận. Đối tượng trực tiếp của kiểm toán tài chính
là báo cáo tài chính. Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 700 đoạn 07: “Ý kiến của
kiểm toán viên đưa ra trên báo cáo kiểm toán một sự đảm bảo chắc chắn rằng báo cáo
tài chính đã phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu; Nhưng không
đảm bảo tuyệt đối rằng không có bất kì một sai sót nào trên báo cáo tài chính đã được
kiểm toán. Kiểm toán viên chỉ quan tâm đến các yếu tố trọng yếu của các báo cáo tài
chính”.
Giới thiệu chu trình kiểm toán
Chu trình của một cuộc kiểm toán được chia thành 03 giai đoạn: (1) Kế hoạch kiểm
toán; (2) Thực hiện kiểm toán; và (3) Tổng hợp, kết luận và lập báo cáo.
Các cột dọc màu xanh nhạt chỉ các hoạt động kiểm toán xuyên suốt toàn bộ giai đoạn
của cuộc kiểm toán. Ô màu xanh da trời đậm là các bước kiểm toán và giấy tờ làm
việc của bước này bắt buộc phải được Giám đốc hoặc thành viên BGĐ phụ trách cuộc

những vấn đề tiềm ẩn; và đảm bảo cuộc kiểm toán được tiến hành đúng thời hạn”
. Kế hoạch kiểm toán trợ giúp KTV phân công công việc cho trợ lí kiểm toán và phối
hợp với KTV và chuyên gia khác về công việc kiểm toán. Như vậy trên mức độ trọng
yếu được xác định cho toàn bộ BCTC và phân bổ cho từng khoản mục, KTV cần đánh
giá khả năng xảy ra sai sót trọng yếu ở toàn bộ BCTC cũng như từng khoản mục để
phục vụ cho việc thiết kế các thủ tục kiểm toán và xây dựng chương trình cho từng
khoản mục. Công việc này được gọi là đánh giá rủi ro kiểm toán. Đánh giá rủi ro là
vấn đề hết sức quan trọng và có ảnh hưởng lớn đến chất lượng của mọi cuộc kiểm
toán. Để tìm hiểu về quy trình đánh giá rủi ro ta cần phải hiểu thế nào là rủi ro và việc
nhận diện từng loại rủi ro.
Rủi ro kiểm toán là rủi ro xảy ra khi KTV và Công ty kiểm toán đưa ra kết luận
về BCTC của khách hàng được trình bày trung thực và hợp lí trên các khía cạnh trọng
yếu, qua đó KTV đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần đối với BCTC của khách hàng.
Trên thực tế, BCTC của khách hàng vẫn luôn tiềm ẩn những sai sót trọng yếu. Rủi ro
chọn mẫu và rủi ro không chọn mẫu kiểm toán là hai bộ phận quan trọng ảnh hưởng
đến rủi ro kiểm toán. Rủi ro kinh doanh trong lĩnh vực kiểm toán là rủi ro xảy ra khi
đó KTV và công ty kiểm toán phải chịu thiệt hại trong mối quan hệ với khách hàng, do
những sai phạm trong việc cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Để kiểm soát được rủi ro
kiểm toán công việc của các KTV đó là đánh giá rủi ro kiểm toán. Việc đánh giá rủi ro
kiểm toán cần được quan tâm và thực hiện ngay từ trước khi chấp nhận kiểm toán và
đặc biệt là trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán.
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 400 (VSA 400) giải thích về rủi ro kiểm toán như
sau: “Rủi ro kiểm toán là rủi ro do KTV và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến nhận xét
không thích hợp trong khi BCTC đã được kiểm toán vẫn còn chứa đựng những sai sót
Luận văn tốt nghiệp GVDH: Th.Sĩ.Phan Văn Dũng

