MỞ ĐẦU
1. Lý do thực hiện đề tài:
Trong nền kinh tế mở như hiện nay, hầu hết các Công ty đểu muốn việc kinh
doanh của mình gặp thuận lợi, thu được lợi nhuận cao. Thế nhưng, trong kinh doanh,
sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt khi bất kỳ Công ty nào cũng muốn ưu thế thuộc về
mình, khách hàng sẽ tìm mua những sản phẩm của mình…
Để đạt được điều đó, bất kỳ Công ty nào cũng muốn hoàn thiện mình hơn để
giành được thị trường và khách hàng. Phòng kinh doanh của công ty có một vị thế rất
quan trọng. bởi vì họ là người đại diện cho Công ty tiếp xúc với khách hàng, thực hiện
các hợp đồng buôn bán….với khách hàng.
Tìm hiểu, phân tích thực trạng bán hàng tại Công ty, từ đó đưa ra những giải
pháp nhằm hoàn thiện khả năng bán hàng của nhân viên Kinh doanh. Đó là lý do em
thực hiện đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bán hàng của nhân
viên kinh doanh tại Công ty Cổ phần Trần Đức”.
2. Mục tiêu thực hiện đề tài:
Phân tích về thực trạng bán hàng tại công ty, tìm hiểu về quy cách bán hàng
của một nhân viên Kinh Doanh. Từ đó, đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện hiệu
quả bán hàng của Phòng Kinh Doanh.
3. Đối tượng – phạm vi nghiên cứu:
Quy trình bán hàng của một nhân viên Kinh Doanh tại Công ty Cổ phần Trần
Đức. Ấp Bình Phước A, X. Bình Chuẩn, H. Thuận An, Bình Dương, TP.HCM
4. Phương pháp nghiên cứu:
Thu thập và phân tích các số liệu thứ cấp tại Công ty Cổ phần Trần Đức Ấp
Bình Phước A, X. Bình Chuẩn, H. Thuận An, Bình Dương, TP.HCM
Chương 1:
Giới Thiệu Sơ Lượt Về Công Ty Cổ Phần Trần Đức.
1.1 Giới thiệu công ty:
1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển:
Hình 1.1: Logo Công Ty Cổ Phần Trần Đức
Bảng 1.1: Thông tin chi tiết Công Ty Cổ Phần Trần Đức:
Người đại diện: Ông Trần Đức Lâm
doanh thu 8.962.169,58USD.
Đầu năm 2005, Trần Đức 2 được mở rộng và bắt đầu tiến hành sản xuất một
phần cho xuất khẩu trực tiếp với tổng số công nhân là 276 người và doanh thu là
2.111.000,00USD. Trong khi vẫn tiếp tục duy trì gia công xẻ sấy gỗ cho hai nhà máy
TCD và FGC.
Năm 2006, Trần Đức tiếp tục phát triển và mở rộng sản xuất tại Trần Đức 2.
Tháng 6/2006, Công ty Trần Đức 2 chuyển đổi thành Công ty cổ phần Trần Đức với
số công nhân tính đến tháng 12/2006 là 1430 người và doanh thu dự đoán là
7.564.000,00USD.
Ba công ty TNHH Trần Đức, FGC, và cổ phần Trần Đức hoạt động dưới mô
hình quản lý điều hành tập trung của Trần Đức Group với Ban Tổng Giám Đốc và
Ban Giám Đốc chuyên môn và điều hành.
Nhằm tăng cường cho việc sản xuất, năm 2007 tập đoàn Trần Đức đã sáng lập
thêm công ty TNHH Hào Quang có trách nhiệm trong việc trồng, quản lý và khai thác
rừng ở Việt Nam. Hiện nay tập đoàn Trần Đức sở hữu 2 vùng rừng ở miện trinh Việt
Nam với diện tích khoảng 1500ha cây keo và có giấy chứng nhận Tropical Forest
Trust (giấy chứng nhận bảo tồn rừng nhiệt đới).
