Tóc thề xứ Huế
Hình ảnh mái tóc thề của các cô gái Huế luôn là biểu tượng của một xứ Huế mộng
mơ. Nó như biểu tượng "Sống", không thể và không bao giờ thiếu để cùng "làm
nên" tất cả những gì được mệnh danh Thơ và Mộng ở nơi đây. Nếu Huế chỉ có
những cái đẹp hoành tráng, mang tầm cao và uy linh lịch sử, chỉ có những cái đẹp
của cảnh quan và thiên nhiên đầy lặng lẽ chung quanh , có thể khi ấy, Huế sẽ chỉ
là nơi đến cho những kẻ hành hương tưởng niệm, kẽ vãn cảnh nhàn du. Lúc ấy,
biểu tượng "gợi cảm" nhất, sinh động nhất gắn liền giữa con người và bản sắc nơi
đây trong thực tại sẽ là đâu? Cứ vẫn còn thơ, nhưng rồi mộng ở nơi nào? Và chính
nét đẹp nữ giới xứ Huế với tà áo tím và mái tóc thề đã góp phần tạo nên cái thơ,
cái mộng, cái sinh động của Huế.
Tóc thề nói chung: Có nguồn gốc từ văn hoá Trung Hoa. Tóc của người thiếu nữ
ngày xưa, đến tuổi "Cập Kê" (được cài trâm) chừng mười lăm, mười sáu "trăng
tròn". Khi người con gái được quyền "chính thức trang điểm" cũng là lúc có
quyền có tình yêu. Tình yêu được xã hội và gia đình công nhận. Trong tình yêu
họ thường chọn tóc làm tín vật trao nhau, nhắc nhở nhau đừng quên đi đối tượng
tình yêu. Khi người đẹp Thuý Kiều cắt tóc, thề nguyện cùng Kim Trọng:
Tiên thề cùng thảo một trang
Tóc mây một món, dao vàng chia hai
Cũng có nghĩa, khi chàng Kim nhận lấy lọn tóc nhỏ kia là đã nhận luôn "quả tim"
muốn gửi gắm một đời. Kiều, lấy tóc của thân mình trao gởi, tự coi như đã trao
thân gửi phận cho người mình yêu dấu. Vì thế, tóc ấy cộng với Lời Thề Thốt
cùng nhau mới nên nghĩa Tóc thề.
Tóc là một phần thân thế, là tượng trưng của tổ tông và huyết tộc được lưu truyền,
là sinh thành do tác hợp mẹ cha, là mùi hương sự mềm dịu, một sắc màu gợi cảm
"hiển nhiên" và rất "Thực" của con người. Nó không phải là đồ trang sức, mượn
vào sức hào phóng giả tạo ở bên ngoài hay giá trị của bạc vàng châu báu. Bởi thế,
không gì sánh được với tín vật Nhân - Thân từ biểu tượng Tóc thề: Trong văn hoá
lịch sử Trung Hoa, đã có lúc "giá -trị - tóc" bị lu mờ và khủng hoảng. Triều đại
Mãn Thanh phủ nhận mái tóc trong luật bắt người đàn ông người Hán cạo đầu và
bài thơ. Có lẽ vì thế mà nghề làm nón từ xưa ở Huế rất phát triển. Ở Huế có các
làng sản xuất tập trung và nổi tiếng một thời như Triều Sơn, Đồng Di, Tây Hồ,
Phủ Cam Và cũng chỉ có phụ nữ Huế với đôi tay mềm mại và tinh tế, điêu luyện
kết hợp với tài năng của mình mới tạo ra được những chiếc nón nên thơ, mang
đậm phong cách Huế.
Trong thư tịch cổ thời Trịnh - Nguyễn (thế kỷ XVII-XVIII), nón Huế đã có những
nét riêng được thẩm định là: Nón ở Thuận Hoá kiểu hơi khác với các xứ, xóm
Tam Giáp Thượng, xã Triều Sơn, huyện Phú Vang chằm nón rất nhỏ, mỏng. Mặt
khác trong khâu kỹ thuật, người thợ Huế chọn lá nón dù khô cũng còn giữ được
màu xanh nhẹ, mười sáu vành nức thường mảnh được vót tròn trĩnh, tỷ mỷ và
công phu. Người thợ ủi lá nhiều lần và cẩn thận cho thật phẳng và láng. Khung
chằm (còn gọi là khuôn nón) phải tự mình đặt làm ở thợ chuyên môn. Có khi phải
trực tiếp góp ý và đề nghị với thợ làm khung một số chi tiết cần thiết để dáng của
chiếc nón sau này đẹp mắt, vừa ý. Đặc biệt, khi xây và lớp lá đòi hỏi người thợ
phải thật khéo nhất là khâu sử dụng lá chêm, tránh việc chồng nhau nhiều lớp để
nón thanh và mỏng, đường kim mũi chỉ chằm phải sát để kẽ lá ôm khít lấy nhau.
Nón chằm hoàn tất, người ta đính cái soài đã được chuẩn bị bằng chỉ màu rất đẹp
vào chóp nón sau đó mới phủ dầu nhiều lần, phơi đủ nắng để thành nón bóng láng
và giữ được bền.
Nón bài thơ là một sản phẩm tiêu biểu cho nghề nón Huế. Với kỹ thuật tạo hình
và cắt chữ trên giấy màu đậm, xếp chen giữa hai lớp lá nón, người thợ có thể làm
tăng thêm phần mỹ thuật và nét duyên dáng cho người sử dụng với hình ảnh:
sông Hương, núi Ngự, tháp chùa Thiên Mụ, cầu Trường Tiền Để rồi dưới ánh
sáng mặt trời, thành nón mỏng làm nền để hiện lên sau mái tóc của người phụ nữ
Huế cả một tác phẩm thi và họa
Bằng những chiếc nón đặt, chủ nhân có thể gởi gắm ý tình, sở thích và cả tâm sự
của mình trong lớp lá nón, nhưng sự chia xẻ ấy lại không trọn vẹn cho một ai vì
tất cả chỉ thấp thoáng kín đáo như chính khuôn mặt của cô thiếu nữ Huế đằng sau
chiếc nón vậy.
Ngày nay, phải nói rằng, nón bài thơ đã trở thành món quà lưu niệm cho tất cả