ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em là bệnh phổ biến, có tỉ lệ mắc
bệnh và tử vong cao. Trẻ có thể mắc bệnh nhiều lần trong một năm (3-5 lần),
do đó ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe và tính mạng của trẻ, đồng thời làm
giảm ngày công lao động của bố mẹ [9], [12].
Nhiễm khuẩn hô hấp bao gồm nhiễm khuẩn hô hấp trên và dưới. Ngoài
viêm phổi là nguyên nhân hàng đầu của nhiễm khuẩn hô hấp dưới thì viêm
thanh quản cũng là một bệnh tương đối phổ biến. Theo Keyvan Rafein và
Richard Lichenstein thì tỷ lệ mắc bệnh vào khoảng 1,5% đến 31% [19], còn
theo Amisha Malhotra và Leonard R.Krilov thì viêm thanh quản cấp chiếm
khoảng 15% các bệnh lý đường hô hấp [16].
Viêm thanh quản nói chung bao gồm viêm nắp thanh quản cấp, viêm
thanh quản cấp, viêm thanh khí quản cấp, viêm thanh khí phế quản cấp và
viêm thanh quản co thắt, trong đó viêm nắp thanh quản cấp là một bệnh có
diễn tiến cấp và nặng. Viêm thanh quản nói chung được xếp vào loại bệnh
trầm trọng theo chương trình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính vì có một dấu hiệu
nguy cơ là có tiếng rít thì hít vào. Bệnh cần được chuyển lên tuyến trên để kịp
thời theo dõi và điều trị. Tuy nhiên, tùy theo vị trí tổn thương sẽ có biểu hiện
lâm sàng và cận lâm sàng khác nhau, đôi khi bệnh nhẹ không cần phải nhập
viện và do đó hướng điều trị cũng có những đặc thù riêng.
Với ý nghĩa đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tìm hiểu đặc
điểm lâm sàng và cận lâm sàng viêm thanh quản cấp ở trẻ em tại khoa
Nhi bệnh viện Trung Ương Huế” nhằm các mục tiêu sau đây:
1
1.Tìm hiểu tỉ lệ mắc bệnh viêm nắp thanh quản cấp, viêm thanh quản
cấp, viêm thanh khí phế quản cấp, viêm thanh quản co thắt.
2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của viêm thanh quản cấp.
2
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. ĐẠI CƯƠNG
- Ở Mỹ đỉnh cao nhất là vào khoảng 5 trường hợp trên 100 trẻ ở lứa tuổi 2 tuổi.
- Mặc dù hầu hết các trường hợp xảy ra vào cuối thu và mùa đông nhưng
cũng có thể gặp suốt cả năm.
- Trẻ trai gặp nhiều hơn trẻ gái.
1.1.4. Sinh lý bệnh [16], [25]
Cũng như hầu hết các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp khác virus gây nhiễm
khuẩn hô hấp trong viêm thanh quản cấp thường bắt đầu ở mũi hầu và lan
xuống biểu mô của thanh quản và khí quản, tại đây chúng có thể dừng lại
hoặc tiếp tục đi xuống cây phế quản. Quá trình viêm khuếch tán, sưng đỏ và
phù nề bắt đầu từ thành khí quản, sự di động của dây thanh âm bắt đầu kém
đi. Phần khí quản bên dưới thanh quản là phần hẹp nhất của đường dẫn khí ở
trẻ em. Vùng này được bao quanh bởi những vòng sụn khá vững chắc và bất
cứ sự sưng nề nào cũng làm giới hạn luồng không khí một cách đáng kể.
Đường dẫn khí bị hẹp này gây ra tiếng thở rít kì hít vào và sự sưng nề của dây
thanh âm dẫn đến khàn giọng.
Với sự tiến triển của bệnh, ống khí quản trở nên bị tắc nghẽn nhiều hơn
bởi sự xuất tiết các sợi fibrin và giả mạc. Về mô học thanh quản và khí quản
bộc lộ khá rõ ràng hiện tượng phù với sự xâm nhập của mô bào, lympho bào,
tương bào và bạch cầu đa nhân trung tính.
4
1.1.5. Lâm sàng [4], [18]
1.1.5.1. Viêm nắp thanh quản cấp
Là bệnh lý thanh quản rất cấp và nặng nề. Thường xảy ra ở trẻ 3-7 tuổi,
cao điểm là 3 tuổi rưỡi. Tỉ lệ nam/nữ là 3/2.
