VUA TRẦN NHÂN TÔNG VỚI THIỀN PHÁI TRÚC LÂM
1
Thiền phái Trúc Lâm lâu nay trong các sách lịch sử đều ghi nhận là do vua Trần
Nhân Tông thành lập. Đến nửa cuối thế kỷ thứ 18 khi Tính Quảng và Hải Lượng
tập hợp các tư liệu để cho ra đời tác phẩm Tam tổ thực lục, thì từ đó cho đến ngày
nay, người ta thường cho rằng phái thiền này chỉ truyền được ba đời là chấm dứt.
Nhất là sau ba vị này, người ta quan niệm dòng thiền Trúc Lâm không có người kế
thừa kiệt xuất nữa. Và có người đã coi như hết một thời thịnh vượng của Phật
giáo, trong đó tất nhiên có dòng thiền Trúc Lâm. Sự thật, ta đã thấy, sau cái chết
của thiền sư Huyền Quang năm 1334, Phật giáo vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ và
còn có nhiều nhân vật xuất sắc kế thừa dòng thiền này, mà ta sẽ gặp dưới đây. Cho
nên, đúng ra vấn đề vua Trần Nhân Tông với dòng thiền Trúc Lâm không đáng để
bàn cãi trong tác phẩm này. Nhưng vì những ngộ nhận vừa nêu, nên phải nói sơ
một ít về dòng thiền Trúc Lâm do vua Trần Nhân Tông thành lập. Ta đã bàn về
một số vấn đề tư tưởng của vua Trần Nhân Tông, đặc biệt là tư tưởng Cư trần lạc
đạo với chủ trương:
Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết sức,
Sơn lâm chẳng cốc, họa kia thật khá đồ công
Và coi chủ trương này là cột trụ của học thuyết thiền Trúc Lâm. Vì thế, việc trình
bày thiền phái Trúc Lâm như một dòng thiền của các thiền sư, nhất là các thiền sư
xuất gia, mà trước đây các nghiên cứu về lịch sử Phật giáo Việt Nam thường hay
làm, phải chăng đã thỏa đáng. Tất nhiên, trong quá khứ cũng có những người đã
trình bày lại lịch sử thiền phái này như một dòng tu không phân biệt tại gia hay
xuất gia. Cụ thể là tác phẩm Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh của Ngô Thời
Nhiệm trong phần mở đầu của tác phẩm ấy. Tuy nhiên, cách trình bày của Ngô
Thời Nhiệm vẫn chưa được tiếp thu và phổ biến rộng rãi. Thậm chí có người coi
cách trình bày của Ngô Thời Nhiệm là không phản ảnh đúng truyền thống Phật
giáo, thậm chí là một xuyên tạc.
“Nhưng thắng giặc không lâu, Nhân Tông nhường ngôi cho Anh Tông để đi tìm
một cuộc sống tĩnh tại trong cảnh tu hành, trở thành ông tổ thứ nhất của phái Trúc
Lâm và gửi hơi thở cuối cùng ở am Ngọa Vân trên núi Yên Tử tĩnh mịch, lúc mới
51 tuổi”. Không chỉ viết vua Trần Nhân Tông xuất gia là để tìm một cuộc sống
tĩnh tại, họ còn nói: “Ông muốn dứt bỏ những bận rộn thường tình của xã hội để đi
tìm lẽ huyền vi chi phối cuộc sống con người”1.
