Bài 1: Tổng quan về Tâm lý học
1 Nội dung
• Một số vấn đề chung về tâm lý học.
• Các học thuyết tâm lý học quản trị.
• Đối tượng, phương pháp nghiên cứu
và nhiệm vụ của môn học. Mục tiêu Hướng dẫn học
• Nắm được đối tượng và các phương pháp
nghiên cứu môn học cơ bản.
• Nắm được các kiến thức cơ bản về tâm
lý học.
• Nội dung và ứng dụng của các học thuyết
tâm lý quản trị. Thời lượng học
• 9 tiết
• Để học tốt bài này cần có cái nhìn tổng
quan về quá trình phát triển của tâm lý
học đặt trong mối quan hệ với khoa
học triết học.
• Trong quá trình học cần có sự so sánh
giữa các học thuyết với nhau để thấy
trình tâm lý (cảm giác, cảm xúc, tri giác, tư duy, tưởng tượng ), các trạng thái tâm lý
(xúc động, tâm trạng ) và các thuộc tính tâm lý (năng khiếu và sở thích, năng lực, tư chất,
tính khí, tính cách ) và các quy luật tâm lý. Tâm lý học cũng nghiên cứu các hoạt
động đặc trưng của con người. Ý thức là yếu tố đặc biệt, cần thiết cho hoạt động tâm
lý chủ yếu của con người. Do đó hiện tượng tâm lý có các chức năng sau:
• Chức năng nhận thức: Tâm lý giúp con người nhận biết được thế giới khách quan,
giúp con người phân tích, đánh giá các sự vật, hiện tượng xảy ra xung quanh họ.
• Chức năng là động lực thúc đẩy hành động: Thông thường động lực của các hoạt
động là những tình cảm nhất định (say mê, tình yêu, căm thù ). Trong các trường
hợp khác cũng có thể là các hiện tượng tâm lý khác còn kèm theo c
ảm xúc như
tưởng tượng, ám thị, hụt hẫng.
• Chức năng kiểm soát: Tâm lý điều khiển kiểm soát quá trình hoạt động bằng một
mẫu hình, chương trình, kế hoạch hay cách thức thực hiện. Tâm lý giúp con người
điều chỉnh hoạt động của mình. Để thực hiện chức năng này con người có trí nhớ
và khả năng phân tích so sánh.
Các hiện tượng tâm lý có nhiều chức nă
ng quan trọng như vậy cho nên trong hoạt
động giao tiếp, quản lý con người… Nhà quản trị cần phải nắm vững tâm lý tác động
phù hợp với qui luật tâm lý của họ mới có thể đạt được kết quả cao nhất trong quá
trình quản trị của mình.
1.1.1.3. Đặc điểm của tâm lý
Hiện tượng tâm lý có bốn đặc điểm sau:
• Vô cùng phong phú, phức tạp, bí ẩn và có tính tiềm tàng. Tâm lý là thế giới bên
trong của mỗi con người, nó vô cùng phức tạp, hấp dẫn, kỳ diệu, thậm chí kỳ lạ và
Bài 1: Tổng quan về Tâm lý học
3
huyền bí đến nỗi có một thời kỳ người ta cho rằng tâm lý là các hiện tượng thần
đánh giá sức mạnh của một người thì ngoài yếu tố thể lực cần quan tâm tới khả
năng ổn định tâm lý của người đó nữa. Chính khả năng ổn định tâm lý giúp con
người phát huy được sức mạnh tiềm tàng của mình trong những tình huống khó
khăn. Nếu khả năng ổn định tâm lý kém thì khi gặp những tình huống bất trắc
người đó sẽ trở nên yếu đuối và mất đi tính hiệu quả trong giải quyết vấn đề.
Tóm lại với các đặc điểm trên của hiện tượng tâm lý, trong cuộc sống cũng như trong
các hoạt động quản trị cần chú ý:
• Không nên phủ nhận hoàn toàn những hiện tượng tâm lý khó hiểu phức tạp mà cần
nghiên cứu một cách thận trọng, khoa học.
• Chống các hiện tượng mê tín dị đoan hoặc tin tưởng quá vào các hiện tượng thần
linh để thần bí hóa chúng dẫn tới nhữ
ng sai lầm đáng tiếc.
Bài 1: Tổng quan về Tâm lý học
4
• Khi nhìn nhận đánh giá một con người cần kết hợp xem xét bản chất của họ với
những biểu hiện bề ngoài.
• Cần tạo ra những hiện tượng tâm lý tích cực, thoải mái để con người có thể phát huy
sức mạnh vật chất cũng như tinh thần góp phần tăng hiệu quả lao động sản xuất.
