7
Trong c¸c quy luËt kh¸ch quan chi phèi sù vËn ®éng ph¸t triÓn cña c¸c h×nh
8
thái kinh tế xã hội thì quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất có vai
trò quyết định nhất. Lực lợng sản xuất, một mặt của phơng thức sản xuất, là
yếu tố bảo đảm tính kế thừa trong sự phát triển lên của xã hội quy định
khuynh hớng phát triển từ thấp. Quan hệ sản xuất là mặt thứ hai của phơng
thức sản xuất biểu hiện tính gián đoạn trong sự phát triển củ lịch sử. Những
quan hệ sản xuất lỗi thời đợc xoá bỏ và đợc thay thế bằng những kiểu quan
hệ sản xuất mới cao hơn và hình thái kinh tế xã hội mới cao hơn ra đời.
Nh vậy, sự xuất hiện, sự phát triển của hình thái kinh tế xã hội, sự chuyển
biến từ hình thái đó lên hình thái cao hơn đợc giải thích trớc hết bằng sự tác
động của quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình
độ của lực lợng sản xuất. Quy luật đó là khuynh hớng tự tìm đờng cho
mình trong sự phát triển thay thế các hình thái kinh tế - xã hội. Nghiên cứu
con đờng tổng quát của sự phát triển lịch sử đợc quy định bởi quy luật
chung của sự vận động của nền sản xuất vật chất chúng ta nhìn thấy logic của
lịch sử thế giới.
Vạch ra con đờng tổng quát của lịch sử, điều đó không có nghĩa là giải
thích đợc rõ ràng sự phát triển xã hội trong mỗi thời điểm của quá trình lịch
sử. Lịch sử cụ thể vô cùng phong phú, có hàng loạt những yếu tố làm cho quá
trình lịch sử đa dạng và thờng xuyên biến đổi, không thể xem xét quá trình
lịch sử nh một đờng thẳng.
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, nhân tố quyết định quá
trình lịch sử, xét đến cùng là nền sản xuất đời sống hiện thực. Nhng nhân tố
kinh tế không phải là nhân tố duy nhất quyết định các nhân tố khác nhau của
kiến trúc thợng tầng đều có ảnh hởng đến quá trình lịch sử. Nếu không tính
đến sự tác động lẫn nhau của các nhân tố đó thì không thấy hàng loạt những
sự ngẫu nhiên mà tính tất yếu kinh tế xuyên qua để tự vạch ra đờng đi cho
mình. Vì vậy để hiểu lịch sử cụ thể thì cần thiết phải tính đến tất cả các nhân
tố bản chất có tham gia trong quá trình tác động lẫn nhau đó.
kinh tế- xã hội nhất định thống trị. Thí dụ, khi chúng ta nói về thời đại xã hội
chiếm hữu nô lệ hay thời đại phong kiến là gắn chúng vào thời gian mà những
hình thái kinh tế- xã hội đó thống trị. Khái niệm thời đại cũng có thể gắn với
những giai đoạn nhất định của một hình thái kinh tế-xã hội nhất định.
Để vạch rõ đợc xu hớng của thời đại, theo Lênin, cần phải khẳng định
xem giai cấp nào là trung tâm của thời đại, quy định nội dung chủ yếu của
thời đại đó.
Khác với khái niệm hình thái kinh tế-xã hội xác định đặc trng của một
bớc phát triển nhất định của xã hội, khái niệm thời đại lịch sử thể hiện tính
nhiều vẻ của các quá trình đang diễn ra trong một thời gian nhất định ở một
giai đoạn lịch sử nhất định. Trong cùng một thời đại, ở cùng một bộ phận khác
nhau của nhân loại cùng tồn tại những hình thái kinh tế-xã hội khác nhau.
Trong cùng một thời đại có những bộ phận, những phong trào hoặc tiến lên
phía trớc, hoặc thoái lu, hoặc đi lệch theo một hớng nào đó.