Nguyễn Thị Thanh Hương Page 7

trọng yếu. Rủi ro kiểm toán bao gồm ba bộ phận: rủi ro tiềm tàng; rủi ro kiểm soát và
rủi ro phát hiện”.
Rủi ro mong muốn
Bằng chứng kiểm toán (Chi phí)
Mức rủi ro kiểm toán
Luận văn tốt nghiệp GVDH: Th.Sĩ.Phan Văn Dũng

Nguyễn Thị Thanh Hương Page 8

1.1.2 Các loại rủi ro kiểm toán
Đối tượng của kiểm toán là những thông tin được kiểm toán qua nhiều giai
đoạn bằng các bộ máy kiểm toán khác nhau nên rủi ro kiểm toán cũng được xác định
tương ứng với đối tượng kiểm toán từng loại: Rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và rủi
ro phát hiện.
Rủi ro tiềm tàng (Inherent Risk) – IR là khả năng tồn tại các sai phạm trọng yếu
trong bản chất các đối tượng kiểm toán (chưa tính đến sự tác động của bất cứ hoạt
động kiểm toán nào kể cả kiểm soát nội bộ). Từng khoản mục và nghiệp vụ trên BCTC
luôn chứa đựng những sai sót trọng yếu mặc dù có hay không có sự xuất hiện của hệ
thống kiểm soát nội bộ. Mức rủi ro tiềm tàng phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của
khách thể kiểm toán, loại hình kinh doanh và cả năng lực nhân viên của khách thể
kiểm toán. Kiểm toán viên không tạo ra và cũng không kiểm soát rủi ro tiềm tàng mà
họ chỉ có thể đánh giá chúng. Rủi ro tiềm tàng là một khái niệm quan trọng trong kiểm
toán. Để đánh giá rủi ro tiềm tàng KTV phải dựa vào kinh nghiệm và óc xét đoán của
mình để từ đó dự đoán nơi nào trong BCTC chứa đựng sai sót nhiều nhất. Những sai
sót riêng lẻ hoặc kết hợp sẽ làm sai lệch thông tin trên BCTC và làm ảnh hưởng đến
người sử dụng thông tin trên BCTC. Sai sót đó có thể là cố ý hoặc vô ý song vẫn ảnh
hưởng đến số dư các tài khoản.
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 400 (VSA 400) cho rằng: “ Rủi ro tiềm tàng là rủi
ro tiềm ẩn, vốn có do khả năng từng nghiệp vụ, từng khoản mục trong BCTC chứa
đựng những sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp, mặc dù có hay không có

