hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tại bệnh viện bưu điện - Pdf 20

" Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tại BỆNH VIỆN BƯU ĐIỆN”
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Con người là nguồn tài nguyên quan trọng nhất quyết định sự phát triển của đất
nước, trong đó sức khoẻ là vốn quý giá nhất của mỗi con người và của toàn xã hội,
đây cũng là một trong những niềm hạnh phúc lớn nhất của mỗi người, mỗi gia đình.
Vì vậy, đầu tư cho sức khoẻ mọi người đều được chăm sóc sức khoẻ chính là đầu tư
cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi
cá nhân, của mỗi gia đình.
Đất nước ta qua hơn 13 năm chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế từ tập trung quan
liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã
hội chủ nghĩa đã thu được những thành tựu hết sức to lớn trên các lĩnh vực kinh tế -
xã hội, đời sống của nhân dân đã dần được cải thiện. Do vậy nhu cầu cần được chăm
sóc sức khoẻ của nhân dân ngày một cao.
Nhận thức được vai trò của con người trong quá trình xây dựng và phát triển đất
nước. Nghị quyết Trung Ương IV đã nêu rõ:"Sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ là trách
nhiệm của cộng đồng và mỗi người dân, là trách nhiệm của các cấp Đảng uỷ và chính
quyền, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội, trong đó ngành Y tế giữ vai trò
nòng cốt". Chính phủ đã có nghị quyết 37/CP ngày 20/06/1996 và định hướng chiến
lược công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân với nòng cốt là ngành Y tế.
Trong khi Quyết định số 07UB/TĐTL ngày 23/1/1975 của Uỷ ban kế hoạch
Nhà nước hướng dẫn cơ cấu tổ chức biên chế cán bộ của các cơ sở y tế ra đời đã hơn
20 năm đến nay có nhiều điểm không còn phù hợp nữa. Hơn nữa, sự phát triển của
kinh tế xã hội những năm qua đã gây ảnh hưởng lớn đến môi trường sinh thái làm
cho bệnh tật trong nhân dân ngày một gia tăng, do vậy nhiệm vụ của ngành Y tế
càng nặng nề thêm. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật nói chung và khoa
Người thực hiện: Đặng Bích Toàn 1
" Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tại BỆNH VIỆN BƯU ĐIỆN”
học kỹ thuật y nói riêng đòi hỏi phải có sự sắp xếp lại đội ngũ cán bộ y tế hợp lý đáp
ứng nhu cầu trước mắt cũng như lâu dài.
Bệnh viện Bưu Điện với nhiệm vụ là cơ quan khám chữa bệnh và chăm sóc sức

những cơ hội và thách thức, những tồn tại và nguyên nhân trong các hoạt động xây
dựng chiến lược nguồn nhân lực của tại Bệnh viện Bưu Điện.
- Những vấn đề đặt ra cần phải giải quyết và hoàn thiện trong hoạt động xây
dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực tại Bệnh viện Bưu Điện.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính
chính của luận văn được kết cấu bởi 3 chương:
Chương 1. Lý luận cơ bản về tổ chức bộ máy quản lý của Bệnh viện Bưu điện.
Chương 2. Thực trạng cơ cấu bộ máy quản lý tại Bệnh viện Bưu Điện.
Chương 3. Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tại Bệnh viện Bưu Điện
Người thực hiện: Đặng Bích Toàn 3
" Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tại BỆNH VIỆN BƯU ĐIỆN”
CHƯƠNG 1
SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN
BỘ MÁY QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP
1.1. Một số khái niệm cơ bản.
1.1.1. Doanh nghiệp
Doanh nghiệp được hiểu là một tổ chức kinh tế được thành lập để thực hiện
các hoạt động kinh doanh, thực hiện các chức năng sản xuất, mua bán hàng hóa dịch
vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu con người và xã hội và thông qua hoạt động hữu ích đó
mà kiếm lời.