Từ năm 2008 đến nay, Tập đoàn Trần Đức tiếp tục hoạt động, phát triển và mở
rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Hiện nay, tập đoàn có tổng cộng 5 công ty dược
được điều hành và sở hữu hoàn toàn bởi tập đoàn Trần Đức. Công ty Cổ Phần Trần
Đức và Công ty TNHH Một Thành Viên Toàn Cầu chịu trách nhiệm về sản xuất cho
toàn bộ chương trình gỗ sân vườn, trong khi đó Công ty TNHH Một Thành Viên Trần
Đức 1 chuyên về khâu đồ gỗ trang trí nội thất. Sao Nam hiện tại sản xuất ván sàn nội
thất và đóng gói, xẻ - sấy khô. Hiện đã có phòng trưng bày sản phẩm tại công ty Cổ
Phần Trần Đức và công ty TNHH Một Thành Viên Trần Đức 1.
Tất cả các Công ty của tập đoàn đều đặc tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh
Bình Dương ( mất khoảng 60 phút đi xe từ trung tâm thành phố ) và có tổng nhân lực
khoảng 3600 người. Khách hàng của tập đoàn bao gồm các đại lý và nhà phân phối
lớn nhất thế giới trải rộng các quốc gia như Anh, Châu Âu, Bắc Mỹ và Châu Úc.
Tập đoàn Trần Đức sở hữu diện tích đất là 260.500m2, diện tích xây dựng là
huy động vốn, lập báo cáo tài chính.
Phòng cung ứng vật tư: dự trù đặt hàng và cung cấp các loại vật tư – phụ liệu,
máy móc thiết bị theo kế hoạch kinh doanh và lệnh sản xuất, thiết kế bao bì, lập hồ sơ
xếp hàng lên container.
Phòng kế hoạch: xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh ngắn hạn và dài hạn
của công ty.
Phòng cơ điện: giám sát và kiểm tra tình trạng hoạt động toàn bộ các thiết bị
thuộc công ty
1.1.3 Sơ đồ tổ chức công ty
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC TẬP ĐOÀN TRẦN ĐỨC GROUP
Tổ chức bộ máy Công ty đứng đầu là Ông Trần Đức Lâm, Tổng Giám Đốc, tổ
chức và điều hành hoạt động của Công ty theo chế độ chủ trương, và đại diện cho mọi
quyền lợi và nghĩa vụ của Công ty trước Pháp Luật và trước cơ quan Nhà Nước.
Trong cơ cấu này, vai trò từng vị trí được bố trí theo chức năng nhằm đạt được
mục tiêu, nhiệm vụ chung. Quản lý của từng bộ phận chức năng: sản xuất, sales,
Marketing, tài chính….sẽ có nhiệm vu báo cáo lại cho Giám Đốc, người chịu trách
nhiệm phối hợp các hoạt động của Công ty, và cũng là người chịu trách nhiệm cuối
cùng về kết quả hoạt động của Công ty.
Các phòng ban có quan hệ ngang cấp, mọi hoạt động được thực hiện theo
nguyên tắc phối hợp thực hiện nhằm hoàn thành nhiệm vụ chung, dựa trên các quy
chế làm việc được ban hành.
1.2 Phương hướng phát triển trong tương lai:
1.2.1 Ngành nghề tham gia
Tập đoàn Trần Đức là một trong những nhà cung cấp hàng đầu về vườn thiên
nhiên đồ gỗ trang trí nội – ngoại thất cao cấp và sàn nhà của Việt Nam. Hoạt động từ
năm 2000, cho đến nay tập đoàn Trần Đức Đã phát triển thành công và nổi tiếng nhờ
chất lượng sản phẩm tốt và dịch vụ tuyệt vời.