1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của tâm lý học
1.1.2.1. Những quan điểm của tâm lý học thời kỳ cổ đại
Quá trình hình thành và phát triển của xã hội loài người
bắt đầu từ cách đây khoảng 10 vạn năm. Qua các di chỉ
khảo cổ từ thời kỳ nguyên thủy cho thấy rằng người
nguyên thủy cũng đã quan tâm đến các hiện tượng tâm
lý, họ đã đề cập đến đời sống của “hồn” và “phách”.
Ngoài ra trong các kinh của Ấn Độ cổ đã có những nhận
xét về tính chất của hồn, đã có những ý tưởng sơ khai về
tiền khoa học tâm lý.
Khổng Tử
Platon
Bài 1: Tổng quan về Tâm lý học
5
Hy Lạp, Hypocrat quan niệm rằng tâm lý được cấu tạo bởi bốn chất lỏng: Máu ở
trong tim, nước nhớt ở trong não, mật vàng trong gan và mật đen trong dạ dày.
Tùy theo tỷ lệ pha trộn của bột chất trên mà mỗi người cụ thể có thể có những đặc
điểm tâm lý khác nhau
Có thể nói trong thời kỳ cổ đại, những kết quả nghiên cứu sơ khai ban đầu trên đã mở
đường cho khoa học tâm lý phát triển. Tuy nhiên trong thời kỳ này, tâm lý vẫn chỉ là
một bộ phận của triết học, chưa đủ điều kiện tách ra để trở thành một ngành khoa học
độc lập.
1.1.2.2. Những quan điểm tâm lý học cho đến nửa đầu thế kỷ 19 (tâm lý học truyền thống)
Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, tâm lý học cũng tiếp tục phát triển nhanh
chóng. Đến giữa thế kỷ 19, tâm lý học đã chính thức trở thành một khoa học độc lập,
khẳng định vị trí của nó trong hệ thống các khoa học và có những thành tựu đáng kể.
Ở thời kỳ này xuất hiện rất nhiều tư tưởng tâm lý tiến bộ.
• Thuyết nhị nguyên: Đại biểu cho trường phái này là
Đêcác. Ông cho rằng vật chất và tâm hồn là hai thực
thể tồn tại song song. Ông coi cơ thể phản xạ như một
chiếc máy. Còn bản thể tinh thần, tâm lý con người thì
không thể biết được. Ông là người đặt cơ sở đầu tiên
cho việc tìm ra cơ chế phản xạ trong hoạt động tâm lý.
• Nội dung của cơ chế phản xạ có thể mô tả như sau:
Khi có một kích thích từ bên ngoài tác động vào một
giác quan nào đó sẽ gây ra một xung đột thần kinh đáp
lại thông qua cử động phản xạ của một cơ quan nào đó
trong cơ thể – cơ quan thực hiện phản xạ.
• Học thuyết Ghextan
Nhưng đỉnh cao của khoa học tâm lý trong giai đoạn này là
những thành tựu của dòng tâm lý Macxit.
• Các học thuyết không thuộc dòng tâm lý học Macxit
o Thuyết hành vi chủ nghĩa: Trường phái tâm lý học
hành vi do Watson (1878 – 1958) dày công xây
dựng. Học thuyết này quan tâm nghiên cứu những
hành động đáp ứng, các hành vi, cách ứng xử mà
bỏ qua mối quan hệ bản chất của con người trong
xã hội – lịch sử nhất định. Ông đưa ra một công
thức nổi tiếng S – R (S – Stimuli – kích thích;
R – Response – hành động đáp ứng), coi con người
là một hộp đen, chỉ cần nghiên cứu, đối chiếu đầu
vào đầu ra là đủ điều khiển nó. o Học thuyết S.Freud: Ông cho rằng không thể chỉ
nghiên cứu ý thức mà bỏ qua vô thức. Chính vô thức
mới là yếu tố quyết định trong tâm lý con người.
Muốn nghiên cứu được vô thức thì phải dùng một
phương pháp khác là phép phân tâm. Do đó học
thuyết này còn có tên gọi là học thuyết phân tâm.
o Học thuyết Ghextan: Là do các nhà tâm lý học người
Đức sáng lập. Trường phái này cho rằng không nên
nghiên cứu tâm lý theo cách chia nhỏ như chia thế
giới tự nhiên thành các nguyên tử. Theo họ bản chất
của các hiện tượng tâm lý đều có tính chất theo xu
hướng tổng thể. Do đó, phải nghiên cứu tâm lý theo
cấu trúc chỉnh thể (cấu trúc luận) thì mới thích hợp
và đạt hiệu quả.
các sự vật, hiện tượng đó. Nguồn gốc của tâm lý không phải từ thượng đế, mà
cũng không phải từ “lửa, khí, nước” mà là từ hiện thực khách quan, trong đó
bao gồm thế giới tự nhiên, thế giới xã hội và bản thân con người.
o Tâm lý người mang tính chủ thể, có bản chất xã hội, được hình thành, phát triển
và thể hiện trong hoạt động và trong mối giao lưu của con người trong xã hội.