Dưới giác độ pháp luật, doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài
sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp
luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh
1
. Doanh nghiệp được dùng
để chỉ các tổ chức kinh tế độc lập có đủ các đặc trưng pháp lý, thỏa mãn các điều
kiện do pháp luật quy định, được thành lập, hoạt động dưới nhiều hình thức pháp lý
và tên gọi khác nhau. Ứng với mỗi hình thức pháp lý, doanh nghiệp có một cơ cấu tổ
chức bộ máy cụ thể phù hợp với quy định của pháp luật.

doanh nghiệp thừa nhận để lãnh đạo quản lý toàn bộ các hoạt động của doanh nghiệp
nhằm đạt được các mục tiêu đã định. Bộ máy quản lý là trung tâm chỉ huy toàn bộ
hoạt động của doanh nghiệp, vừa là đại diện cho doanh nghiệp giải quyết các tình
huống phát sinh trong tổ chức cũng như quan hệ với các tổ chức bên ngoài.
Mỗi doanh nghiệp đều có sự phân chia nhất định các mục tiêu, chức năng và
nhiệm vụ. Sự phân chia có hình thành các nhóm, các bộ phận khác nhau, mỗi bộ
phận thực hiện một hoặc một số công việc nhất định dưới sự điều hành của những
người quản lý có trình độ nhất định. Mỗi nhóm, mỗi bộ phận đó thực chất cũng là
một tổ chức nhỏ bên trong doanh nghiệp, có người quản lý, điều hành nhóm và tổ
chức thực hiện viện phối hợp các thành viên trong nhóm với nhau.
Trong bộ máy quản lý, tất cả những người tham gia vào quá trình thực hiện
chức năng quản lý được gọi là lao động quản lý. Với vai trò thực hiện chức năng
Người thực hiện: Đặng Bích Toàn 5
" Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tại BỆNH VIỆN BƯU ĐIỆN”
quản lý, lao động quản lý bao gồm cán bộ lãnh đạo, các cán bộ chuyên môn nghiệp
vụ thừa hành, nhân viên phục vụ.
Do đặc thù về vị trí, vai trò và tính chất công việc, lao động quản lý có những
đặc điểm riêng có, khác biệt với lao động trực tiếp:
- Hoạt động lao động quản lý là hoạt động trí óc mang nhiều đặc tính sáng tạo.
Lao động trí óc là lao động cơ bản nhất trong hoạt động lao động quản lý. Đặc trưng
này tạo ra tính phức tạp trong công tác xây dựng định mức lao động trong lĩnh vực
quản lý và nó đặt ra các yêu cầu trong quá trình tổ chức hoạt động cho lao động quản
lý.
- Hoạt động quản lý là hoạt động mang tính tâm lý xã hội cao. Do là loại lao
động trí óc nên hoạt động lao động quản lý đặt ra các yêu cầu cao về yếu tố tinh thần
và tâm lý đối với người lao động. Đó là khả năng nhận biết, khả năng thu thập và xử
lý các luồng thông tin quản lý. Đồng thời trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được
giao, lao động quản lý phải thực hiện nhiều mối quan hệ giao tiếp nên đây là yếu tố
quan trọng ảnh hưởng tới quá trình thực hiện công việc của lao động quản lý.
- Trong quá trình lao động, lao động quản lý tiếp nhận và xử lý các luồng

nên một tổng thể chung bên trong tổ chức.
1.1.3. Các mối quan hệ trong bộ máy quản lý
Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, phải xác định đúng đắn, rõ ràng
các mối quan hệ giữa các bộ phận, các cấp, các nhân viên quản lý doanh nghiệp. Tùy
theo đặc điểm, tính chất, quy mô của doanh nghiệp mà hình thành các mối quan hệ
khác nhau. Các mối quan hệ đó đan xen nhau theo từng cấp độ quản lý bao gồm các
mối quan hệ chính sau:
- Mối quan hệ trực thuộc: Đó là các mối quan hệ không cùng cấp, thể hiện vị
trí, vai trò và các mối quan hệ công tác giữa bộ phận cấp trên với cấp dưới, mối quan
3
Giáo trình quản trị doanh nghiệp, PGS.TS Lê Văn Tâm, TS. Ngô Kim Thanh, Nhà xuất bản lao động - xã hội, Hà Nội
năm 2004, tra 79
Người thực hiện: Đặng Bích Toàn 7
" Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tại BỆNH VIỆN BƯU ĐIỆN”
hệ giữa người lao động, nhân viên trong một bộ phận, giữa người lánh đạo ở cấp trên
và người lãnh đạo ở cấp dưới.