Bệnh khởi đầu với sốt cao đột ngột, đau họng, khó thở, nhanh chóng dẫn
đến tắc nghẽn đường thở và mệt lã. Trong vòng vài giờ, viêm nắp thanh quản
dẫn đến sự tắc nghẽn khí đạo hoàn toàn và tử vong nếu không được xử trí
thích đáng.
- Ở trẻ nhỏ, trước đó vẫn bình thường, đột ngột vào giữa khuya khàn
tiếng, đùn nước bọt và suy hô hấp từ vừa đến nặng kèm tiếng rít.
nhiễm trùng lan dần xuống dưới ảnh hưởng phế quản, tiểu phế quản. Khi đó
khó thở gia tăng kèm cả thì thở ra kéo dài. Trẻ lúc đó kích thích vật vã, hốt
hoảng. Sốt thường nhẹ nhưng có khi lên đến 39 – 40
0
C.
Khám thấy ran ngáy và ran ẩm rải rác. Triệu chứng thường nặng về đêm
và kéo dài trong vòng vài ngày. Thông thường bệnh không nặng lắm và kèm
theo viêm mũi hoặc viêm kết mạc mắt. Trong gia đình thường có người bị
viêm long hô hấp. Đôi khi có trường hợp viêm thanh khí phế quản cấp nặng
rất giống viêm nắp thanh quản cấp mặc dù viêm nắp thanh quản cấp khởi
bệnh đột ngột và tiến triển rầm rộ hơn.
1.1.5.4. Viêm thanh quản co thắt
Thường xảy ra ở trẻ 1-3 tuổi. Virus là nguyên nhân hàng đầu, nhưng yếu
tố dị ứng và tâm lý cũng quan trọng trong một số trường hợp. Trào ngược dạ
dày thực quản có thể đóng vai trò quan trọng trong khởi động viêm thanh
quản co thắt. Những trẻ lo lắng và dễ bị kích động hay bị bệnh này và trong
một số trường hợp có yếu tố gia đình. Bệnh thường xảy ra vào chiều tối và
6
giữa đêm, cơn co thắt xảy ra sau cảm cúm nhẹ hoặc vừa và khàn tiếng. Trẻ
thức giấc và ho như chó sủa, như tiếng kim khí, hít vào ồn ào, khó thở và có
vẻ lo lắng. Thở chậm và gắng sức, mạch nhanh, da lạnh và ướt. Thường
không có sốt, khó thở gia tăng khi kích thích, hiếm khi có cơn xanh tím.
Thông thường bệnh giảm sau vài giờ hoặc vài ngày.
1.1.5.5. Phân độ khó thở thanh quản và xử trí
1.1.5.5.1. Phân độ khó thở thanh quản [3], [4], [6]
- Độ I: Chỉ khàn tiếng, thở rít khi khóc
- Độ II
Độ IIA: Thở rít khi nằm yên
Độ IIB: Triệu chứng IIA kèm khó thở, thở nhanh, rút lõm lồng ngực
- Độ III: Triệu chứng IIB kèm vật vã, kích thích hoặc tím tái.
lượng bạch cầu có thể bình thường hoặc tăng nhẹ với bạch cầu lympho chiếm
ưu thế.
Ngoại trừ một số trường hợp do vi khuẩn hoặc có tình trạng bội nhiễm thì
số lượng bạch cầu tăng, bạch cầu đa nhân trung tính chiếm ưu thế.
1.1.6.2. Protein C phản ứng (C-Reactive Protein:CRP)
CRP là một protein viêm thường được sử dụng trong lâm sàng bởi nó gia
tăng sớm và mạnh khi có hiện tượng nhiễm khuẩn. Nhiều nghiên cứu của các
tác giả về giá trị của CRP để phân biệt giữa nhiễm virus và vi khuẩn. Tuy
nhiên chưa có một con số cụ thể nào giúp phân biệt điều này.
Trong các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn CRP thường tăng cao, ngược lại
trong nhiễm virus CRP thường không tăng hoặc tăng nhẹ. Korppi-M và
Kroger-L trong một nghiên cứu về sử dụng CRP để phân biệt giữa nhiễm
khuẩn hô hấp dưới do virus và vi khuẩn, các tác giả này nhận thấy CRP ≥ 20
mg/l khá tin cậy để chẩn đoán nguyên nhân vi khuẩn nhưng CRP ≥ 40 mg/l
cho phép chẩn đoán chắc chắn nhất [20].
