41
cho môt số đề tài và dự án, gây tiêu cực và lãng phí tiện của Nhà nớc, của nhân
dân, cần chấn chỉnh sớm để làm lành mạnh hoạt động đầu t nâng cấp cho khoa
học và công nghệ cũng nh giáo dục đào tạo.
Đào tạo bồi dỡng, nâng cao chất lợng nguồn nhân lực từ giai cấp công
nhân, lực lợng quan trọng của cách mạng Việt Nam. Mô hình tháp lao động ở
nớc ta hiện nay là 88% lao động không lành nghề; 5,5% lao động lành nghề; 3,5%
chuyên viên kĩ thuật; 2,7% kỹ s; 0,3% nhà khoa học và chuyên gia. Trong khi đó,
tháp lao động của các nớc công nghiệp thờng là 35% lao động không lành nghề;
35% lao động lành nghề; 24,5% chuyên viên kĩ thuật; 5% kỹ s và 0,5% nhà khoa
học và chuyên gia. Vậy muốn xây dựng công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc, đội
ngũ này cần phải khẩn trơng đợc đào tạo, nhất là nguồn nhân lực trẻ, để hoàn
thành sứ mệnh lịch sử giao phó đó là việc làm vừa có tính cấp bách, vừa có tính
chiến lợc, để bảo đảm thành công công cuộc đổi mới. Do đó, để tạo nguồn nhân
lực cho tiến trình công nghiệp hoá hiện đại hoá, cần phải tạo đợc một môi trờng
tốt để phát huy nguồn lực trong nớc, làm tốt công tác cán bộ, công tác dự báo, kế
hoạch đào tạo, tổ chức, sử dụng đãi ngộ và bảo vệ nguồn nhân lực. Cần tìm ra và
tận dụng các giải pháp hữu hiệu để xây dựng bằng đợc năng lực nội sinh đủ mạnh
về khoa học và công nghệ, trong đó mọi hoạt động của con ngời đều phải dựa trên
những cơ sở khoa học thực thụ.
Trong giai đoạn cách mạng mới của đất nớc, yêu cầu và đòi hỏi đối với vai
trò, vị trí và nhiệm vụ của đội ngũ tri thức Việt Nam nói riêng và nguồn lực cho
công nghiệp hoá hiện đại hoá nói chung ngày càng to lớn. Đội ngũ tri thức phải
cùng với mọi tầng lớp xã hội đa giáo dục đào tạo, khoa học và công nghệ trở
thành khâu đột phá vào quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc, góp phần
xứng đáng vào công việc xây dựng nớc nhà. Vì Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta luôn
luôn coi trọng đội ngũ tri thức là một lực lợng không thể thiếu trong mọi thời kỳ
cách mạng, đặc biệt là trong cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, trong thời kỳ
tiêu đào tạo ở trình độ cao đẳng là giúp sinh viên có kiến thức chuyên môn và kỹ
năng thực hành cơ bản về một ngành nghề, có khả năng giải quyết những vấn đề
thông thờng thuộc chuyên ngành đợc đào tạo. ở trình độ đại học, ngoài những 43
nội dung trong mục tiêu của trình độ cao đẳng, sinh viên còn phải có khả năng
phát hiện, trình độ thạc sĩ phải nắm vững lý thuyết, có trình độ cao về thực
hành, trình độ tiến sĩ phải có trình độ cao về lý thuyết và thực hành, có năng lực
nghiên cứu độc lập, sáng tạo, giải quyết những vấn đề khoa học và công nghệ và
hớng dẫn thực hành chuyên môn. Những mục tiêu giáo dục ấy đòi hỏi nội dung,
phơng pháp giáo dục tất yếu phải đổi mới theo hớng tinh gọn, thiết thực, phơng
pháp hớng tới phát huy tính tích cực sáng tạo của sinh viên là chính.