- Mối quan hệ chức năng: Đó là các mối quan hệ cùng cấp giữa các bộ phận
chức năng với nhau trong quá trình thực hiện chức năng tham mưu tư vấn cho lãnh
đạo hoặc là mối quan hệ giữa bộ phận chức năng cấp trên với bộ phận chức năng cấp
dưới thông qua các hoạt động hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, đôn đốc thực hiện các
nhiệm vụ chuyên môn.
- Mối quan hệ tư vấn: Là mối quan hệ giữa lãnh đạo doanh nghiệp với các
chuyên gia trong các lĩnh vực chuyên môn nghiệp vụ hoặc với các hội đồng có chức
năng tư vấn theo từng loại công việc nhất định.
Việc xác định đứng đắn, hợp lý những mối liên hệ trên giúp các bộ phận nhận
thức rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và các mối quan hệ công tác nhằm
đảm bảo doanh nghiệp xây dựng được một cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý khoa học
nhất phù hợp với môi trường trong đó doanh nghiệp đang vận động để đạt được các
mục tiêu đặt ra.
1.1.4. Các mô hình tổ chức bộ máy quản lý

Người thực hiện: Đặng Bích Toàn 9
Tổng Giám đốc
Giám đốc
Nhân sự
Giám đốc
Tài chính
Giám đốc
Kỹ thuật
Các đối tượng
quản lý
Các đối tượng
quản lý
Các đối tượng
quản lý
" Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tại BỆNH VIỆN BƯU ĐIỆN”
hình trực tuyến. Cấp dưới nhận nhiệm vụ không chỉ từ người lãnh đạo trực tiếp mà
còn từ lãnh đạo chức năng.
Mô hình này có ưu điểm là việc phân công nhiệm vụ rõ ràng, cho phép mức độ
chuyên môn hóa cao, phản ảnh được logic của chức năng. Trách nhiệm quản lí của
người lãnh đạo cao nhất của hệ thống được giảm bớt. Cá nhân trong mỗi bộ phận
chức năng được chuyên môn hóa nên thuận lợi trong việc đào tọa, kế thừa kinh
nghiệm của cá nhân khác. Tuy nhiên, nhược điểm chủ yếu của mô hình này là quyền
lực và trách nhiệm nhiều lúc chồng chéo, dễ xảy ra nguy cơ đùn đẩy trách nhiệm cho
người khác. Một cấp chịu sự quản lý của nhiều cấp trên phá vỡ tính thống nhất của
việc quản lý, điều hành. Khuynh hướng phát triển chuyên môn hóa không tạo ra
người lãnh đạo có kiến thức toàn diện. Mô hình này thích hợp với cơ quan hành
chính, doanh nghiệp nhỏ hoặc một bộ phận sản xuất, một phân xưởng.
1.1.4.3. Mô hình tổ chức bộ máy quản lý trực tuyến tham mưu
Đây là mô hình trực tuyến được bổ sung thêm bộ phận tham mưu giúp việc
người lãnh đạo trong quá trình quản lý, điều hành. Bộ phận tham mưu chỉ có quyền

Đây là mô hình quản lý có đặc trưng cơ bản là vừa duy trì được hệ thống trực
tuyến, vừa kết hợp được hệ thống chức năng. Các bộ phận chức năng chủ yếu được
tổ chức ở tuyến trên, trong đó quyền ra mệnh lệnh thuộc lãnh đạo cấp trực tuyến và
lãnh đạo cấp chức năng.
Người thực hiện: Đặng Bích Toàn 11
Tổng Giám đốc
Giám đốc
Nhân sự
Giám đốc
Tài chính
Giám đốc
Kỹ thuật
" Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tại BỆNH VIỆN BƯU ĐIỆN”
Sơ đồ 1.3: Mô hình tổ chức bộ máy quản lý trực tuyến chức năng
Ghi chú: Quan hệ trực tuyến
Quan hệ chức năng
Mô hình này phát huy được năng lực chuyên môn của các bộ phận chức năng,
đồng thời vẫn đảm bảo quyền chỉ huy của hệ thống trực tiếp. Tuy nhiên, để đạt được
điều đó đòi hỏi lãnh đạo phải có vai trò quan trọng tạo ra sự thống nhất giữa hệ thống
trực tuyến và bộ phận hoạt động chức năng. Trường hợp sử dụng nhiều bộ phận chức
năng sẽ làm cho bộ máy quản lý cồng kềnh, nhiều đầu mối, làm tăng chi phí quản lý.