Trong viêm thanh quản cấp, hầu hết do virus nên CRP không tăng hoặc
tăng nhẹ. Trong trường hợp do vi khuẩn hoặc bội nhiễm thì CRP tăng cao.
8
Khoa Sinh Hoá bệnh viện Trung ương Huế đo nồng độ CRP bằng phương
pháp miễn dịch đo độ đục thực hiện trên máy tự động HITACHI của Nhật.
Giá trị bình thường của máy là 0-8mg/L.
1.1.6.3. X- quang cổ thẳng nghiêng [4], [16], [19], [25]
- Trên phim thẳng : cho thấy hình ảnh cổ điển là “dấu nóc nhà thờ”
(steeple sign).
- Trên phim nghiêng: dấu hiệu “ ngón tay cái ” (thumb sign) đặc trưng
trong viêm nắp thanh quản cấp.
Tuy nhiên những hình ảnh này chỉ hiện diện trong 50% trường hợp. Nhiều
trẻ bị Viêm thanh quản cấp vẫn cho hình ảnh X-quang bình thường.
Hình 1.1: Hình ảnh “nóc nhà thờ” Hình 1.2: Hình ảnh “dấu ấn ngón
Trên phim thẳng tay” trên phim nghiêng
1.1.7.2.3. Corticosteroids
Tác dụng giảm phù nề và ngăn ngừa sự huỷ hoại biểu mô có lông chuyển
của niêm mạc hô hấp trong viêm thanh khí phế quản cấp. Thông thường dùng
đường toàn thân Dexamethason 0,6mg/kg/24h.
1.1.7.2.4. Hỗn hợp khí Heli – Oxy [16]
Heli là một khí trơ, không độc, có trọng lượng thấp. Những đặc tính này
giúp cho nó đi vào được đường dẫn khí bị tắc nghẽn dễ dàng hơn. Khi kết hợp
với Oxy làm cải thiện nồng độ oxy máu.
1.1.7.2.5. Kháng sinh
- Kháng sinh được chỉ định cho viêm nắp thanh quản do HI, Viêm khí
quản do tụ cầu, liên cầu, viêm thanh quản do bạch hầu. Các trường hợp do
virus không dùng kháng sinh để dự phòng.
11
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhi nhập viện với hội chứng khó thở
thanh quản tại phòng nhi hô hấp, Khoa Nhi, bệnh viện Trung ương Huế, từ
tháng 6 năm 2006 đến tháng 3 năm 2007.
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn
- Các bệnh nhi từ 2 tháng đến 5 tuổi vào viện có hội chứng khó thở thanh
quản với các tiêu chuẩn sau:
+ Khó thở vào.
+ Thở rít thì hít vào.
+ Khàn tiếng hoặc mất tiếng.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Dị vật thanh quản:
Khó thở thanh quản xuất hiện đột ngột kèm hội chứng xâm nhập.
- Dị tật bẩm sinh:
Mềm sụn thanh quản, bệnh vòng mạch.
∑
=
n
i 1
x
i
2.2.4.2. Độ lệch chuẩn S
Độ lệch chuẩn của dãy trị số x
1
, x
2
,… x
k-1
, x
k
được tính theo công thức:
S
2
=
1
1
−n
2
1
)(
xx
i
n
i
2
tính được với χ
2
0,05
(df):
- Nếu χ
2
> χ
2
0,05
(df): bác bỏ giả thiết Ho, nghĩa là sự chênh lệch giữa các tỷ lệ
thật sự có ý nghĩa về phương diện thống kê.
- Nếu χ
2
< χ
2
0,05
(df): chấp nhận giả thiết Ho, nghĩa là sự chênh lệch giữa các
tỷ lệ không thật sự có ý nghĩa về phương diện thống kê.
2.3. Tiến hành
2.3.1. Thăm khám lúc mới vào viện
- Đánh giá toàn trạng [2]:
13
+ Trẻ uống hoặc bú được không: Một trẻ được gọi là không uống hoặc
bỏ bú khi trẻ không thể mút hoặc uống được khi cho uống hoặc bú mẹ.