Ngoài những bản năng được truyền lại trong gen, con người còn tiếp thu kinh
nghiệm thông qua các tài liệu, sách vở, thông qua các hoạt động và giao lưu.
Tuy nhiên tâm lý mỗi cá nhân không phải là sự sao chép một cách máy móc mà
biến đổi thông qua đời sống tâm lý của mỗi người. Vì vậy, tâm lý của mỗi người
vừa mang những nét chung đặc trưng cho xã hội, lịch sử vừa mang những nét
riêng biệt tạo nên cá tính của mỗi cá nhân.
o Tâm lý người không có sẵn và tự bộ óc cũng không sản sinh ra tâm lý, óc là khí
quan của tâm lý và tâm lý là chức năng của óc. Tâm lý của một người muốn
phát triển bình thường phải thỏa mãn hai điều kiện:
Người đó có bộ não phát triển bình thường.
Người đó phải có mối quan hệ trong xã hội và với thế giới tự nhiên.
1.2. Tâm lý học Quản trị kinh doanh
1.2.1. Một số khái niệm về Tâm lý học Quản trị kinh doanh
Trong quá trình nghiên cứu Tâm lý học Quản trị kinh doanh cần hiểu rõ các khái niệm sau:
1.2.1.1. Kinh doanh
• Khái niệm kinh doanh
Từ lâu kinh doanh được hiểu như là một công việc, một nghề. Song kinh doanh
không chỉ đơn thuần là một nghề, mà còn là mối quan hệ giữa người với người.
Trong kinh tế, tất cả các hoạt động kinh doanh đều liên quan tới việc sử dụng công
sức và tiền vốn để tạo ra sản phẩm (hàng hóa hay dịch vụ) và cung ứng cho thị
trường nhằm mục đích kiếm lời.
V.I.Lenin
Bài 1: Tổng quan về Tâm lý học
nghệ; lợi nhuận là chiến lợi phẩm, khách hàng là đối tượng của kinh doanh, là người
quyết định ai sẽ là người thành bại trên thị trường.
1.2.1.2. Quản trị
• Khái niệm Quản trị
Quản trị là một hoạt động được thực hiện nhằm đảm bảo hoàn thành công việc
thông qua nỗ lực của người khác. Hay có thể hiểu, quản trị là một hoạt động thiết
yếu đảm bảo phối hợp có hiệu quả các hoạt động của các cá nhân khác trong một tổ
chức. Ngoài ra, quản trị cũng có thể hiểu là sự phối hợp có hiệu quả các hoạt động
của những cá nhân nhằm đạt được những mục tiêu chung của nhóm.
Bài 1: Tổng quan về Tâm lý học
9
Qua các khái niệm trên ta thấy: Quản trị là sự tác động có mục đích, có định hướng,
có kế hoạch và có hệ thống thông tin từ chủ thể quản trị đến khách thể (đối tượng
bị quản trị) của nó nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức đề ra. Quản trị là sự tác
động có tổ chức của chủ thể quản trị lên đối tượng bị quản trị nhằm đạt được mục
tiêu chung của tổ chức.
Sơ đồ biểu diễn khái niệm quản trị
Chủ thể quản trị
Khách thể
Mục tiêu
Môi trường
• Các yếu tố của Quản trị:
o Có chủ thể quản trị là tác nhân tạo ra tác động quản trị và đối tượng bị quản trị
phải tiếp nhận và thực hiện động tác quản trị, tác động có thể một hoặc nhiều lần.
o Có mục tiêu cho cả chủ thể và đối tượng bị quản trị, mục tiêu này là căn cứ tạo
ra các tác động.
o Chủ thể quản trị có thể là một hoặc nhiều người, đối tượng bị quản trị có thể
cấp khác nhau sẽ có sự phối hợp thời gian và công sức hợp lý cho các chức năng quản
trị, đảm bảo thành công cho các nhiệm vụ đề ra. Để thực hiện tốt công việc của mình,
các nhà quản trị cần phải có những kiến thức nhất định về đặc điểm và quy luật tâm lý
của các đối tượng quản lý (cá nhân và tập thể lao động dưới quyền) và đây chính là
nội dung chủ yếu của tâm lý học quản trị kinh doanh.