Tập đoàn Trần Đức chủ yếu hoạt động sản xuất kinh doanh xuất khẩu với sản
phẩm chủ yếu như:
Hàng ngoại thất, nội thất:
3
100 2,981,26
2
100 6,637,43
7
100 647,94
9
79.6 3,706,59
1
168.0
1.2.2 kết quả kinh doanh 3 năm trở lại:
Bảng 1.2: Kim ngạch xuất nhập khẩu giai đoạn 2009-2011
( nguồn: phòng xuất nhập khẩu của công ty) ĐVT:USD
BIỂU ĐỒ 1.1: KIM NGẠCH XUẤT NHẬP KHẨU QUA CÁC NĂM 2009-
2011
Qua số liệu về kim ngạch xuất nhập khẩu của công ty ta có thể nhận xét như
sau:
Kim ngạch xuất khẩu chiếm tỷ trọng chính trong tổng kim ngạch xuất nhập
khẩu của công ty. Năm 2011, kim ngạch xuất khẩu đạt 6,575,54 USD, cao nhất trong
3 năm, gấp 2.27 lần so với 2010 và 2.89 lần so với năm 2009 chiếm tỷ lệ 99.1% trong
tổng kim ngạch. Tình hình xuất khẩu giai đoạn năm 2010-2011 có hiện tượng xuất
siêu, kim ngạch xuất khẩu năm 2011 tăng từ 2,894,262 USD lên tới 6,575,64 USD, tỷ
lệ tăng 127.2% so với 2010; trong khi đó kim ngạch nhập khẩu lại giảm 40.8% tương
đương giảm 25,203USD nhưng vẫn chiếm 1/3 tỷ lệ trong cơ cấu tổng kim ngạch chỉ
đạt 61,797 USD chiếm tỷ lệ 0.9% Do năm 2007-2008, thế giới có sự biến động theo
chiều hướng xấu dẫn tới khủng hoảng kinh tế và vẫn còn kéo dài đến đầu năm 2009
và tình hình người tiêu dùng ngày càng khó tính hơn cộng thêm các rào cảng thương
mại ngày càng gia tăng ở những nước phát triển để hạn chế hàng nhập khẩu khuyến
khích người tiêu dùng sử dụng hàng sản xuất trong nước.
Tuy nhiên qua những năm sau tình hình đã dần ổn định trở lại và đang trong
Đối(%
)
Tuyệt
Đối
Tươn
g
Đối
Tự
doanh
1,547,841.1
6
2,025,983.
4
4,734,46
8
478,142.2
4
30.1
2,708,484.
6
133.6
9
Gia
công
xuất
khẩu
728,395.84 868,278.6
1,841,18
2
139,882.7
Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 So sánh 2009-
2010
So sánh 2010-
2011
Tuyệt đối Tươ
ng
đối
%
Tuyệt đối Tươ
ng
đối
%
Doa
nh
thu
36,419,797
,997
52,096,717
,480
124,937,358
,844
15,676,919
,483
43.0
4
72,840,641
,364
139.
81
Chi
10.2
3
( nguồn: Báo cáo tài chính của công ty)
BIỂU ĐỒ 1.3: HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY QUA CÁC NĂM
2009-2011
Nhìn chung kết quả hoạt động kinh doanh của công ty rất tốt, năm nào cũng có
lời nhưng thất thường không ổn định có năm giảm như năm 2011 lợi nhuận đạt
khoảng 4 tỷ đồng giảm khoảng 1.5 tỷ đồng tương đương 10.23% so với năm 2010, và
năm 2010 cũng giảm khoảng 2 tỷ đồng so với 2009 tương đương 19.00%. Doanh thu
và chi phí giai đoạn 2009-2011 có xu hướng tăng nhưng phần tăng của chi phí luôn ở
mức cao làm cho lợi nhuận mang về thấp, vì phần lớn 80% nguyên phụ liệu phục vụ
cho việc sản xuất là nhập khẩu nên chi phí bỏ ra khá lớn, vì từ năm 2004 đến nay, giá
gỗ không ngưng tăng, tỷ giá hối đoái luôn biến động và ảnh hưởng cuộc khủng hoảng
của nền kinh tế thế giới. Do đó, mặc dù doanh thu tăng cao nhưng lợi nhuận thu về
thấp có xu hướng giảm mạnh nhất trong năm 2011 ( khoảng 4 tỷ đồng) giảm khoảng
1.5 tỷ đồng tương ứng với 10.23% so với năm 2010. Năm 2011 mặc dù doanh thu và
chi phí đều tăng so với 2010 ( doanh thu tăng 72 tỷ đồng tương đương 139.81% chi
phí tăng khoảng 73 tỷ đồng chiếm khoảng 156.01% nhưng lợi nhuận mang về khá
thấp đạt khoảng 4.5 tỷ đồng, giảm khoảng 1.5 tỷ đồng so với 2010 chiếm khoảng
10.23% đây là một dấu hiệu đáng lo do công ty vì chưa giải quyết được các vấn đề
như giá nguyên liệu tăng đột ngột, chi phí vận chuyển,…
1.2.3. Dự báo
Ngành công nghiệp chế biến xuất khẩu gỗ là một trong những ngành sản xuất
xuất khẩu chủ lực của Việt Nam hiện nay, mang lại nguồn thu nhập lớn cho đất nước.