Tăng cờng hợp tác quốc tế, nhằm mục đích đào tạo, bồi dỡng, nâng cao
trình độ ngoại ngữ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ cho học sinh, sinh viên cán bộ
khoa học, cán bộ quản lý, tạo ra cơ hội để đào tạo nguồn nhân lực có chất lợng và
trình độ cao, tranh thủ bổ sung trang thiết bị hiện đại phục vụ giảng dạy, đòi hỏi
kinh nghiệm đào tạo, ứng dụng khoa học vào thực tiễn, nhất là khoa học công nghệ
chất lợng cao. Song song với quá trình đó, cần tranh thủ liên kết, hợp tác với các
nớc khác để thu hút các chuyên gia giỏi trong lĩnh vực giảng dạy, đào tạo, đồng
thời Nhà nớc cần tăng cờng tiếp nhận học sinh, sinh viên, nghiên cứu sinh các
nớc vào học tập, nghiên cứu tai Việt Nam, tạo ra mối quan hệ, hợp tác giao lu,
học hỏi kiến thức, trao đổi kinh nghiệm góp phần tăng thu ngoại tệ cho đất nớc,
thúc đẩy nhanh quá trình hội nhập của nền giáo dục đại học Việt Nam với khu vực
và quốc tế. Quan hệ hợp tác về giáo dục đại học giúp nền giáo dục Việt Nam mở
rộng không gian hợp tác giáo dục khắp toàn cầu, tạo cơ hội để chúng ta thúc đẩy
nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá, tranh thủ mọi điều kiện để tạo ra sự
phát triển đột biến trong một số ngành khoa học công nghệ mũi nhọn. Con ngời
Việt Nam vốn có truyền thống hiếu học, thông minh, cần cù và nhạy cảm với cái
hoá nội dung và phơng pháp giáo dục truyền thống, phải coi đây là chìa khoá để
nền giáo dục đóng vai trò là khâu đột phá của sự tăng trởng kinh tế đất nớc.
3.2. Chính sách phát triển khoa học công nghệ
Trớc hết cần khẳng định sự tiến bộ vợt bậc của công nghệ nớc ta trong
thời gian qua. Những chính sách đúng đắn, những định hớng chiến lợc về khoa
học công nghệ do Nhà nớc ban hành đã có tác dụng kích thích các cơ sở sản xuất 45
kinh doanh đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ sản xuất. Tuy vậy so với yêu
cầu của công cuộc đổi mới kinh tế nói chung và công cuộc công nghiệp hoá hiện
đại hóa nói riêng thì Nhà nớc cha hỗ trợ đợc nhiều cho phát triển khoa học công
nghệ. Vì thế, Nhà nớc cần ban hành thay đổi một số chính sách nhằm phát triển
mạnh công nghệ theo hớng công nghiệp hoá. Phơng hớng chung là: Hình thành
cơ cấu kỹ thuật nhiều tầng, kết hợp nhiều trình độ, nhiều quy mô, tranh thủ tối đa
công nghệ tiên tiến, cải tiến công nghệ truyền thống. Trong những năm trớc mắt,
coi trọng loại công nghệ có suất đầu t thấp thu hồi vốn nhanh, tạo thêm việc làm
cho ngời lao động, cụ thể:
3.2.1. Công nghệ nớc ngoài
Nhà nớc trong việc hoạch định pháp triển công nghệ phải tạo ra môi trờng
thuận lợi nhất cho việc nhập khẩu công nghệ, nhằm tăng các nguồn cung công
nghệ. Phải chú ý đổi mới và hoàn thiện các quy định về nhập khẩu, đầu t nớc
ngoài, chuyển giao công nghệ mới vào Việt Nam.
Cố gắng tranh thủ các công nghệ tiên tiến, đặc biệt là đối với các dự án đầu t
nớc ngoài. Thực hiện giám định nghiêm ngặt việc nhập công nghệ và thiết bị. Nhà
nớc cần đặt ra một cách nghiêm túc ngay từ đầu vấn đề bảo vệ môi trờng trong
quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá để tránh những hậu quả xấu phải trả giá đắt
lợi nhuận của việc kinh doanh và sản xuất công nghệ phục vụ công nghiệp hoá.
Trong chính sách thuế, Nhà nớc cũng cần giảm thuế cho các sản phẩm công nghệ
đạt tiêu chuẩn quốc gia và có thể thay thế cho hàng nhập khẩu hoặc xuất khẩu đợc.
Phải tăng cờng vốn đầu t cho phát triển khoa học và công nghệ. Việc đầu t này
phải đợc chú ý ở cả hai phía đầu t của Nhà nớc và đầu t của các cơ sở sản xuất.
Cũng cần sớm ban hành chính sách và cụ thể hoá thành cơ chế, biện pháp để
khuyến khích các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đầu t cho phát triển
công nghệ. Vì vai trò quan trọng của Nhà nớc đối với việc xây dựng và phát triển
công nghệ quốc gia trong nền kinh tế thị trờng đòi hỏi Nhà nớc phải có công cụ 47
tài chính đủ mạnh. Do đó Nhà nớc phải sớm xây dựng ngân hàng đầu t phát triển
khoa học và công nghệ để tập trung đầu t xây dựng một số khu công nghệ cao và
các trung tâm ứng dụng công nghệ mới. Đó chính là những hạt nhân làm cơ sở
nghiên cứu thử nghiệm sự thích nghi cũng nh ứng dụng công nghệ phù hợp với
điều kiện cuả đất nớc nói chung và của từng địa phơng nói riêng.