1.2.1.4. Tâm lý học Quản trị kinh doanh
• Khái niệm Tâm lý học Quản trị kinh doanh
Tâm lý học Quản trị kinh doanh là môn khoa học chuyên ngành ứng dụng tâm lý
học vào hoạt động quản trị kinh doanh như một nghệ thuật tác động vào tính tích
cực của người lao động, thúc đẩy họ làm việc vừa vì lợi ích của cá nhân vừa vì lợi
ích của tập thể và lợi ích của toàn xã hội, tạo nên bầu không khí vui tươi đoàn kết trong
doanh nghiệp.
• Ứng dụng của Tâm lý học Quản trị kinh doanh
Trong lĩnh vực quản trị kinh doanh, quản trị con người là phức tạp và tế nhị nhất,
do vậy các nhà quản trị phải nghiên cứu, phân tích các đặc điểm tâm lý của người
lao động, từ đó tìm cách kích thích, động viên tính tích cực của con người, khuyến
khích tính sáng tạo của họ trong các hoạt động được giao Việc nghiên cứu ứng
dụng tâm lý còn có tác dụng giúp các nhà quản trị biết mình, biết người để có được
thành công trong kinh doanh (biết mình biết người, trăm trận trăm thắng).
o Biết người: Hiểu được nhu cầu, sở thích, thị hiếu, thái độ, tâm trạng và khả năng
thanh toán của khách hàng để định hướng hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp nhằm đưa ra thị trường những sản phẩm thỏa mãn tối đa nhu cầu của
khách hàng, tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp Ngoài ra, biết người có
nghĩa là nhà quản trị phải nắm được mặt mạnh, mặt y
ếu của đối thủ cạnh tranh,
tình hình cạnh tranh trên thị trường, những vận động của môi trường kinh
doanh, nắm được tâm lý của lãnh đạo cấp trên để đề ra các chiến lược và chính
sách kinh doanh đúng hướng.
o Biết mình: Nhà quản trị phải đánh giá được sản phẩm của mình, khả năng của
đội ngũ lao động và tiềm lực của doanh nghiệp để không ngừng hoàn thiện sản
của công nhân để thay thế cho cách làm cũ đơn
thuần dựa vào kinh nghiệm.
Tuyển chọn, huấn luyện công nhân một cách
khoa học, đào tạo và giáo dục họ, giúp họ
trưởng thành. Còn cách làm cũ là để công nhân
chọn việc làm theo ý họ và căn cứ vào khả
năng của từng người để đào tạo.
Xây dựng định mức lao động và phân công,
hợp tác lao động một cách khoa học.
Chủ và thợ phải cùng nhau chia sẻ công việc và chức trách. Phía chủ gánh
vác phần việc quan trọng hơn, không đẩy hết mọi việc và phần lớn trách
nhiệm về phía công nhân như trước kia.
o Từ những nguyên tắc cơ bản trên, Taylor đã đề ra các biện pháp cụ thể như:
Nghiên cứu toàn bộ quy trình thực hiện công việc của công nhân, chia nhỏ
các công việc trên thành các công đoạn khác nhau để tìm cách cải tiến, tối ưu
các thao tác và cuối cùng là đem lại thặng dư lớn cho các nhà tư bản.
Xây dựng hệ thống khuyến khích vật chất để kích thích người lao động như
trả công theo sản phẩm.
o Ưu, nhược điểm cơ bản của lý thuyết này:
Ưu điểm:
Giúp nhà quản trị có cách thức nhìn nhận, giao việc hợp lý, họ sẽ hình dung
các công việc được tiến triển như thế nào, có thuận lợi và khó khăn gì, trên
cơ sở đó hướng dẫn, tạo điều kiện cho người lao động thực hiện tốt các
nhiệm vụ được giao.
Ferderich Winslow Taylor
Bài 1: Tổng quan về Tâm lý học
12
Chú ý phối hợp giữa các bộ phận, cá nhân, một các nhịp nhàng, hiệu quả thì
Ngoài hệ thống trả lương theo sản phẩm của Taylor, H.Gautt đã bổ sung hệ thống
tiền thưởng để kích thích lao động nếu vượt qua một định mức nào đó. Tuy nhiên
để tránh việc người lao động chạy theo năng suất lao động mà coi nhẹ vấn đề chất
lượng, H.Gautt khuyên vượt mức nhưng cũng phải giới hạn.
