VUA TRẦN NHÂN TÔNG VỚI THIỀN PHÁI TRÚC LÂM 4 - Pdf 20

VUA TRẦN NHÂN TÔNG VỚI THIỀN PHÁI TRÚC LÂM
4
Nhân Tông phê vào sách Khoa giáo do sư giải thích, có câu: “Đã qua tay Huyền
Quang rồi thì một chữ cũng không thể thêm bớt”. Sư được người đời đương thời
tôn trọng như thế.

Thơ của sư thì thấy các tập Ngọc Tiên, Trích diễm, Việt âm, có các câu ‘Nhất lãnh
thuế y, Bán gian thạch thất’ cùng với ‘Đức bạc thường tàm kế tổ đăng’, cho đến
‘Dĩ thị thành thiền tâm nhất phiến, Cũng thanh tức tức vị thùy đa’.

Khí chất núi rừng khói ráng thể hiện trong ngôn từ. Con người đạm bạc giản dị
đơn sơ, tưởng cũng có thể thấy được.

Thì đâu có cái chuyện nói năng không gốc gác như thế tục đã ngoa truyền?

Hoặc có người nói: Thế thì nên bỏ bản hạnh ấy chăng? Xin trả lời: Không thể.
Giới hạnh của nhà sư rất cao, thì việc sống lôi thôi, lo cưới gả càng khó nói. Sự
việc của sư đã rõ ràng, thì chuyện mâm tỏi thành đồ chay trở nên vớ vẩn. Nhà
vắng đem ra mà xét lại, thì có thể nói rằng: vua Trần nhiều lần sai thử sư mà sư
không thể phạm, Trúc Lâm Tam Tổ thế mà cam tâm được sao?

Năm Tân Mùi Cảnh Hưng triều Lê (1751), chánh tiến sĩ đốc trấn Ngô Thì Sĩ, hiệu
Ngọ Phong Công, làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai soạn ”.

Qua hai lời ghi cuối sách Tam tổ thực lục tờ 60a5-b8 này, ta biết bản Tổ gia thực
lục, mà Tính Quảng và Ngô Thời Nhiệm đã sao chép vào trong Tam tổ thực lục là
một bản sách do Tô Xuyên Hầu Lê Quang Bí đem từ Trung Quốc về vào năm
1569. Trình Tuyền Hầu Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1580) có đọc bản Thực lục
mới được đem về này và viết Giải trào văn. Sau đó bản văn đã được Ngô Thỉ Sĩ ,
cha của Ngô Thời Nhiệm, sao chép và viết lời phụ chú. Căn cứ vào lời giải trình
của Ngô Thì Sĩ, ta có thể giả thiết quá trình hình thành Tam tổ thực lục đã diễn ra

càng được truyền bá rộng rãi và củng cố thêm với sự xuất hiện của Trúc Lâm tông
chỉ nguyên thanh mà bản in sớm nhất là vào năm Cảnh Thìn thứ 3 (1795). Trong
phần mở đầu của Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh, Ngô Thời Nhiệm đã trình bày
về tiểu sử ba vị tổ thiền phái Trúc Lâm là vua Trần Nhân Tông, Pháp Loa và
Huyền Quang, rồi sau đó Ngô Thời Nhiệm viết về bản thân mình và gọi là “Trúc
Lâm đệ tứ tôn”.

Từ Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh nhìn ngược lên cho đến năm 1765, khi Tam
tổ thực lục lần đầu tiên được in bán, ta thấy giả thiết về quá trình ra đời của Tam tổ
thực lục trên không phải là hoàn toàn vô lý, và sự tham gia của Ngô Thời Nhiệm
vào sự hình thành tác phẩm ấy hoàn toàn không phải là vô chứng cớ. Tuy nhiên,
với ảnh hưởng của Ngô Thời Nhiệm cùng một loạt các thiền sư của dòng thiền
Trúc Lâm do Ngô Thời Nhiệm phục hồi như thiền sư Hải Âu Vũ Trinh (1726 -
1823), Hải Hòa Nguyễn Đăng Sở, Hải Huyền Ngô Thì Hoành, Hải Điền Nguyễn
Hữu Đàm v.v Đây là những tên tuổi lớn, những trí thức lớn của thời đại, xuất thân
từ những danh gia vọng tộc của nửa cuối thế kỷ thứ 18. Do ảnh hưởng và uy tín
của các thiền sư trí thức lớn này thuộc thiền phái Trúc Lâm và khái niệm Trúc
Lâm tam tổ đã trở nên phổ biến và được chấp nhận, dẫn đến những cái nhìn lệch
lạc về sự phát triển của dòng thiền này.

Thực tế, như ta đã thấy, Huyền Quang, ngoại trừ Tổ gia thực lục, chưa bao giờ
được gọi là Trúc Lâm tam đại thiền tổ. Ngược lại, đây là mỹ hiệu mà vua Trần
Minh Tông đã dùng trước khi băng hà để gọi thiền sư Kim Sơn. Vậy thì tổ thứ ba
của thiền phái Trúc Lâm phải là Kim Sơn, chứ không phải là Huyền Quang. Trước
đây, chúng tôi đã đề xuất ý kiến và chứng minh rằng Kim Sơn có khả năng đã viết
Thiền uyển tập anh, bộ lịch sử Phật giáo thiền tông Việt Nam đầu tiên sau Chiếu
đối bản của Thông Biền (?-1134), Chiếu đối lục của Biện Tài và Nam tông tự pháp
đồ của Thường Chiếu. Thánh đăng ngữ lục ngày nay không thấy ghi ai viết ra.
Nhưng căn cứ vào nội dung cũng như văn phong, ta có thể giả thiết người viết bộ
sách này cũng không ai khác hơn là Kim Sơn. Ngoài ra, Cổ châu Pháp Vân Phật

Tùng hạ hành ngâm ỷ sấu đằng.
Tùy mã vọng trần vô tục khách,
Khấu môn vấn tự hữu thi tăng.
Thoái nhàn Lục Dã tri hà cập?
Tán cấp Thanh miêu tạ bất năng.
Tọa đãi công thành danh toại hậu,
Nhất khâu lão cốt dĩ lăng tằng.
(Mười năm chính sự phụ đèn thu,
Chống gậy hàng thông lặng đọc thư,
Theo ngựa trông mù không khách tục,
Hỏi thơ gõ cửa có thiền sư.
Lui về Lục Dã khi nào kịp,
Ban phát Thanh miêu thế phải từ,
Ngồi đợi công thành danh đã toại,
Một gò xương trắng chất cao chừ.)

Còn Phạm Nhân Khanh, mà ta có dịp gặp trong Thánh đăng ngữ lục tờ 37a6, khi
vua Trần Minh Tông sai đưa thư cho thiền sư Huyền Quang, chắc chắn là trước
năm 1334, trong một bài thơ đưa quốc sư Lãm Sơn về núi cũng đã nói đến vị quốc
sư này nổi danh với những bài thơ:

Xuất san kỷ nhật cánh hoàn san,
Vị ái san cư ý tự nhàn.
Tùng viện chữ trà hương mạc mạc
Hạc tuyền tẩy bát thủy sàn sàn.
Phóng khai thiền giá cao thiên cổ,
Phát lộ thi danh chính nhất ban.
Qui hướng lĩnh vân thâm xứ ngọa,
Âm thi pháp vũ tẩy nhân gian.
(Xuống núi mấy ngày lại trở lên,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status