Thônh tin về công nghệ đang là một khâu tất yếu đối với hoạt động sản xuất
kinh doanh trên thị trờng công nghệ nớc ta. Nhà nớc cần xây dựng và đảm bảo
hệ thống thông tin công nghệ, thị trờng công nghệ cho nền kinh tế, thể chế hoá cụ
thể hoá các chính sách và biện pháp nhằm tạo nguồn thông tin, chuẩn hoá các
thông tin phát sinh, trao đổi bảo vệ thông tin công nghệ. Có nh vậy mới đảm bảo
phổ cập thông tin công nghệ, tạo cơ sở thông tin rộng rãi cho các quyết định về
mua bán trao đổi công nghệ, nhanh chóng phát triển công nghệ hiện đại phục vụ
công nghiệp hoá hiện đại hoá. Nhà nớc phải tác động nhằm đẩy mạnh và định
hớng với quá trình trao đổi với công nghệ trong toàn bộ nền kinh tế nói chung và
một số ngành nói riêng. Khung tỉ lệ cần đợc quy định cụ thể để đảm bảo cho nhu
cầu đổi mới và phát triển của các dự án đầu t cả trong và ngoài nớc. Một tỉ lệ
thích đáng và hợp lý dành cho công nghệ trong vốn đầu t, bản thân nó chắc chắn
truyền thống văn hoá của dân tộc ta. Chú trọng phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ
khoa học và công nghệ đông đảo, giàu tài năng và tâm huyết: Gồm nhiều thế hệ
đợc chăm lo đào tạo, bồi dỡng, dầy công học tập, rèn luyện hiện có và đông đảo
tri thức ngời Việt ở nớc ngoài, có mặt ở hầu khắp các lĩnh vực khoa học và công
nghệ, có mong muốn đợc góp phần xây dựng đất nớc.
Tăng cờng hợp tác quốc tế là một yếu tố cơ bản của sự phát triển khoa học
và công nghệ ở nớc ta vì nó góp phần đắc lực vào sự trởng thành của đội ngũ cán
bộ khoa học qua khâu đào tạo, bồi dỡng, trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật cho các
cơ quan nghiên cứu và cung cấp các thông tin, tài liệu khoa học, mẫu vật trao đổi
Đồng thời, có biện pháp khắc phục dần sự phụ thuộc về khoa học và công nghệ vào 49
phía nớc ngoài, loại bỏ thủ tục rờm rà, thiếu cụ thể và quan liêu để nâng cao hiệu
quả trong sự hợp tác.
3.3. Phát triển nguồn vốn
3.3.1. Giải pháp huy động vốn
Trớc hết để huy động vốn trong nớc, Nhà nớc phải coi tiết kiệm là quốc
sách, tăng thuế đánh vào hàng tiêu dùng xa xỉ, không cần thiết, không phù hợp với
hoàn cảnh kinh tế hiện tại của đất nớc, hạn chế tối đa việc xuất vốn ra nớc ngoài.
Vấn đề lớn nhất là cần kiệm trong sản xuất và tiêu dùng cá nhân, thay đổi cơ cấu
đầu t. Đầu t Nhà nớc chủ yếu tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội,
xây dựng một số cơ sở công nghiệp then chốt và quan tâm đúng mức tới phát triển
nông thôn. Nhà nớc phải tạo điều kiện cho từng địa phơng từng cơ sở phát triển
mạnh mẽ sản xuất nhằm huy động nguồn vốn nhàn rổi trong dân để phục vụ có
hiệu quả sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá. Cải cách hành chính gắn với
giảm biên chế và các đầu mối cơ quan quản lý để giảm chi trong lĩnh vực này.
Các chính sách kinh tế tài chính của Nhà nớc phải đợc hoàn thiện theo
3.3.2. Giải pháp sử dụng và quản lý vốn
Cùng với việc huy động vốn thì sử dụng và quản lý vốn cũng là một vấn đề
không kém quan trọng. Nhà nớc cần xác định rõ mục tiêu phơng hớng đầu t
u tiên ttong bối cảnh nguồn vốn hạn hẹp. Những năm trớc mắt, nớc ta cần
hớng u tiên đầu t cho việc cải tạo nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế, trớc hết là
điện năng và giao thông vận tải. Việc đầu t này có ý nghĩa sống còn vì với cơ sở
hạ tầng nghèo nàn lạc hậu thì sẽ không thể hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá
hiện đại hoá. Nhà nớc sử dụng các công cụ tài chính: Tín dụng, thuế để khuyến
khích các thành phần kinh tế từng bớc hiện đại hoá các ngành nghề tiểu thủ công
nghiệp, phát triển mạnh việc đầu t máy móc, thiết bị có trình độ tiên tiến. Có