1.1.4.5 Mô hình tổ chức ma trận
Mô hình tổ chức ma trận là sự kết hợp của hai hoặc nhiều mô hình tổ chức
khác nhau. Mô hình ma trận là sự kết hợp dạng phân công theo chiều ngang như mô
hình tổ chức bộ máy quản lý theo chức năng và các hoạt động theo chiều dọc trên cơ
sở phân cấp theo sản phẩm, dự án, khu vực địa lý để thực hiện các nhiệm vụ có liên
Người thực hiện: Đặng Bích Toàn 12
Tổng Giám đốc
Giám đốc
Nhân sự

nhân sự
Giám đốc
Tài chính
Giám đốc
Kế hoạch
Giám đốc
Kinh doanh
Giám đốc
Kỹ thuật
" Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tại BỆNH VIỆN BƯU ĐIỆN”
Mô hình một cấp (Single - tier board) hiện được sử dụng phổ biến ở các nước
điển hình như Bỉ, Phần Lan, Pháp, Hy Lạp, Ireland, Luxembourg, Bồ Đào Nha, Tây
Ban Nha, Thụy Điển. Theo đó toàn bộ hoạt động điều hành của Ban giám đốc điều
hành doanh nghiệp chịu sự kiểm tra giám sát của HĐQT (Board of director) với các
thành viên độc lập không tham gia điều hành. Đối với mô hình hai cấp (two - tier
board) phổ biến ở Châu Âu Lục địa, như Đức, Áo, Đan Mạch và Hà Lan, bên cạnh
HĐQT còn có mtooj BKS (Supervisory board) thực hiện chức năng giám sát toàn bộ
hoạt động quản lý và chiến lược của doanh nghiệp
4
.
Ở Việt Nam, pháp luật quy định rất rõ và cụ thể bộ máy quản lý ở mỗi loại
hình doanh nghiệp. Đối với Công ty Nhà nước có quy mô lớn, cơ cấu tổ chức quản
lý gồm HĐQT, BKS (do HĐQT thành lập), Tổng giám đốc và bộ máy giúp việc. Đối
với Công ty trách nhiệm hữu hạn, cơ cấu tổ chức quản lý gồm Hội đồng thành viên
hoặc Chủ tịch Công ty (đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) và
Kiểm soát viên, Tổng giám đốc và bộ máy giúp việc. Đối với Công ty cổ phần, cơ
cấu tổ chức quản lý gồm Đại hội đồng cổ đông, HĐQT và BKD (do Đại hội đồng cổ
đông bầu), Tổng giám đốc và bộ máy giúp việc. Các loại hình doanh nghiệp khác
như Công ty hợp doanh, doanh nghiệp tư nhan do thành viên hợp doanh thỏa thuận
hoặc chủ doanh nghiệp tư nhân toàn quyền quyết định

quy định và mức độ tập trung quyền lực quyết định cao.
1.2.3. Lĩnh vực kinh doanh, quy mô và địa bàn hoạt động của doanh nghiệp
Bộ máy quản lý phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp. Mỗi
ngành nghề kinh doanh sẽ có những đặc trưng khác nhau về sản phẩm, dịch vụ cần
có một quy trình sản xuất kinh doanh đặc biệt. Vì vậy, bộ máy quản lý phải xây dựng
phù hợp với ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp.
Bộ máy quản lý gắn liền với quy mô của doanh nghiệp. Quy mô của doanh
nghiệp có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau như số lượng cán bộ, nhân
viên trong doanh nghiệp; số lượng sản phẩm hoặc tổng doanh thu hoặc lợi nhuận; địa
bàn hoạt động hoặc thị phần của doanh nghiệp… Quy mô của doanh nghiệp có ảnh
hưởng đến việc lựa chọn bộ máy quản lý. Đối với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ,
lực lượng lao động ít, vấn đề tập trung quyền lực và tổ chức quản lý điều hành doanh
nghiệp có thể gặp khó khăn nếu không tổ chức doanh nghiệp hoặc đổi mới các
phương quản lý.