Cuối cùng, khái niệm thời đại gắn liền với sự quá độ từ một hình thái
kinh tế, xã hội này sang một hình thái kinh tế xã hội khác. Thí dụ, quá độ từ
chủ nghĩa phong kiến sang chủ nghĩa t bản đợc gọi là thời đại phục hng,
thời đại cách mạng t sản.
Giá năm 1996 tơng đơng với 80% tổng giá trị các khoản đầu t này
vào Thái Lan trái với những nhận định thông thờng về chủ nghĩa t bản, nhà
nớc t bản đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế và điều chỉnh
sự vận động của nền sản xuất xã hội mà nhiêù khi với sự nỗ lực tới mức quyết
liệt của nó. Các nớc t bản đã vợt qua nhiều cuộc khủng hoảng dữ dội.
Nhng vấn đề đặt ra là, liệu với tất cả sự tăng trởng và vận động trên
đây có trở thành chiều hớng phát triển vững bền và có khả năng giải quyết
những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa t bản hay không?
11
Với mục đích bất di bất dịch là chạy theo lợi nhuận, quy luật tuyệt đối
của chủ nghĩa t bản mà K. Marx đã phát triển quy luật sản xuất ra giá trị
thặng d - vẫn đang chi phối toàn bộ cơ chế vận hành của nó, chủ nghĩa t
khôgn phải nhằm mục đích hình thành những con ngời với tất cả sự phát
triển phong phú của nó. Ngay cả những sinh hoạt cao cấp của con ngời (sáng
tạo nghệ thuật, văn hoá) cũng bị chi phối tới mức đồng nhất với công nghệ,
với thơng mại, đi tới huỷ diệt có tính con ngời cũng vì cái lôgíc sinh lợi của
chủ nghĩa t bản mà môi trờng sinh thái bị xâm phạm tàn tệ và ở cái vùng
ngoại vi môi trờng cũng bị tớc đoạt và bị bóc lột tới mức khó tởng tợng
nổi.
Mặt khác, chủ nghĩa t bản vẫn không giải quyết đợc các tệ nạn cố hữu
của nó, nhất là nạn thất nghiệp và nếu tệ phân biệt chủng tộc vốn là ung nhọt
của xã hội hiện đại, chủ nghĩa t bản không tìm cách tiêu diệt nó, mà tái lại
trong nhiều lúc nhiều nơi nó vẫn dùng để phục vụ cho quyền lợi vị kỷ của giai
cấp t sản. Ngay cả quyền bình đẳng của phụ nữ vẫn đang lâm vào tình trạng
tồi tệ nhất, đặc biệt là ở các lĩnh vực tiền công, việc làm và các quan hệ xã hội
và các điều kiện sinh hoạt. Một tình trạng nữa là sự phát triển của khoa học kỹ
thuật nhất là các phơng tiện thông tin đại chúng hiện đại vốn là sản phẩm của
văn minh- văn hoá thì không hiếm nơi đã đợc sử dụng để chống lại văn hoá,
văn minh vì mục đích thơng mại. Ngời ta cũng lầm tởng về lòng từ thiện
của các chính quyền t sản và giới chủ khi thấy đâu đó ở họ có những cải cách
về mặt phúc lợi, nhng kỳ thực đó là kết quả của những cuộc đấu tranh ngày
càng có ý thức của giai cấp công nhân, thờng là do các chính đảng cánh tả
làm nòng cốt và hơn nữa đó chính là điều mà giai cấp t sản bắt buộc phải làm
để bảo vệ lợi ích lâu dài của họ.
Nếu trên các lĩnh vực kinh tế xã hội, chủ nghĩa t bản hiện đại luôn
tìm đủ cách để điều chỉnh và thích nghi với những điều kiện mới nhằm vợt
qua những cuộc khủng hoảng, tìm con đờng phát triển, thì trong lĩnh vực
chính trị cũng vậy. Bài học lịch sử cho thấy, vấn đề lớn nhất đối với các nhà