Tóm lại: Trường phái tâm lý quản trị cổ điển tìm cách đưa ra các phương pháp quản
trị và tổ chức lao động sản xuất thuần túy khoa học đã máy móc hóa con người, quá đề
cao lợi ích vật chất, chưa quan tâm đúng mức ảnh hưởng của môi trường đến tâm lý
của con người và vai trò ý thức của con người.
1.2.2.2. Các lý thuyết về quản trị hành chính
Đây là các lý thuyết về quản lý chú trọng việc quản lý bằng các văn bản, giấy tờ. Quan
điểm này bổ sung cho lý thuyết quản trị theo khoa học và là một công cụ của quản trị
khoa học.
Lawrence Gautt
Bài 1: Tổng quan về Tâm lý học
13
• Lý thuyết của Henry Fayol (1841-1925)
Trong khi thuyết quản lý theo khoa học của Taylor
được truyền bá rộng rãi từ Mỹ sang Châu Âu và có
ảnh hưởng lớn suốt nửa đầu thế kỷ 20 thì ở Pháp xuất
hiện một thuyết mới thu hút sự chú ý. Qua tác phẩm
“Quản lý công nghiệp và tổng quát” xuất bản năm
1949 của Henry Fayol đã tiếp cận quản lý ở tầm rộng
hơn và xem xét dưới góc độ tổ chức hành chính. Ông
cho rằng thành công của quản lý không chỉ nhờ
những phẩm chất của nhà quản lý mà chủ yếu nhờ
nguyên tắc chỉ đạo hành động của họ và nhờ những
phương pháp mà họ sử dụng. Với nhà quản lý cấp cao
thì phải có khả năng bao quát còn với cấp dưới khả
Bài 1: Tổng quan về Tâm lý học
14
o Đảm bảo tính ổn định trong việc hưởng thụ và sử dụng: Tạo cho người lao
động thấy đây là chỗ làm việc ổn định, lâu dài, từ đó có ý thức phấn đấu trong
công việc.
o Tính sáng tạo: Tạo ra nhiều cái mới, bước đẩy, tạo ra những nét riêng, bản sắc
cho doanh nghiệp mình so với các doanh nghiệp khác.
o Tính đồng đội: Xây dựng tinh thần tập thể, tính đoàn kết trong toàn doanh
nghiệp, từ đó tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong công việc.
Với nội dung nói trên, thuyết quản lý này có ưu điểm nổi bật là tạo được kỷ cương
trong tổ chức. Song nó chưa chú trọng đầy đủ mặt tâm lý và môi trường lao động,
đồng thời chưa đề cập đến mối quan hệ với môi trường bên ngoài doanh nghiệp.
• Lý thuyết của Max.Weber (1864 – 1920):
Ông là nhà xã hội học đã có nhiều đóng góp cho quản lý
ở tầm vĩ mô gọi là hệ thống thư lại, đó là sự phân công
nhiệm vụ căn cứ vào chức vụ theo quy định và thể lệ.
Lý thuyết của Weber còn được gọi là lý thuyết hành
chính trong quản trị.
Theo lý thuyết này, để quản trị kinh doanh có hiệu quả
cần phải xây dựng một cơ cấu tổ chức chặt chẽ, đồng
thời đề ra hệ thống các quy định luật lệ và chính sách
hợp lý, phân công, phân cấp quản trị có hiệu quả.
Tư tưởng chính của ông là:
o Quản lý các bộ phận chức năng, các khâu của công
việc (sử dụng quan điểm của Fayol).
o Quản lý chất lượng của từng công việc.
Như vậy các lý thuyết về quản trị hành chính chú trọng tới các vấn đề cơ bản sau:
o Mọi hành động trong tổ chức đều phải được đưa vào văn bản quy định.
o Năng lực lãnh đạo kiểu mới được thể hiện thông
qua việc nâng cao mức độ hài lòng của nhân viên,
khích lệ tinh thần công nhân viên, do đó mà đạt
được mục đích nâng cao năng suất lao động.
Nói chung công nhân có xu hướng tuân theo các quy ước của tập thể, dù không
chính thức. Lý thuyết này đã mở ra một kỷ nguyên mới trong quản trị, gọi là lý
thuyết quan hệ người – người. Công trình này góp phần thúc đẩy nghiên cứu và
vận dụng một cách trực tiếp khoa học vào quản lý sản xuất kinh doanh, thúc đẩy
việc ứng dụng tâm lý học vào quản trị kinh doanh.
• Lý thuyết của Douglas Mc.Gregor (1906 –1964)
Ông được coi là một trong những lão thành trong các
nhà khoa học hành vi và đã dành cả cuộc đời mình để
nghiên cứu hành vi của con người trong tổ chức.