+ Trẻ có nôn tất cả mọi thứ không: Một trẻ được gọi là nôn tất cả mọi
thứ khi trẻ không thể giữ lại bất cứ thứ gì đã ăn hoặc uống.
2.
+ Cách đếm: để trẻ nằm yên không khóc, không đếm khi trẻ đang bú,
không cần vén áo trẻ lên vì trẻ sẽ khóc, chỉ cần quan sát di động ngực-bụng để
đếm tần số thở, tay đeo đồng hồ để gần ngực trẻ để vừa quan sát đồng hồ vừa
quan sát di động ngực-bụng.
14
+ Để đánh giá tần số thở nhanh: sử dụng bảng hướng dẫn của chương trình
IMCI - Bộ Y tế. Tần số thở được xem là nhanh khi [2]:
• Trẻ dưới 2 tháng tuổi : ≥ 60 lần/phút
• Trẻ từ 2 tháng – 1 tuổi : ≥ 50 lần/phút.
• Trẻ từ 1- 5 tuổi : ≥ 40 lần/ phút
- Tìm và nghe tiếng thở rít: Thở rít là tiếng thở thô ráp khi trẻ hít vào, để tìm
và nghe tiếng thở rít, trẻ phải nằm yên, ghé tai đến gần miệng trẻ đồng thời
mắt nhìn vào bụng trẻ để xác định thì thở vào và lắng nghe tiếng thở thô ráp.
- Tìm dấu hiệu rút lõm lồng ngực:
+ Rút lõm lồng ngực là sự lõm vào của phần dưới lồng ngực (1/3 dưới)
khi trẻ hít vào.
+ Cách xác định: xác định dấu hiệu rút lõm lồng ngục khi trẻ nằm yên,
không quấy khóc. Trẻ được bố mẹ bế nằm thẳng trong lòng hoặc được đặt
nằm trên giường. Nếu nghi ngờ không biết dấu hiệu này có hay không thì phải
quan sát lại ở góc độ khác, đảm bảo có đủ ánh sáng để phát hiện một cách
chính xác. Rút lõm lồng ngực chỉ có ý nghĩa khi có thường xuyên và nhìn rõ.
Nếu chỉ thấy rõ khi trẻ quấy khóc hoặc khi cố gắng bú mà không thấy rõ khi ở
trạng thái nghỉ thì không xem đó là rút lõm lồng ngực.
- Tìm dấu co kéo hõm trên xương ức và các khoảng liên sườn.
- Ghi nhận dấu hiệu viêm long hô hấp trên: ho, sốt, chảy mũi nước.
- Ghi nhận triệu chứng khàn tiếng hay mất tiếng.
- Ghi nhận triệu chứng ho: ho khan hay có đàm, ho ông ổng
- Khám phổi: nghe và đánh giá rì rào phế nang, tìm các ran phế quản hoặc
phế nang: ran ẩm to hạt, ran rít, ngáy, ran ẩm nhỏ hạt.
- Chụp X- quang cổ thẳng và nghiêng:
X-quang cổ được chụp tại khoa X-quang Bệnh viện Trung ương Huế,
đảm bảo đúng kỹ thuật. Kết quả đọc phim được đọc bởi bác sĩ chuyên khoa
X-quang. Mục đích là để tìm các đấu hiệu như:
+ Dấu nóc nhà thờ.
+Dấu ấn ngón tay.
16
2.3.2. Theo dõi bệnh nhân
Các bệnh nhân đưa vào mẫu được điều trị theo chế độ điều trị tại bệnh
phòng và theo dõi hằng ngày các triệu chứng sốt, ho, khàn tiếng, tiếng thở rít,
ran phế quản, phế nang xem sau bao lâu thì các triệu chứng đó biến mất.
17
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Dịch tễ học lâm sàng
3.1.1. Tuổi
Bảng 3.1: Đặc điểm về tuổi
Tuổi (tháng) Trung bình
SDX
±
Tối đa Tối thiểu
16,31 ± 12,10 48 2
Nhận xét:
- Tuổi trung bình của nhóm bệnh nghiên cứu là: 16,31 ± 12,10 tháng.
- Tuổi bệnh nhi lớn nhất là: 48 tháng.
- Tuổi bệnh nhi nhỏ nhất là: 02 tháng.