chặn hết hoặc không phát hiện và sửa chữa kịp thời”.
Như vậy, một cách chung nhất rủi ro kiểm soát là sự đánh giá về cơ cấu của hệ thống
kiểm soát nội bộ của khách hàng có hiệu quả với việc ngăn chặn, phát hiện các sai sót
hay không. Mục đích của KTV là đánh giá rủi ro kiểm soát của khách hàng ở một mức
nhỏ hơn mức tối đa trong khi lập kế hoạch kiểm toán. Kiểm toán viên đánh giá hệ
thống kiểm soát nội bộ của khách hàng hoạt động không hiệu quả trong việc ngăn
ngừa và phát hiện các sai phạm thì sẽ phân bổ 100% yếu tố rủi ro cho rủi ro kiểm soát.
Kiểm toán viên xét thấy hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng hoạt động có hiệu
quả thì yếu tố rủi ro được phân bổ cho rủi ro kiểm soát ở mức thấp.
Rủi ro kiểm soát có mối quan hệ tỉ lệ thuận với số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu
thập và quan hệ tỉ lệ nghịch với rủi ro phát hiện. Thí dụ, nếu KTV kết luận là hệ thống
kiểm soát nội bộ của khách hàng hoạt động có hiệu quả, rủi ro phát hiện có thể tăng
lên và do đó rủi ro kiểm soát giảm xuống. Rủi ro kiểm soát giảm xuống thì số lượng
bằng chứng kiểm toán cần thu thập sẽ giảm xuống. Kiểm toán viên có thể tăng mức rủi
ro phát hiện (tức là giảm rủi ro kiểm soát) khi xét thấy hệ thống kiểm soát nội bộ của
khách hàng hoạt động tốt, bởi vì khi hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động tốt thì sẽ làm
giảm các sai sót trong BCTC.
Do những hạn chế cố hữu của hệ thống kiểm soát nội bộ nên rủi ro kiểm soát luôn xuất
hiện và khó tránh khỏi.
Rủi ro phát hiện (Detection Risk) – DR là khả năng mà các thủ tục kiểm toán
không phát hiện được các sai phạm trọng yếu. Văn bản chỉ đạo Kiểm toán Quốc tế Số
25 cho rằng: “Rủi ro phát hiện là những rủi ro mà kiểm toán không phát hiện ra các
sai sót hiện có trong các số dư tài khoản, các loại nghiệp vụ. Các sai sót này có thể là
các sai sót nghiêm trọng xảy ra đơn lẻ hoặc có thể kết hợp với các sai sót trong số dư
các nghiệp vụ khác. Mức rủi ro phát hiện có quan hệ trực tiếp với những phương pháp
của KTV”.
Chuẩn mực Kiểm toán Số 400 (VSA 400) cho rằng: “Rủi ro phát hiện là rủi ro xảy ra
sai sót trọng yếu trong từng nghiệp vụ và từng khoản mục trong BCTC khi tính riêng
rẽ hoặc tính gộp mà trong quá trình kiểm toán, KTV và công ty kiểm toán không phát
hiện được”.

mà KTV sẵn sàng chấp nhận do không thể tìm ra các sai sót nghiêm trọng trong các
BCTC bằng các phương pháp kiểm toán, với giả định rằng hệ thống kiểm soát nội bộ
của khách hàng có hoạt động nhưng không thể phát hiện và sữa chữa các sai sót.
Thông qua mức rủi ro phát hiện xác định kiểm toán viên có thể xác định số lượng bằng
chứng kiểm toán cần thu thập. Khi rủi ro phát hiện là thấp, KTV không chấp nhận
những rủi ro của những bằng chứng không phát hiện ra sai sót và cần phải thu thập
một số lượng bằng chứng đáng kể. Khi KTV chấp nhận rủi ro phát hiện tăng lên thì số
lượng bằng chứng kiểm toán sẽ giảm đi.
1.1.3 Mối quan hệ giữa các loại rủi ro - Mô hình rủi ro kiểm toán
Trong kiểm toán thường đề cập đến ba loại rủi ro chính là rủi ro tiềm tàng, rủi
ro kiểm soát và rủi ro phát hiện. Ba rủi ro này là những bộ phận cấu thành rủi ro kiểm
toán và giữa chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau. Rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm
soát là hai loại rủi ro tồn tại độc lập khách quan, KTV không tạo ra và cũng không thể
kiểm soát được chúng. KTV chỉ có thể thông qua thu thập bằng chứng kiểm toán tại
đơn vị khách hàng và bằng kinh nghiệm của mình để đánh giá mức độ của chúng. Rủi
ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát có mức độ lớn hay nhỏ phụ thuộc rất lớn vào ngành
Luận văn tốt nghiệp GVDH: Th.Sĩ.Phan Văn Dũng

Nguyễn Thị Thanh Hương Page 11

nghề kinh doanh cũng như môi trường pháp lí mà khách hàng đang hoạt động. Không
những thế, hai loại rủi ro này còn phụ thuộc vào bản chất của các số dư tài khoản và
nghiệp vụ kinh tế đặc thù tương ứng với ngành nghề kinh doanh của khách hàng. Rủi
ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát có mối quan hệ tỉ lệ nghịch nên trong các cuộc kiểm
toán, KTV thường kết hợp cùng một lúc đánh giá mức độ của hai loại rủi ro này. Trái
với rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, rủi ro phát hiện là loại rủi ro mà KTV phải sử
dụng những phương pháp kiểm toán phù hợp để phát hiện, kiểm soát và quản lí.
Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ giữa các loại rủi ro kiểm toán
Rủi ro phát hiện Sai sót không được KSNB phát hiện
Rủi ro kiểm toỏn Sai sót không được KTV phỏt hiện
Luận văn tốt nghiệp GVDH: Th.Sĩ.Phan Văn Dũng