Gregor thấy rằng, mặc dù một người nắm vững kỹ
thuật để phát triển kinh tế và cải thiện cuộc sống
như
ng anh ta chưa chắc đã có đủ kỹ năng quản lý để
làm cho tổ chức hoạt động có hiệu quả.
Trong cuốn “Mặt nhân văn của xí nghiệp”, Mc. Gregor
đã đưa ra một loạt các đánh giá về con người trong tổ
chức. Ông đã đưa ra các lý thuyết X và Y (sẽ được
nghiên cứu ở phần sau).
• Lý thuyết Kaizen do Masaaki Imai người Nhật đề xướng năm 1986
Trong lý thuyết Kaizen, ông khuyên các nhà quản trị cần
quan tâm đến các vấn đề sau:
o Quản lý thời gian: Rõ ràng trong quản lý thời gian
của các nhà quản trị và nhân viên các cấp, cũng
như của toàn bộ doanh nghiệp.
o Đề cao tính kỷ luật: Có kỷ luật mới làm cho tổ chức
hoạt động suôn sẻ.
là yếu tố kiểm tra khả năng của các nhà quản lý, chính khách hàng mới là toàn
bộ tầm quan trọng cho kinh doanh. Kinh doanh tồn tại vì khách hàng và chính
khách hàng giữ cho nó tiếp tục hoạt động. Do đó, quản trị một doanh nghiệp có
nghĩa là tạo ra khách hàng, chính vì vậy hai chức năng quan trọng của quản trịt
là marketing và đổi mới.
o Quản lý các nhà quản lý: Theo Drucker, các nhà quản trị là nguồn lực cơ bản
và đắt giá nhất trong hầu hết các tổ chức kinh doanh. Người ta tốn rất nhiều
thời gian và nguồn lực để xây dựng một đội ngũ các nhà quản trị, chính vì vậy
việc quản lý họ là một công việc cần được lưu tâm. Có 3 nhiệm vụ quan trọng
trong việc quản lý các nhà quản lý: Quản lý theo các mục tiêu và tự điều khiển,
lập cấu trúc công việc của một nhà quản lý và tạo ra tính hợp lý trong tổ chức.
o Quản lý công nhân và công việc: Ông đề cao vai trò của công nhân với tư cách
là tiềm năng con người là duy nhất. Khi được đối xử như một tiềm lực, anh ta
có thể được khai thác hay sử dụng một cách có hiệu quả nhất.
1.2.2.4. Các lý thuyết về tâm lý con người trong quản trị kinh doanh
• Thuyết về nhu cầu của A.Maslow
Thuyết nhu cầu của Maslow là một trong những thuyết phổ biến nhất dùng để giải
thích về động cơ hoạt động của con người. Ông đưa ra lý thuyết về các bậc nhu
cầu của một con người và sắp xếp một hình tháp 5 bậc gọi là “tháp nhu cầu của
Maslow”. Theo ông, các nhu cầu của con người được phân thành 5 bậc từ thấp đến
cao như sau:
o Các nhu cầu sinh lý: Là các nhu cầu cơ bản đảm bảo cho sự tồn tại của con
người như: Ăn, uống, ngủ, đi lại
Peter Drucker
Bài 1: Tổng quan về Tâm lý học
17
o Các nhu cầu về an toàn: Được bảo vệ tính mạng,
được sống yên ổn, hoà bình.
bản thân
4. Nhu cầu được tôn trọng 4
(địa vị xã hội)
3. Nhu cầu được chấp nhận 3
(được là thành viên)
2. Nhu cầu về an toàn 2
của cá nhân
1. Nhu cầu về sinh lý 1
(nhu cầu căn bản)
Tháp nhu cầu
A
.Maslow
Bài 1: Tổng quan về Tâm lý học
18
của họ trong kinh doanh. Từ nhu cầu sẽ sinh ra động cơ, hành động nhằm thỏa
mãn nhu cầu trong các điều kiện xã hội nhất định, chính vì vậy nghiên cứu và tạo
mọi điều kiện thỏa mãn nhu cầu sẽ thôi thúc người lao động hành động theo định
hướng của nhà quản trị. Nhà quản trị cần biết cấp dưới của mình đang ở thang bậc
nhu cầu nào để tạo điều kiện cho họ được thỏa mãn nhu cầu.
• Lý thuyết hai yếu tố của Herzberg (1923 – 2000)
Frederick Herzberg là tiến sĩ vật lý, giáo sư về khoa học quản lý của trường Đại học
Diutha (Mỹ). Ông là một tác giả có tên tuổi trong việc nghiên cứu các vấn đề khích
lệ công nhân viên, đã từng làm chủ nhiệm khoa Tâm lý của trường Đại học Khanx.