Người thực hiện: Đặng Bích Toàn 15
" Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tại BỆNH VIỆN BƯU ĐIỆN”
1.2.4. Kỹ thuật, công nghệ
Bộ máy tổ chức gắn liền với loại kỹ thuật, công nghệ mà doanh nghiệp sử
dụng để chuyển đổi những yếu tố đầu vào thành sản phẩm đầu ra của doanh nghiệp.
Mỗi doanh nghiệp sử dụng các công nghệ khác nhau trong hoạt động sản xuất kinh
doanh. Các doanh nghiệp sử dụng công nghệ cao, bộ máy quản lý được xây dựng có
khả năng thích ứng kịp thời trước sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ. Các
doanh nghiệp tiên phong trong việc sử dụng công nghệ mới có xu hướng sử dụng
cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, có nhiều kinh nghiệm về kỹ thuật.
Như vậy, tùy thuộc kỹ thuật, công nghệ, quy mô và hình thức sản xuất đòi hỏi mỗi
doanh nghiệp phải có một bộ máy quản lý phù hợp, đảm bảo một sự điều phối chặt
chẽ trong công việc ra các quyết định liên quan đến hoạt động kinh doanh và kỹ
thuật, công nghệ.
1.2.5. Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp
Yếu tố môi trường ảnh hưởng đến bộ máy quản lý doanh nghiệp từ hai mặt:

1.3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện bộ máy quản lý của doanh nghiệp ở Việt
Nam hiện nay
Hoàn thiện bộ máy quản lý là một tất yếu khách quan trong tiến trình đổi mới
sắp xếp doanh nghiệp ở Việt Nam. Ngày 07/3/1994, Chính phủ đã ký quyết định
91/TTg thí điểm thành lập các tổng Công ty. Tuy nhiên, mô hình này cũng có những
hạn chế nhất định đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới. Nghị quyết về việc sắp xếp, đổi mới,
phát triển và nâng cao hiệu quả các doanh nghiệp Nhà nước đã được hội nghị Trung
ương lần thứ 3 khóa IX ngày 24/9/2001 thông qua với chủ trương thành lập các tập
đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng Công ty Nhà nước, có sự tham gia của các
thành phần kinh tế dưới những hình thức pháp l ý khác nhau, đa dạng hóa về lĩnh
vực hoạt động kinh doanh.
Người thực hiện: Đặng Bích Toàn 17
" Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tại BỆNH VIỆN BƯU ĐIỆN”
Pháp luật hiện hành quy định, tập đoàn kinh tế là một nhóm các doanh nghiệp
có tư cách pháp nhân độc lập, được hình thành trên cơ sở tập hợp, liên kết thông qua
đầu tư, góp vốn, sáp nhập, mua lại, tổ chức lại hoặc các hình thức liên kết khác; gắn
bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh
doanh khác tạo thành tổ hợ kinh doanh có từ hai cấp doanh nghiệp trở lên dưới hình
thức Công ty mẹ - Công ty con
6
.
Như vậy, việc hình thành tập đoàn kinh tế về cơ bản làm thay đổi các mối liên
kết, quy mô, ngành nghề kinh doanh… đòi hỏi doanh nghiệp phải thay đổi cơ cấu tổ
chức bộ máy quản lý phù hợp với định hướng của Nhà nước, các yêu cầu của pháp
luật, đồng thời bắt kịp những đòi hỏi của thị trường.
Hoàn thiện bộ máy quản lý phù hợp với chiến lược của doanh nghiệp là một
yếu tố khách quan trong quá trình phát triển. Tùy theo từng giai đoạn phát triển,
chiến lược của doanh nghiệp sẽ có nội dung cũng như tính chất phức tạp khác nhau.
Trong giai đoạn hiện nay, thể chế kinh tế thị trường ở nước ta đã cơ bản hình thành.