Biểu đồ 3.1: Phân bố theo nhóm tuổi số bệnh nhi nghiên cứu
Nhận xét:
- Tuổi bệnh nhi được nghiên cứu tập trung ở nhóm tuổi ≥ 12 tháng, chiếm
Co giật 1 2,85
Vật vã, kích thích 3 8,57
N 35 100
Biểu đồ 3.2: Tình trạng bệnh nhi lúc vào viện
Nhận xét:
Đa số bệnh nhi vào viện với tỉnh táo, chiếm 88,58%. Co giật và vật vã kích
thích chỉ chiếm 11,42%.
3.2.1.3. Triệu chứng sốt
Bảng 3.5: Đặc điểm sốt số bệnh nhi được nghiên cứu
Nhiệt độ (
0
C)
Tối đa Tối thiểu Trung bình
40,3 37,8 38,79 ± 0,69
Nhận xét:
Nhiệt độ trung bình của các bệnh nhi lúc vào viện là: 38,79 ± 0,69
0
C.
20
Biểu đồ 3.3: Triệu chứng sốt trên toàn thể bệnh nghiên cứu
Nhận xét:
Bệnh nhân vào viện chủ yếu là sốt vừa (45,71%), sốt cao chiếm khoảng
1/3 số trường hợp.
3.2.1.4. Dấu hiệu viêm long hô hấp trên
Bảng 3.6: Phân bố dấu hiệu viêm long hô hấp trên
Dấu hiệu viêm long
hô hấp trên
n Tỷ lệ (%) p
Có 26 74,3
Bảng 3.9: Đặc điểm tần số thở theo tuổi
Tuổi Tần số thở
Tối đa Tối thiểu Trung bình
2- 12 62 30 50,71 ± 9,04
≥ 12 60 28 47,48 ± 8,15
Nhận xét:
Tần số thở trung bình theo tuổi của các nhóm tuổi đều nhanh.
- Nhóm tuổi từ 2-12 tháng tần số thở trung bình là 50,71 ± 9,04 lần/phút.
- Nhóm tuổi ≥ 12 tháng tần số thở trung bình là 47,48 ± 8,15 lần/phút.
Bảng 3.10: Thời gian tần số thở về bình thường
Thời gian tần số thở về bình thường (ngày)
Tối đa Tối thiểu Trung bình
3 1
1,5 ± 0,78
Nhận xét:
22
Tần số thở trở về bình thường trung bình sau 1,5 ± 0,78 ngày.
Bảng 3.11: Phân độ khó thở thanh quản
Độ KTTQ Tần số Tỷ lệ (%)
Không khó thở 0 0
I 22 62,87
IIA 9 25,71
IIB 3 8,57
III 1 2,85
n 35 100
Nhận xét:
Các bệnh nhi vào viện chủ yếu với hội chứng khó thở thanh quản nhẹ độ I,
IIA, chiếm 88,58%.
Bảng 3.12: Dấu hiệu gắng sức
Biểu hiện gắng sức n Tỷ lệ (%)
Thời gian triệu chứng khàn tiếng biến mất trung bình sau: 2,66 ± 0,87 ngày.
3.2.1.8. Triệu chứng ho
Bảng 3.16: Phân bố triệu chứng ho
Loại ho Tần số Tỷ lệ (%)
Không ho 6 17,15
Khan 14 40,0
Có đàm 8 22,85
Ông ổng 7 20,0
n 35 100
Nhận xét:
Bệnh nhi vào viện chủ yếu là ho khan, chiếm 40%, ho ông ổng chỉ có 20%.
Bảng 3.17: Thời gian triệu chứng ho trở về bình thường
Thời gian triệu chứng ho về bình thường (ngày)
Tối đa Tối thiểu Trung bình
24
5 1 2,86 ± 0,88
Nhận xét:
Thời gian trung bình triệu chứng ho biến mất là sau: 2,86 ± 0,88 ngày.
3.2.1.9. Triệu chứng đùn nước bọt và nuốt đau
Bảng 3.18: Phân bố triệu chứng đùn nước bọt và nuốt đau
Triệu chứng Tần số Tỷ lệ (%)
Đùn nước bọt 0 0
Nuốt đau 0 0
n 0 0
Nhận xét:
Trong toàn thể bệnh nhi nghiên cứu không có trường hợp nào có triệu
chứng đùn nước bọt và/hoặc nuốt đau.
3.2.1.10. Ran ở phổi
Bảng 3.19: Triệu chứng ran ở phổi
Ran Tần số Tỷ lệ (%)