Đây cũng là cơ hội lớn cho các doanh nghiệp trong ngành chế biến xuất khẩu gỗ của
Việt Nam nói chung và tập đoàn Trần Đức nói riêng có thể phát huy thế mạnh của
mình, tạo nguồn lợi cho doanh nghiệp và cũng góp phần làm giàu cho đất nước.
Tuy nhiên, do cuộc khủng hoảng kinh tế lớn, nên cũng ít nhiều có ảnh hưởng
đến công ty tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
Chương 2:
Giám Đốc công ty phê duyệt. Thống kê, báo cáo hoạt động kinh doanh theo đúng tiến
độ và quy định. Chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh trước Ban Giám
Đốc công ty.
Lưu trữ các hồ sơ, hợp đồng kinh tế có liên quan đến công tác kinh doanh của
công ty theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.
2.1.3 Nhiệm vụ
Chủ động tìm kiếm đối tác để phát triển mạng lưới phân phối, từng bước mở
rộng thị trường kinh doanh của công ty. Nghiên cứu và tham mưu cho Ban Giám đốc
trong công tác định hướng hoạt động kinh doanh.
Tiếp khách hàng, phân tích thị trường, tìm thị trường kinh doanh, tìm kiếm
khách hàng cho Công ty. Lên kế hoạch, theo dõi sản xuất mẫu khi nhận được đơn
hàng.
Phân tích đơn hàng, lập định mức sản xuất sản phẩm, trên cơ sở đó chiết tính
gía thành sản phẩm, giá bán (FOB)…trình cấp trên duyệt.
Nhận các đơn đặt hàng từ khách hàng, ký kết hợp đồng kinh tế với khách hàng
và trình cấp trên ký duyêt.
Làm thủ tục, thực hiện việc xuất nhập khẩu cho toàn bộ các đơn hàng đã ký.
Lập kế hoạch sản xuất theo tháng, quí, năm.
Tiếp nhận tài liệu kỹ thuật, tài liệu kế hoạch, bảng vẽ, yêu cầu về sản phẩm…
từ khách hàng.
Yêu cầu đơn vị sản xuất, bộ phận công nghệ liên quan làm mẫu giao cho khách
hàng duyệt….Tiến hành yêu cầu sản xuất khi khách đã đồng ý.
Lập nhu cầu nguyên phụ liệu cần mua và đặt hàng theo đúng quy định Thủ tục
mua hàng và Thủ tục xem xét hợp đồng, theo dõi đôn đốc nhà cung ứng giao hàng
đúng hạn đáp ứng nhu cầu theo lịch sản xuất.
Nhận và giải quyết những thông tin sản xuất có liên quan (sai bảng vẽ, màu
sắc ).
Làm packing list, lịch xuất hàng, chuyển giao cho đơn vị sản xuất, bộ phận liên
quan thực hiện.
Thanh lý nguyên phụ liệu với Phân xưởng sản xuất, đơn vị gia công ngoài,
phẩm từ gỗ. Khách hàng của Trần Đức Cổ phần đa số là khách nước ngoài, sản phẩm
của Trần Đức có mặt ở rất nhiều nơi trên thế giới.
Tiêu chí phân khúc thị trường của Công ty Cổ phần Trần Đức, “không đặt
trứng trong một gỗ”, tức là: thị trường kinh doanh của Công ty được chia ra để dễ
quản lý, cụ thể được chia ra làm 3 thị trường trọng điểm:
• Mỹ, Canada
• Châu Âu, Anh
• Úc, New Zealand
Đó là những thị trường chủ lực của Công ty khi xuất khẩu các sản phẩm nội,
ngoại thất sang thị trường thế giới.
Theo ban lãnh đạo Công ty, tất cả các thị trường đều được áp dụng theo
phương thức “chia để trị”, bởi vì, Trần Đức Cổ phần cho rằng, nếu 1 trong 3 thị
trường chính gặp rủi ro thì cũng không đáng kể, 2 thị trường còn lại có thể tăng doanh
số của Công ty.
2.1.1.2 Thị trường mục tiêu:
Trước ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng lớn vừa qua, mục tiêu của Công ty Cổ
phần Trần Đức là: “duy trì những khách hàng, thị trường hiện có, cố gắng phát triển
và tìm kiếm thêm khách hàng mới, thị trường mới”.