Nguyễn Thị Thanh Hương Page 12

Mô hình (1) biểu thị mối quan hệ giữa các loại rủi ro kiểm toán. Mô hình này được
kiểm toán viên sử dụng để điều chỉnh mức rủi ro phát hiện để có mức rủi ro kiểm toán
mong muốn. Hay nói cách khác, mô hình (1) dùng để đánh giá tính hợp lí của kế
hoạch kiểm toán đã được lập. Thí dụ: KTV muốn thực hiện một cuộc kiểm toán cụ thể
và muốn rủi ro kiểm toán đạt được ở mức tương đối thấp (ví dụ là 0.05 có nghĩa là
bình quân có khoảng 5% các quyết định kiểm toán là không chính xác). Tất cả các rủi
ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát đều được đánh giá dựa trên kinh nghiệm và nhận định
nghề nghiệp của kiểm toán viên và có minh chứng cụ thể. Giả sử trong trường hợp
này, KTV cho rằng rủi ro tiềm tàng đối với đối tượng kiểm toán là rất lớn (KTV đánh
giá mức rủi ro tiềm tàng là 0.9). Qua nghiên cứu, KTV cho rằng hệ thống kiểm soát
nội bộ của khách hàng hoạt động không hiệu quả lắm nên KTV đánh giá mức độ rủi ro
kiểm soát ở mức 0.7. Nếu như, KTV muốn đạt được mức rủi ro kiểm toán ở mức thấp
như mong muốn (AR= 0.05) thì các thủ tục kiểm toán cần phải được KTV thiết lập
hợp lí sao cho rủi ro phát hiện không được vượt quá 0.08.
Theo mô hình rủi ro (1), với những dự kiến đã nêu ta có kết quả như sau:
AR = IR * CR * DR
0.05 = 0.9 * 0.7 * DR  DR = 0.08
Nếu KTV nhận thấy mức rủi ro phát hiện là cao thì KTV có thể điều chỉnh mức rủi ro
kiểm toán mong muốn để giảm mức rủi ro phát hiện xuống, nhưng rủi ro kiểm toán
phải ở mức thấp cho phép.
Trên thực tế, rủi ro kiểm toán mong muốn thường được xác định từ khi lập kế hoạch

không cần đến các bước thu thập bằng chứng kiểm toán:
AR = IR*CR (=0)*DR =0
Thứ ba, KTV không thể được xem là đã thận trọng nghề nghiệp thích đáng nếu như rủi
ro của việc không phát hiện các sai phạm trọng yếu trong đối tượng kiểm toán ở mức
quá cao
Mối quan hệ giữa các loại rủi ro còn được minh họa bằng bảng sau:
Bảng 1.1: Mối quan hệ giữa các loại rủi ro
Rủi ro phát hiện được KTV
tính toán Đánh giá của kiểm toán viên về
rủi ro kiểm soát
Cao
Trung bình
Thấp
Đánh giá của
kiểm toán viên về
rủi ro tiềm tàng
Cao
Thấp nhất
Thấp
Trung bình
Trung bình
Thấp
Trung bình
Cao
Thấp
Trung bình
Cao

hiện (DR)
SLBằng chứng
cần thu thập
1
Cao
Thấp
Thấp
Cao
Thấp
2
Thấp
Thấp
Thấp
Trung bình
Trung bình
3
Thấp
Cao
Cao
Thấp
Cao
4
Trung bình
Trung bình
Trung bình
Trung bình
Trung bình
5
Cao
Thấp