Frederick Herzberg và đồng sự của ông đã tiến hành
điều tra trên 200 kỹ sư và nhân viên kế toán của
ngành công nghiệp ở Pittsburg. Những người được
điều tra phải trả lời câu hỏi: “Lúc nào anh/chị cảm
thấy thoải mái khi làm việc?” Kết quả điều tra cho
Bài 1: Tổng quan về Tâm lý học
19
o Lý thuyết X
Nội dung của lý thuyết X bao gồm các quan niệm:
Lười biếng là bản tính của con người bình thường. Do đó họ sẽ lảng tránh
công việc nếu có thể được.
Họ thiếu chí tiến thủ, không dám gánh vác trách nhiệm, cam chịu để người
khác lãnh đạo.
Từ khi sinh ra con người đã tự coi mình là trung tâm, không quan tâm đến
các nhu cầu của tổ chức.
Bản tính con người là chống lại cải cách.
Tóm lại:
Với quan niệm về con người trong lý thuyết X, tác giả thừa nhận bản chất máy
móc, vô tổ chức của con người. Những nhà quản trị công nhận lý thuyết X đều
tin rằng phải giành được quyền lực tuyệt đối đối với những cộng sự của mình. Vì
vậy, việc điều khiển từ bên ngoài thông qua giám sát chặt chẽ là thích hợp nhất
để đối phó với những người không đáng tin, vô trách nhiệm và thiếu kinh nghiệm.
Lý thuyết này ủng hộ cách quản lý bằng lãnh đạo và kiểm tra. Lý thuyết quản
lý X là cách quản lý “củ cà rốt và cây gậy” đôi khi bề ngoài tỏ ra hữu hiệu,
nhưng chỉ là tạm thời, chứa đựng bao điều oan ức, bất công và rất lạc hậu.
Phương pháp trừng phạt và khen thưởng của lý thuyết X ít có hiệu quả do
chúng dựa trên những động cơ không quan trọng của con người.
o Lý thuyết Y:
Lười nhác không phải là bản tính bẩm sinh của con người nói chung. Lao
động trí óc, lao động chân tay cũng như nghỉ ngơi giải trí đều là hiện tượng
bẩm sinh của con người.
Điều khiển từ bên ngoài hoặc đe dọa bằng hình phạt không phải là cách duy
nhất buộc con người cố gắng để đạt được mục tiêu của tổ chức. Con người
có thể tự đi
quyết định và trách nhiệm cá nhân, quyền lợi có giới hạn.
• Lý thuyết Z của W.Ouchi
Lý thuyết trên của Mc.Gregor bị một giáo sư người Mỹ gốc Nhật phản bác
bằng kinh nghiệm quản trị của người Nhật trong tác phẩm nhan đề là “lý thuyết
Z. Ouchi” tác phẩm này cho rằng không có người lao
động nào thuộc hoàn toàn về bản chất X hoặc Y một
cách tự nhiên cả. Điều mà Mc.Gregor gọi là bản chất, thì
chỉ có thể gọi là thái độ lao động của con người mà thôi.
Thái độ lao động tùy thuộc vào cách thức họ được đối
xử trong thực tế. Qua kinh nghiệm quản trị của người
Nhật, mọi người có thể lao động hăng hái, nhiệt tình,
nếu họ được tham gia vào các quyết định của doanh
nghiệp và được doanh nghiệp quan tâm đến các nhu
cầu của họ.
o Lý thuyết Z được xây dựng dựa trên các quan điểm
sau đây:
Tiếp thu những yếu tố tích cực của các học thuyết quản lý tiến bộ (có sự kết
hợp một số tính chất của lý thuyết X và Y).
Kết hợp giữa chủ nghĩa nhân đạo với truyền thống Nhật Bản, tức là với chủ
nghĩa chuyên chế.
Xây dựng theo mô hình gia đình Khổng giáo theo 5 nguyên tắc: Con cái
phải kính trọng ông, bà cha mẹ; trung thành, phục tùng, nhân hậu và tận tụy
với chủ.
o Nội dung của lý thuyết Z:
Đó là lý thuyết dựa trên cơ sở hợp nhất hai mặt của một tổ chức kinh doanh:
Vừa là một tổ chức có khả năng tạo ra lợi nhuận vừa là một cộng đồng sinh hoạt
đảm bảo cuộc sống của mọi thành viên, tạo điều kiện thăng tiến và thành công.