Để đáp ứng những yêu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh tạo được vị thế trong

cho hoạt động của ngành Y tế trong giai đoạn mới.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghệ trên thế giới
trong thời gian qua, y học cũng có những tiến bộ vượt bậc nhờ ứng dụng các thành
tựu công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới và công nghệ tin học.
Trước tình hình đó đã đặt ra yêu cầu phát triển cho các Bệnh viện của nước ta
và bệnh viện Bưu điện cũng không thể nằm ngoài xu thế phát triển đó trong công
cuộc đổi mới về công nghệ và nâng cao trình độ của cán bộ y tế.
Bệnh viện Bưu điện với qui mô phát triển từ 100 giường điều trị nội trú cho
đến nay lên tới hơn 500 giường bệnh, lưu lượng bệnh nhân nội trú thường xuyên lên
tới 400-450 bệnh nhân. Về tổ chức, lúc đầu chỉ có 14 khoa, phòng đến nay đã có 28
khoa, phòng và 01 trung tâm Y tế lao động.
Một số hoạt động của bệnh viện đã đạt được thành công, được các đơn vị
trong ngành và Bộ Y tế xác nhận, như: Bệnh viện đã áp dụng Hệ thống quản lý chất
lượng ISO 9001-2008 vào quản lý chất lượng bệnh viện, mô hình chăm sóc sức khỏe
Người thực hiện: Đặng Bích Toàn 19
" Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tại BỆNH VIỆN BƯU ĐIỆN”
người bệnh, tổ chức khám và chăm sóc sức khỏe cho cán bộ công nhân viên ngành
Bưu điện, áp dụng các kỹ thuật cao trong chẩn đoán và điều trị, Chất lượng khám
chữa bệnh ngày một tốt hơn được cán bộ trong ngành Bưu điện và nhân dân tin
tưởng, là một điạ chỉ tin cậy của nhân dân.
Tuy nhiên, đứng trước nhu cầu khám chữa bệnh của cán bộ công nhân viên
trong ngành Bưu điện và của nhân dân trong vùng ngày một tăng cả về số lượng và
chất lượng dịch vụ y tế, bệnh viện chưa đáp ứng được nhiều mặt như: quy mô
giường bệnh thiếu, thiếu một số khoa chuyên sâu; cơ sở vật chất, trang thiết bị còn
thiếu và xuống cấp, chưa đáp ứng về phát triển khoa học công nghệ và phát triển
năng lực cho cán bộ công nhân viên cả về chất lượng và số lượng.
Chính vì vậy, sự cần thiết phải hoàn thiện bộ máy quản lý của Bệnh viện Bưu
điện đến năm 2015 là nhu cầu tất yếu, nhằm thực hiện được nhiệm vụ chính của
Bệnh viện là chăm sóc bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho cán bộ công nhân viên trong
ngành Bưu điện nói riêng và nhân dân trong vùng nói chung ngày một tốt hơn.

" Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tại BỆNH VIỆN BƯU ĐIỆN”
hoạt động song song, bệnh viện Bưu điện được tổ chức gồm 28 khoa phòng và 01
Trung tâm Y tế lao động, hoạt động thống nhất, tập trung dưới sự lãnh đạo của Đảng
ủy và Ban Giám đốc bệnh viện.
Xác định yếu tố quan trọng nhất trong chiến lược phát triển của bệnh viện là
nhân tố con người, lãnh đạo bệnh viện đã ưu tiên đầu tư, thu hút nguồn nhân lực có
tay nghề, trình độ chuyên môn cao để làm chủ và triển khai có hiệu quả các kỹ thuật
y tế mới. Đến nay, đội ngũ cán bộ của đã không ngừng lớn mạnh và trưởng thành cả
về số lượng và chất lượng. Nhiều kỹ thuật tiên tiến, đòi hỏi trình độ chuyên môn sâu,
trước đây chỉ được áp dụng ở một số Bệnh viện chuyên sâu thì nay đã được triển
khai có hiệu quả tại bệnh viện, góp phần nâng cao vị thế của bệnh viện.