báo cáo tài chính.
Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hay thông tin
đó thiếu chính xác thì sẽ ảnh hưởng đến các quyết định của người sử dụng báo cáo tài
chính. Mức độ trọng yếu tuỳ thuộc vào tầm quan trọng của thông tin hay của sai sót
được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể. Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét
cả trên tiêu chuẩn định lượng và định tính.
Khi lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên phải xem xét đến các nhân tố có thể
làm phát sinh những sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính. Đánh giá của kiểm toán
viên về mức trọng yếu liên quan đến số dư các tài khoản và các loại giao dịch chủ yếu
sẽ giúp kiểm toán viên xác định được các khoản mục cần được kiểm tra và quyết định
nên áp dụng thủ tục chọn mẫu hay thủ tục phân tích. Việc đánh giá mức trọng yếu liên
quan đến số dư các tài khoản và các loại giao dịch chủ yếu sẽ giúp kiểm toán viên lựa
chọn được những thủ tục kiểm toán thích hợp và việc kết hợp các thủ tục kiểm toán
thích hợp đó với nhau sẽ làm giảm được rủi ro kiểm toán tới mức độ có thể chấp nhận
được.
Trong một cuộc kiểm toán, mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán có mối quan hệ tỷ lệ
nghịch với nhau: mức trọng yếu càng cao thì rủi ro kiểm toán càng thấp và ngược lại.
Kiểm toán viên phải cân nhắc đến mối quan hệ này khi xác định nội dung, lịch trình và
phạm vi của các thủ tục kiểm toán một cách thích hợp, như: khi lập kế hoạch kiểm
toán, nếu kiểm toán viên xác định mức trọng yếu có thể chấp nhận được là thấp thì rủi
ro kiểm toán sẽ tăng lên. Trường hợp này kiểm toán viên có thể:
Giảm mức độ rủi ro kiểm soát đã được đánh giá bằng cách mở rộng hoặc thực hiện
thêm thử nghiệm kiểm soát để chứng minh cho việc giảm rủi ro kiểm soát; hoặc giảm
rủi ro phát hiện bằng cách sửa đổi lại nội dung, lịch trình và phạm vi của những thủ tục
kiểm tra chi tiết đã dự kiến.
Trọng yếu và rủi ro kiểm toán trong đánh giá bằng chứng kiểm toán
Kết quả đánh giá mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán của kiểm toán viên ở thời điểm
lập kế hoạch kiểm toán ban đầu có thể khác với kết quả đánh giá ở các thời điểm khác
nhau trong quá trình kiểm toán. Sự khác nhau này là do sự thay đổi tình hình thực tế
hoặc sự thay đổi về sự hiểu biết của kiểm toán viên về đơn vị được kiểm toán dựa trên

Bảng số 1.3 : Quan hệ giữa trọng yếu và rủi ro
Tính
trọng
yếu
Xác định tính trọng yếu ở
mức độ toàn bộ BCTC
Kết hợp với việc xem xét bản chất các khoản
mục để lựa chọn khoản mục kiểm tra làm cơ sở
để phân phối mức trọng yếu cho từng khoản
mục.
Phân bổ mức trọng yếu cho
từng khoản mục trên BCTC
-Xác định đối tượng chi tiết của khoản mục cần
kiểm tra
-Xác định thủ tục kiểm toán thích hợp
Rủi ro
trong
kiểm
toán
Xem xét rủi ro trong kiểm
toán ở mức độ toàn bộ
BCTC
-Xây dựng kế hoạch chiến lược về kiểm toán
-Tổ chức nhân sự kiểm toán và xác định thời
gian, chi phí kiểm toán làm cơ sở đánh giá rủi ro
trong kiểm toán và tính trọng yếu trong từng
khoản mục.
Xem xét rủi ro trong kiểm
toán trên từng khoản mục
trên BCTC