Rõ ràng một quan điểm nhìn nhận như thế là không thỏa đáng và phù hợp với sự
thật lịch sử, mà ta đã biết về cuộc đời vua Trần Nhân Tông, như sử sách ghi lại, cụ
thể là ĐVSKTT và Thánh đăng ngữ lục. Hơn thế nữa, nếu phân tích buổi lễ trao
truyền vị thế kế thừa dòng thiền Trúc Lâm cho Pháp Loa, như chính văn bia của
Pháp Loa ghi lại trong Tam tổ thực lục tờ 18b3 -19a8, ta thấy nổi bật một sự kiện
rất khác thường, không tìm thấy ở bất cứ một trường hợp truyền trao nào khác dù
ở Trung Quốc hay Việt Nam. Bài văn bia này cho ta biết trước hết “vào tháng 5
Điều Ngự lên ở am tại đỉnh núi Ngọa Vân. Ngày rằm bố tát xong, đuổi tả hữu ra,
đem y bát và viết tâm kệ giao cho sư, bảo phải giữ gìn. Ngày mồng một tháng
giêng năm Mậu Thân Hưng Long thứ 16 (1308), sư vâng lệnh làm trụ trì nối dòng
pháp ở Cam Lộ đường chùa Siêu Loại. Để khai đường và làm lễ trao truyền, vua
cho đặt bài vị của liệt tổ, tấu Đại nhạc, đốt hương thơm. Điều Ngự dẫn sư lên lễ tổ
đường xong. Sau khi ăn cháo, sai tấu nhạc, đánh trống pháp, tập hợp đại chúng lên
pháp đường. Bấy giờ Anh Tông xa giá đến chùa. Sau khi đặt ngôi chủ khách xong,
vua Anh Tông vì là đại thí chủ của Phật pháp đứng vào ngôi khách ở pháp đường,
thượng tể đem bá quan đứng ở dưới sân.
Điều Ngự lên tòa thuyết pháp. Giảng xong, bèn đi xuống, đỡ sư lên tòa. Điều Ngự
đứng đối diện chắp tay hỏi han. Sư đáp lễ xong, nhận pháp y mặc vào. Điều Ngự
bèn bước sang một bên, ngồi trên giường khúc lục, nghe sư thuyết pháp.
Đem chùa Siêu Loại của sơn môn Yên Tử sai sư kế thế trụ trì làm đời thứ hai của
mẽ sau thời Trần Nhân Tông với những tên tuổi lẫy lừng như Hương Chân Pháp
Tính (1470-1550?), Minh Châu Hương Hải (1628 -1715) và đặc biệt là Hải Lượng
Ngô Thời Nhiệm (1746 -1803) v.v
Mẫu người lý tưởng của thiền phái Trúc Lâm như thế rất khác xa những mẫu
người của Phật giáo thiền Trung Quốc.
Trước khi trao truyền y bát, Pháp Loa cũng trãi qua một tiến trình tham vấn có vẻ
giống như bất cứ thiền sinh nào trong các thiền viện Trung Quốc, như văn bia của
sư đã chép lại trong Tam tổ thực lục tờ 17b1 -8:
“Một hôm sư từ chỗ Tín Giác trở về tham yết, gặp lúc Điều Ngự đang thuyết pháp,
nêu lên bài tụng ‘Thái dương ô kê’. Sư như có tỉnh ngộ. Điều Ngự biết điều đó,
bèn sai theo hấu hai bên. Một đêm nhân khi trình bài tụng Tam yếu, bị Điều Ngự
một bút sổ toẹt. Sư bốn lần thỉnh ích. Điều Ngự chỉ dạỵ nên tự tham cứu. Bèn vào
phòng trong lòng rất xao xuyến. Đến nửa đêm, nhân thấy hoa đèn rơi, bỗng nhiên
đại ngộ, bèn đem điều sở ngộ trình lên Điều Ngự. Điều Ngự rất bằng lòng. Từ đó
sư thề tu hạnh 12 đầu đà”.
Quá trình tham cứu để giác ngộ của thiền Trúc Lâm như vậy có những nét trông
có vẻ như tương tự với quá trình giác ngộ của các thiền sinh ở Trung Quốc cũng
như Việt Nam trước thời Trần Nhân Tông. Và thực tế các bài giảng của vua Trần
Nhân Tông tại chùa Sùng Nghiêm năm Hưng Long thứ 7 (1299) do Thánh đăng
ngữ lục tờ 18b6 -20b8 ghi lại và tại viện Kỳ Lân của chùa này do Tam tổ thực lục
tờ 36a2 -39b6 trích chép đã một phần nào cho thấy cách diễn giảng về thiền của
nước ta vào thời vua Trần Nhân Tông. Chúng có những nét giống hao hao với
những buổi giảng thiền tại các thiền viện Trung Quốc và Việt Nam trước đó, mà ta
có dịp đọc qua ở Cảnh đức truyền đăng lục hay Thiền uyển tập anh.
Tuy nhiên, qua buổi lễ truyền trao của ngày mồng một tết của năm Mậu Thân