Trần Đức là một trong những Tập đoàn lớn, có uy tín với khách hàng trong
cũng như ngoài nước. Riêng Công ty Cổ phần Trần Đức được các khách hàng ngoài
nước biết đến là một Công ty chuyên sản xuất các loại gỗ trang trí nội, ngoại thất với
chất lượng sản phẩm tốt, thời gian giao hàng luôn được đảm bảo, có uy tín trên thị
trường thế giới.
Hiện nay, ngoài việc giữ vững thị phần hiện có, Công ty Cổ phần Trần Đức
đang hướng đến thị trường mới là : Đức, Nam phi và một số nước có thu nhập cao.
Để đạt được điều đó, Công ty đã không ngừng đổi mới máy móc, sáng tạo để
tạo ra những sản phẩm tốt, có chất lượng cao để phục vụ tốt nhất cho khách hàng kể
cả những khách hàng khó tín nhất.
BẢNG 2.1 DANH SÁCH MÁY MÓC VÀ THIẾT BỊ CHẾ BIẾN GỖ
STT Tên gọi Số lượng Xuất xứ
tranh càng giảm trong khi giá nguyên liệu gỗ đầu vào càng tăng, giá kéo theo lợi
nhuận giảm nhưng chất lượng sản phẩm phải cao, khiến cho nhiều doanh nghiệp đã ký
hợp đồng từ trước trở tay không kịp. Một măt họ tìm kiếm nhưng đơn hàng giá cao để
bù lại những đơn hàng không thu lợi nhuận, mặt khác họ chọn giải pháp ký những đơn
hàng ngắn hạn để giảm thiểu rủi ro. Chính vì thế mà một số Công ty cùng ngành đã
có những chiến lược kinh doanh cho riêng mình để tạo sự cạnh tranh trên thị trường.
Giá nguyên liệu gỗ tăng mạnh là công ty Savimaex là một đơn vị giữ kim
ngạch xuất khẩu vào hàng top trong ngành đồ gỗ hiện nay. Savimeax đang tính toán
lại cơ cấu sản phẩm, tìm nguồn nguyên liệu thay thế những loại đang tăng giá quá cao.
Bài tính còn chi tiết đến mức phải pha cắt sản phẩm sao cho đạt tỉ lệ thành phẩm cao,
hạn chế thấp nhất sản phẩm hư hỏng, giảm phí lưu kho bãi, kết hợp đàm phán đối tác
cũ tìm giá hợp lý và tích cực tìm kiếm thêm đối tác mới, thị trường mới để ký kết
những đơn hàng theo giá mới. Bằng biện pháp tổng hợp này, Savimaex đang cố gắng
giảm mức độ lên của thị trường, thay vì 15 – 20% giảm còn 5 – 10%. Một giải pháp
khác cũng được Savimaex đề nghị: phải tìm nguồn nguyên liệu rẻ hơn, kết hợp với
liên kết nhập khẩu.
Công ty Trường Thành đang đối đầu với tình hình nguyên liệu tăng bằng việc
trồng rừng, Trường Thành đã đầu tư trồng rừng và mua lại nhưng khu rừng cũ 6 – 7
năm tuổi, cho phép khai thác trong 2 – 3 năm tới, tổng cộng khoảng 50.000 ha tại Đắc
Lắc, Đắc Nông và Phú Yên. Như vậy, tính đến cuối năm 2010, Trường Thành đã có
thể chủ động 50% nguyên liệu và sau đó 7 – 8 năm, không những cung cấp 100%
nguyên liệu cho sản xuất mà còn có khả năng đáp ứng 15% nhu cầu nguyên liệu cho
đơn vị bạn. Trường Thành không đầu tư trồng cùng lúc vì như vậy không thể đảm bảo
vốn và nhân lực, mà trồng liên tục trong nhiều năm, mỗi năm tối thiểu 5000 hecta với
chủ trương “ lấy ngắn nuôi dài”.
Đối với Công ty gỗ Tiến Triển, Ông Nguyễn Phi Tiến, người đang có tâm
huyết trong việc thành lập Hiệp hội gỗ Bình Dương cho răng: nếu có được Hiệp hội,
vấn đề nguyên liệu không còn đáng lo nữa, vì khi đó các Công ty có thể liên kết lại để
nhập khẩu nguyên liệu với khối lượng lớn giảm được giá thành, tránh phải mua qua
trung gian hoặc cạnh tranh đẫy giá lên sẽ hỗ trợ nhiều cho Công ty nhỏ.
khách hàng hiện có, Trần Đức còn tìm cách tiếp cận và tạo lập mối quan hệ với các
khách hàng mới bằng cách: tham gia các hội trợ triển lãm trong và ngoài nước để cũng
cố thương hiệu và tìm kiếm khách hàng mới.