Thuyết Z tạo ra văn hóa kinh doanh mới gọi là: “Văn hóa kiểu Z” chỉ đạo lối
ứng xử dựa trên sự gắn bó lòng trung thành và tin cậy, được cụ thể hóa qua các
biểu tượng, nghi lễ, quy tắc và cả những huyền thoại để truyền đến mọi thành
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng trực tiếp của Tâm lý học Quản trị kinh doanh là đời sống tâm hồn của
những người dưới quyền bao gồm tâm tư, tình cảm, ước mơ, nguyện vọng, niềm tin
Tâm lý học Quản trị kinh doanh nghiên cứu các quá trình tâm lý (cảm giác, tri giác,
tư duy…), các trạng thái tâm lý, các thuộc tính tâm lý cá nhân…
Đối tượng nghiên cứu của Tâm lý học Quản trị kinh doanh là:
• Nghiên cứu sự thích ứng của con người đối với công việc kinh doanh. Theo hướng
này, Tâm lý học Quản trị kinh doanh chú ý tới các khía cạnh tâm lý của việc tổ
chức quá trình kinh doanh, đặc biệt là vấn đề phân công lao động, tổ chức chế độ
làm việc và nghỉ ngơi hợp lý, đưa yếu tố thẩm mỹ vào trong kinh doanh.
• Nghiên cứu mối quan hệ con người với nghề nghiệp. Tâm lý học Quản trị kinh doanh
nghiên cứu các cơ sở tâm lý và các phương pháp tâm lý học của việc phát hiện, sử dụ
ng
và bồi dưỡng nhân tài, góp phần đắc lực cho công tác quản trị nhân sự. Sử dụng
các dạng trắc nghiệm tâm lý để đo năng lực trí tuệ, phẩm chất nhân cách, ý chí
của con người giúp cho các nhà quản trị trong việc tuyển chọn, đánh giá, và đề bạt cán
bộ và nhân viên của mình.
• Nghiên cứu sự thích ứng của con người với con người trong kinh doanh.Tâm lý
học Quản trị kinh doanh nghiên cứu mối quan hệ giữa con ng
ười với con người
trong tập thể lao động, cụ thể là bầu không khí tâm lý tập thể, sự hòa hợp hay
không hòa hợp giữa các thành viên, quan hệ giữa nhà quản trị với nhân viên.
1.3.2. Nhiệm vụ của Tâm lý học Quản trị kinh doanh
Tâm lý học Quản trị kinh doanh có 3 nhiệm vụ cơ bản sau:
• Nghiên cứu các hiện tượng tâm lý của đám đông, của tập thể lao động và vai trò
của các hiện tượng này tới hoạt động kinh doanh của tổ chức.
Bài 1: Tổng quan về Tâm lý học
22
trí thông minh, tình cảm, trí nhớ…
Ngoài các phương pháp trên còn một số phương pháp khác trong nghiên cứu Tâm lý
học Quản trị kinh doanh như: Phương pháp xạ ảnh, phương pháp tiểu sử…
Bài 1: Tổng quan về Tâm lý học
23
TÓM LƯỢC CUỐI BÀI
Những vấn đề cần ghi nhớ trong bài 1:
• Trong bài này chúng ta đã nghiên cứu hai vấn đề: Những vấn đề chung về tâm lý học và Tâm
lý học Quản trị kinh doanh.
• Ở phần 1 “Những vấn đề chung về tâm lý học” chúng tôi đã đề cập tới khái niệm tâm lý,
chức năng cũng như đặc điểm của hiện tượng tâm lý. Trong phần này các học viên cũng được
cung cấp một nội dung quan trọng trong tiến trình phát triển của tâm lý đó là quá trình hình
thành và phát triển của tâm lý học.
• Sau khi nghiên cứu những vấn đề chung nhất về tâm lý học, bài học sẽ cung cấp nội dung về
Tâm lý học Quản trị kinh doanh. Ở phần này học viên sẽ được cung cấp cái nhìn tổng quan
về Tâm lý học Quản trị kinh doanh – như là một ngành khoa học độc lập. Các khái niệm về quản
trị kinh doanh, tâm lý học quản trị kinh doanh, vai trò của tâm lý trong quá trình quản trị.
Ngoài ra bài học còn cung cấp một số lý thuyết về tâm lý học, quản trị, ưu nhược điểm và
điều kiện áp dụng các lý thuyết này trong quản trị kinh doanh.
Bài 1: Tổng quan về Tâm lý học
24
CÂU HỎI ÔN TẬP
1. Những đóng góp của “Lý thuyết quản trị khoa học” của Frederick Winslow Taylor trong thực
tế quản trị kinh doanh hiện nay?
2. Phân tích ưu và nhược điểm của “Lý thuyết nhu” cầu của Maslow? Ứng dụng lý thuyết này
trong thực tế?