Hiện nay bệnh viện lên tới 500 giường điều trị, và đã áp dụng nhiều kỹ thuật tiên
tiến như: mổ tật khúc xạ, phẫu thuật nội soi (tiêu hóa, tiết niệu, xương khớp, tai mũi
họng), phẫu thuật thẩm mỹ, lấy sỏi thận qua da, đẻ không đau, thụ tinh trong ống
nghiệm, nong vành đặt stent với trình độ ngang tầm với các nước tiên tiến trong
khu vực. Hệ thống thiết bị cận lâm sàng hiện đại như máy chụp cắt lớp vi tính(CT),
máy chụp cộng hưởng từ (MRI), các máy siêu âm thế hệ mới như siêu âm màu 3D,
4D, các máy xét nghiệm miễn dịch, vi sinh…
Bệnh viện đã thực hiện được nhiều kỹ thuật ngang tầm với chức năng của bệnh
viện đa khoa tuyến trung ương. Tuy vậy, so với yêu cầu đặt ra và với chức năng
nhiệm vụ là trung tâm chăm sóc sức khỏe cho cán bộ nhân viên nghành Bưu điện và
nhân dân khu vực phía Bắc thì bệnh viện cần phải đầu tư phát triển và hoàn thiện
trong nhiều lĩnh vực mới đáp ứng được nhu cầu phục vụ người bệnh
Bệnh viện Bưu Điện là bệnh viện đầu ngành của Tập đoàn Bưu Chính Nằm
trong chiến lược phát triển con người của Đảng và Nhà nước, lãnh đạo tập đoàn Bưu
chính viễn thông có sự quan tâm đặc biệt tới công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao
sức khỏe của cán bộ công nhân viên ngành Bưu điện. Các chủ trương, chính sách của
Đảng, Nhà nước và Bộ Y tế đã nêu các định hướng và yêu cầu cụ thể cho hoạt động
của ngành y tế trong giai đoạn mới.
Người thực hiện: Đặng Bích Toàn 22

2020.
- Quyết định 153/2006/QĐ-TTg ngày 30/6/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm
2020.
- Luật Bảo hiểm y tế, Nghị định số 62/2009/NĐ-CP của Chính phủ hướng đến một
số điều của Luật BHYT và các Thông tư hướng dẫn thực hiện Luật và Nghị định 62
CP;
- Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ Quy định quyền tự chủ,
tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối
với đơn vị sự nghiệp công lập.
- Nghị định 276/2005/NĐ-CP ngày 1/11/2005 của Chính phủ về chế độ phụ cấp ưu
đãi nghề của ngành Y tế và Thông tư 02/2005/TTLT của Bộ YT – TC – NV hướng
dẫn thực hiện Nghị định 276 CP.
- Quyết định số 155/2003/QĐ-TTg ngày 30/7/2003 của Thủ tướng Chính phủ ban
hành chế độ phụ cấp đặc thù cho CBCC ngành y tế và Thông tư liên tịch số 09/
2003/TTLT của Bộ NV-YT hướng dẫn thực hiện Quyết định 155 TTg.
- Các Nghị quyết của Bộ Chính trị và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về định
hướng phát triển kinh tế vùng đến năm 2010, 2015 và 2020 như Nghị quyết 37/NQ-
TW, 39/NQ-TW, 52/NQ-TW
- Quyết định số 35/2001/QĐ-TTg ngày 19/03/2001 của Thủ tướng chính phủ phê
duyệt chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân giai đoạn 2001 - 2010.
- Quyết định 1047/QĐ-BYT ngày 28/03/2002 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc phê
duyệt quy hoạch phát triển mạng lưới Bệnh viện Việt Nam đến năm 2005 và 2010.
Người thực hiện: Đặng Bích Toàn 24
" Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tại BỆNH VIỆN BƯU ĐIỆN”
- Quyết định số 158/2001/QĐ-TTg ngày 18/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt chiến lược phát triển Bưu chính - Viễn thông Việt Nam đến năm 2010 và định
hướng đến 2020.
- Quyết định 260/QĐ- VNPT-HĐQT- TCCB ngày 9/10/2009 của Chủ tịch Hội đồng
quản trị về việc phê duyệt Điều lệ tổ chức và hoạt động của bệnh viện Bưu điện.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status