của các thông tin được trình bày trên BCTC, sự phù hợp trong công tác tổ chức bộ
máy quản lý…từ đó đưa ra đánh giá ban đầu về tình hình tài chính của khách hàng.
Công việc đánh giá rủi ro chấp nhận hợp đồng kiểm toán là công việc hết sức
quan trọng và khó khăn, là điều kiện tiên quyết của cuộc kiểm toán. Thông thường
công việc này thường được giao cho những người có trình độ chuyên môn cao và giàu
kinh nghiệm đảm nhận.
1.2.2 Đánh giá rủi ro tiềm tàng trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
Đánh giá rủi ro tiềm tàng là công việc hết sức quan trọng trong giai đoạn lập kế
hoạch kiểm toán. Mức độ rủi ro tiềm tàng được xác định có ảnh hưởng đến các thủ tục
kiểm toán, khối lượng công việc, thời gian và các nguồn lực cần huy động để phục vụ
cho cuộc kiểm toán.
Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 400 (VSA 400) Mục 15 “ Đánh giá rủi ro
và kiểm soát nội bộ” có quy định cụ thể về việc đánh giá rủi ro tiềm tàng trong giai
đoạn lập kế hoạch kiểm toán như sau: “Khi lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên và
công ty kiểm toán phải đánh giá rủi ro tiềm tàng cho toàn bộ báo cáo tài chính của
đơn vị được kiểm toán. Khi lập chương trình kiểm toán, kiểm toán viên phải xác định
cụ thể mức độ rủi ro tiềm tàng cho các số dư hoặc loại nghiệp vụ quan trọng đến từng
cơ sở dẫn liệu, trường hợp không thể xác định cụ thể được thì kiểm toán viên phải giả
định rằng rủi ro tiềm tàng là cao cho cơ sở dẫn liệu đó”.
Các phương pháp mà KTV thường sử dụng để đánh giá rủi ro tiềm tàng đó là
“phương pháp từ đỉnh đến đáy” và “phương pháp từ đáy lên đỉnh’. Phương pháp đánh
giá rủi ro tiềm tàng từ đỉnh xuống đáy đòi hỏi phải thực hiện tuần tự từ trên xuống.
Đầu tiên mức rủi ro tiềm tàng tổng thể được đưa ra, tiếp đó mức rủi ro tiềm tàng cho
từng khoản mục, từng nghiệp vụ sẽ được xác định. Các bước đánh giá rủi ro tiềm tàng
từ đỉnh đến đáy được minh họa ở sơ đồ 1.3 dưới đây. Phương pháp đánh giá rủi ro
tiềm tàng từ đáy lên đỉnh đòi hỏi đánh giá rủi ro tiềm tàng ngay từ đầu cho các khoản
mục nghiệp vụ. Khi có kết quả đánh giá rủi ro tiềm tàng từ các khoản mục nghiệp vụ,
Luận văn tốt nghiệp GVDH: Th.Sĩ.Phan Văn Dũng

Nguyễn Thị Thanh Hương Page 19

Phải thu
Doanh thu
Phải thu nội bộ
Phải thu người mua
Dự phòng nợ phải thu
khó đòi
Luận văn tốt nghiệp GVDH: Th.Sĩ.Phan Văn Dũng