Thị trường kinh doanh của Tập đoàn rất rộng lớn, ở nhiều quốc gia trên thế
giới, nên Trần Đức đã đúng đắn khi thiết lập các văn phòng đại diện và đại lý kinh
doanh tại các thị trường quan trọng:
• Văn phòng đại diên ở San Diego, California, Mỹ,
• Văn phong đại diện ở Southampton, Vương quốc Anh.
• Đại lý kinh doanh độc quyền tại Aucklan, New Zealand.
• ……
Thị trường kinh doanh là yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến kim ngạch xuất
khẩu của công ty vì bất cứ biến động nào từ thị trường đều tác động đến kết quả kinh
doanh của công ty tại thị trường đó. Trong thời gian gần đây, ngành công nghiệp xuất
khẩu gỗ của Việt Nam càng ngày càng phát triển lớn mạnh, đặc biệt là khi Việt Nam
đã chính thức trở thành thành viên viên chính thức của WTO. Các doanh nghiệp xuất
khẩu gỗ của Việt Nam đã mạnh dạn mở rộng quy mô sang các thị trường lớn và khó
tín hơn, như thị trường Châu Âu và Hoa Kỳ… Cùng với xu hướng đó ban lãnh đạo
công ty Trần Đức cũng đạ có những kế hoạch nghiên cứu và mở rộng thị trường xuất
khẩu.
Bảng 2.2: Khảo sát thị trường xuất khẩu chính của công ty giai đoạn 2008 – 2011
đvt: USD
Thị trường
Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011
Giá trị
Tỷ
trọng
%
Giá trị
Tỷ
trọng
luôn chiếm kim ngạch cao nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu của công ty vào các
năm 2008 và năm 2009. Cụ thể là 2008 chiếm 50.9% và năm 2009 chiếm 40.6%
trong tổng kim ngạch xuất khẩu của công ty.
- Từ khi Mỹ đặt ra các luật nghiêm ngặt về xuất xứ nguyên liệu gỗ làm
nên sản phẩm như luật Lacey thì kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Mỹ giảm dần.
Kim ngạch năm 2010 giảm 13.2% so với năm 2009 và năm 2011 giảm nhiều hơn
15.5% so với năm 2010. Gần đây công ty đã đáp ứng được những yêu cầu mà Mỹ
đặt ra nên năm 2011 tình hình khả quan hơn.
Thuận lợi:
- Mỹ là một thị trường khổng lồ, đa dạng, có nhu cầu đối với các loại mặt
hàng khá lớn, đặc biệt là các sản phẩm làm từ gỗ như nội ngoại thất và các đồ gia
dụng.
- Thuế nhập khẩu đối với mặt hàng gỗ vào Mỹ từ 0 – 3%.
- Thị trường Mỹ không quá khó tính so với các thị trường khác, và các
đơn đặt hàng thì thường lớn.
Khó khăn:
- Gặp phải sự cạnh tranh khóc liệt đối với các mặt hàng đồ gỗ của Trung
Quốc. Hiện Trung Quốc vẫn là nước có kim ngạch xuất khẩu vào Mỹ đứng thứ 2 chỉ
sau Canada.
- Gặp phải khó khăn bởi những rào cản trong pháp luật và các kỹ thuật
đối với thương mại, đặc biệt là các luật nghiêm ngặt về xuất xứ nguyên liệu gỗ làm
nên sản phẩm như luật Lacey. Mỹ được coi là quốc gia có hệ thống luật pháp phức
tạp và nhiều rào cản kỹ thuật đối với thương mại.
- Những khó khăn về tiêu chuẩn lao động và môi trường khi xuất khẩu
hàng hóa sang Mỹ; các vụ kiện chống bán phá giá và chống trợ giá; hàng rào kỹ
thuật và an toàn thực phẩm
- Bên cạnh đó, còn gặp phải khó khăn về chi phí và những đòi hỏi về tiêu
chuẩn năng lực của doanh nghiệp. Thị trường xa, chi phí vận tải và giao dịch cao
dẫn đến các mặt hàng cồng kềnh trị giá thấp rất khó cạnh tranh.
Thị trường Anh:
tăng đều qua các năm mà kim ngạch lại có xu hướng tăng giảm qua các năm nguyên
nhân là do tác động của những yêu cầu khắc khe của thị trường này. Cụ thể kim ngạch
năm 2009 giảm 0.4% so với năm 2008, và năm 2010 tăng 29% so với năm 2009, năm
2011 giảm 17.5% so với năm 2010. Mặc dù kim ngạch xuất khẩu có giảm vào năm
2009 và 2011 nhưng điều đó không ảnh hưởng đến tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn
công ty qua các năm.
Thuận lợi:
- Nhu cầu của thị trường Úc về sản phẩm gỗ ngày càng cao
- Do người tiêu dùng Úc đã quen với việc sử dụng các sản phẩm được
nhập khẩu từ Việt Nam, và cùng với việc Úc tiếp tục thực hiện mở cửa thị trường và
tự do hóa thương mại tạo sẽ điều kiện cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam
nói chugn và công ty cổ phần Trần Đức nói riêng.
Khó khăn:
- Những quy định về ngành gỗ cũng khắc khe hơn, sản phẩm xuất vào Úc
phải có khử trùng ở nồng độ cao đảm bảo chất lượng sản phẩm và an toàn cho người
sử dụng.
- Tại thị trường Úc sản phẩm củ doanh nghiệp vẫn chưa có mặt tại các thị
trường lớn, chưa tìm được các nhà phân phối có uy tính nên vẫn chưa được biết đến
nhiều.
Thị trường New Zealand:
Trong những năm gần đây thị trường New Zealand tăng trưởng mạnh góp tỷ lệ
lớn vào tổng kim ngạch xuất khẩu của công ty. Kim ngạch xuất khẩu của công ty vào
thị trường này tăng liên tục qua các năm . Chính nhờ tốc độ tăng như vậy đã năng kim
ngạch xuất khẩu của toàn công ty lên qua các năm. Cụ thể là:
Năm 2009 tăng 0.2% so với năm 2008 tương ứng với mức tăng là 7,860
USD.
Năm 2010 tăng 1% so với năm 2009 tương ứng với mức tăng là 37,848
USD.
Năm 2011 tăng 27.8% so với năm 2010 tương ứng với mức tăng là
1,923,738 USD. Đây là năm mà kim ngạch xuất khẩu của công ty tăng nhiều nhất
- Sản phẩm gỗ của các doanh nghiệp Trung Quốc đa dạng về mẫu mã giá
cả và chất lượng đây cũng là mối quan tâm đối với công ty Trần Đức trong công tác
tiếp thị và xuất khẩu sản phẩm gỗ sang Trung Quốc.
Thị trường Khác:
Đa dạng hóa thị trường là chiến lược xuyên suốt của công ty ngay từ khi thành
lập. Bên cạnh những thị trường truyền thống như: Mỹ, Anh, Úc, New Zealand, Trung
Quốc, ngoài ra, công ty còn xuất vào một số thị trường nhỏ lẻ như: Poland, Finland,
Pháp, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ… công ty cần mở rộng sang các thị trường này để
phát triển thành những thị trường chủ lực của công ty. Mặc dù kim ngạch xuất khẩu
sang các thị trường khác này chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng kim ngạch xuất
khẩu của công ty nhưng nó cũng đã góp phần đóng góp vào việc mang lại doanh thu
cho công ty qua các năm.
Nhận xét:
Bằng việc đa dạng hóa được thị trường xuất khẩu của mình công ty đã không
ngừng mang lại doanh thu cho mình. Bên cạnh đó tiềm kiếm được thêm những khách
hàng tiềm năng góp phần năng cao tổng kim ngạch xuất khẩu qua các năm.
Bảng 2.3: Đơn giá xuất khẩu các sản phẩm ngoại thất chủ lực
ĐVT: USD
STT Tên hàng Quy cách(cm) Mã số Đơn giá
1 Bàn brington coffee 117x58x40.6 9403609900 31.91
2 Bàn bar 105x150x50.5 9403609900 147.85
3 Bàn rect 86.5x44.5x57 9403609900 42.32
4 Ghế love seat 56x56.5x100 9401690000 46.16
5 Ghế bench 57x44.5x86.5 9401690000 39.32
6 Ghế director 87x47x51.5 9401690000 18.59