Nguyễn Thị Thanh Hương Page 20

nhiều sai phạm có tính chất hệ thống và các đơn vị thường chậm chạp không tiến hành
các biện pháp sửa chữa chúng.
Năm là, Hợp đồng kiểm toán năm đầu và hợp đồng kiểm toán dài hạn: Trong
các hợp đồng kiểm toán năm đầu, KTV thường thiếu hiểu biết và kinh nghiệm về các
sai sót của đơn vị khách hàng nên họ thường đánh giá rủi ro tiềm tàng cao hơn so với
hợp đồng kiểm toán dài hạn.
Sáu là, Các bên liên quan: các nghiệp vụ giữa Công ty mẹ và Công ty con, và
các nghiệp vụ giữa ban quản trị với việc sát nhập là những ví dụ về các nghiệp vụ kinh
tế giữa các bên liên quan. Những nghiệp vụ này xảy ra giữa hai thành phần độc lập với
nhau, do đó khả năng tồn tại các báo cáo sai phạm giữa họ tăng, rủi ro tiềm tàng sẽ
tăng lên.
Bảy là, Các nghiệp vụ kinh tế không thường xuyên: các nghiệp vụ này có khả
năng bị số sai nhiều hơn là các nghiệp vụ diễn ra hàng ngày do khách hàng thiếu kinh
nghiệm trong hạch toán các nghiệp vụ đó. Do đó, rủi ro tiềm tàng đối với các tài khoản
chứa các nghiệp vụ này được đánh giá cao.
Tám là, Các ước tính kế toán: Rủi ro tiềm tàng của các tài khoản phản ánh các
ước tính kế toán (dự phòng các khoản phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá hàng tồn
kho,…) thường được đánh giá là cao. Nguyên nhân là do việc vào sổ các khoản mục
này không những đòi hỏi sự hiểu biết về bản chất các khoản mục, lý thuyết liên quan
mà còn cả kinh nghiệm và sự phán đoán chủ quan của người thực hiện.

vị phụ thuộc, phạm vi địa lí, hoạt động theo mùa vụ;
Các nhân tố ảnh hưởng đến lĩnh vực hoạt động của đơn vị như: các biến động
về kinh tế, về cạnh tranh, sự thay đổi về thị trường mua, bán và sự thay đổi của hệ
thống kế toán đối với lĩnh vực hoạt động của đơn vị”.
Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, KTV tiến hành đánh giá rủi ro tiềm tàng
trên lần lượt các yếu tố trên, sau đó tiến hành xác định mức rủi ro thích hợp tương ứng với
từng khoản mục trờn BCTC của đơn vị được kiểm toán.
Đánh giá rủi ro tiềm tàng trên số dư các tài khoản nghiệp vụ
Đánh giá rủi ro tiềm tàng trên số dư các tài khoản nghiệp vụ giúp cho KTV tìm
ra các khoản mục, nghiệp vụ có khả năng xảy ra sai phạm trọng yếu. Kiểm toán viên
thường quan tâm đến các vấn đề như: Bản chất của số dư các tài khoản; các sai sót có
thể xảy ra đối với từng nhóm tài khoản; quy mô của số dư tài khoản, tỷ trọng của số dư
tài khoản trong tổng tài sản; kết quả kiểm toán lần trước đối với từng tài khoản; mức
biến động số dư so với năm trước; tài khoản có chứa đựng nhiều ước tính kế toán; tài
khoản có chứa đựng nhiều nghiệp vụ phức tạp. Các nghiệp vụ kinh tế phức tạp, các
nghiệp vụ kinh tế xảy ra bất thường ở năm trước nhưng vẫn có số dư liên quan đến
năm nay là mối quan tâm hàng đầu của các KTV.
Trong Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam Số 400 đoạn 16 có quy định việc đánh
giá rủi ro tiềm tàng trên số dư các tài khoản nghiệp vụ trên những nhân tố chủ yếu
sau:
Luận văn tốt nghiệp GVDH: Th.Sĩ.Phan Văn Dũng

Nguyễn Thị Thanh Hương Page 22

“Báo cáo tài chính có thể chứa đựng những sai sót, như: Báo cáo tài chính có
những điều chỉnh liên quan đến niên độ trước; báo cáo tài chính có nhiều ước tính kế toán,
hoặc trong năm tài chính có sự thay đổi chính sách kế toán;
Việc xác định số dư và số phát sinh của các tài khoản và nghiệp vụ kinh tế,
như: Số dư các tài khoản dự phòng, nghiệp vụ kinh tế đối với chi phí phát sinh sau ghi
nhận ban đầu TSCĐ tính vào chi phí hay tính tăng nguyên giá TSCĐ, ;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status