Phát huy khả năng phản biện của học sinh THPT trong dạy học Văn
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Chỉ thị số 2737 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, ngày 27 – 7 - 2012 đã nêu
rõ từng nhiệm vụ trọng tâm của ngành giáo dục năm học 2012 – 2013. Trong đó,
toàn ngành tiếp tục thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo theo
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, nhằm nâng cao chất lượng dạy và học, nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước. Một trong những giải pháp
trọng tâm vẫn phải là đổi mới phương pháp dạy học. Vận dụng các hình thức,
phương pháp, kĩ thuật dạy học sao cho đạt hiệu quả cao nhất theo yêu cầu của mục
tiêu giáo dục là một trong những cách đổi mới thiết thực nhất.
1.2. Từ thực tế của đời sống xã hội, ngành GD&ĐT đặt ra yêu cầu phải đào
tạo được thế hệ người toàn diện, năng động, sáng tạo trong công việc. Đồng thời
có ý thức chủ động, tích cực bày tỏ quan điểm, lập trường trước những vấn đề nảy
sinh trong đời sống xã hội, hướng tới chân lí của mọi vấn đề. Trong dạy học, tất cả
các bộ môn cần rèn luyện cho học sinh biết tranh luận, phản biện vấn đề, tạo thói
quen tốt trong nhìn nhận, đánh giá các vấn đề trong cuộc sống. Yêu cầu mang tính
cấp thiết ấy cũng góp phần thực hiện mục tiêu kết hợp dạy “người” với dạy “chữ”,
lí thuyết phải gắn với thực hành. Khả năng phản biện của học sinh trong quá trình
học tập sẽ giúp học sinh phát huy được tính chủ động, sáng tạo trong học tập, rèn
luyện được khả năng làm việc độc lập, làm việc theo nhóm.
1.3. Ở Việt Nam, các nhà quản lí giáo dục đang rất quan tâm, nghiên cứu và
đưa việc phản biện vào trường học như một hoạt động giáo dục thường xuyên, liên
tục. Tuy nhiên, vấn đề này mới dừng lại ở bậc ĐH, Cao đẳng. Ở bậc THPT chưa
được quan tâm thích đáng. Hoặc việc nghiên cứu, vận dụng còn mang tính rời rạc,
chưa hệ thống, bài bản, hiệu quả.
1.4. Thực tế cho thấy, khả năng phản biện vấn đề ở học sinh THPT còn tồn
tại dưới dạng tiềm năng, chưa được khai thác. Nhiều học sinh muốn phản biện,
hoặc đã từng phản biện nhưng chưa được giáo viên tạo điều kiện, chưa được các
bạn trong lớp hưởng ứng chân thành. Có nhiều lí do khác nhau khiến cho khả năng
hiện tại cũng như trong cuộc sống sau này.
4. Nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu và chỉ ra cách phát huy khả năng phản biện của học sinh trong
dạy học Văn ở trường THPT.
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau :
- Những phương pháp chính : Nghiên cứu lí luận ; Thực nghiệm ;
2
Bùi Thế Nhưng – Trường THPT Trần Hưng Đạo – Tiên Lữ
Phát huy khả năng phản biện của học sinh THPT trong dạy học Văn
- Những phương pháp kết hợp : Phân tích, suy luận logic ; So sánh ; Diễn
dịch; Quy nạp ;
5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu về Phản biện khoa học, Phản biện xã hội, Phản biện trong dạy
học. Đề xuất những phương pháp phát huy khả năng phản biện của học sinh trong
giờ dạy học Ngữ Văn tại trường THPT. Thực nghiệm tại trường THPT Hoàng Hoa
Thám. Chỉ ra ưu điểm, tồn tại trong vận dụng.
6. Kế hoạch nghiên cứu, thời gian hoàn thành
Từ tháng 6/2012 đến tháng 4/2013 :
- Tháng 6, 7/2012 : nghiên cứu lí luận về phản biện
- Tháng 8/2012 : phân tích, thực nghiệm lần 1
- Tháng 9, 10/2012: phân tích, thực nghiệm lần 2,3
- Tháng 11/2012 - 4/2013 : viết và hoàn thành
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC
PHÁT HUY KHẢ NĂNG PHẢN BIỆN CỦA HỌC SINH THPT
TRONG DẠY HỌC VĂN
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Thuật ngữ và khái niệm
- Thuật ngữ “Phản biện” (Opponency) mới được xuất hiện không lâu và
4
Bùi Thế Nhưng – Trường THPT Trần Hưng Đạo – Tiên Lữ
Phát huy khả năng phản biện của học sinh THPT trong dạy học Văn
làm sáng tỏ và khẳng định lại tính chính xác của vấn đề. Muốn có phản biện trước
hết phải có tư duy phản biện. Tư duy phản biện thể hiện tính tích cực của chủ thể.
- Phản biện xã hội là phản biện về các vấn đề của đời sống xã hội, thường
là những vấn đề mới nảy sinh, còn nóng bỏng, gây chú ý, gây bức xúc trong nhân
dân. Phản biện xã hội thường diễn ra giữa hai hay nhiều người nhưng trước sự
theo dõi của đông đảo tầng lớp nhân dân. Phản biện xã hội thường xuất hiện trên
các phương tiện thông tin đại chúng : báo chí (báo in, báo mạng), phát thanh,
truyền hình ; trên các diễn đàn, hội nghị … Phản biện xã hội thể hiện tính dân chủ trong
xã hội văn minh.
- Phản biện khoa học là phản biện trong các ngành khoa học. Đây là phản
biện của những người nghiên cứu khoa học, có trình độ chuyên môn cao. Phản
biện khoa học diễn ra trong các hội nghị khoa học, các buổi bảo vệ luận văn, luận án khoa
học, công bố công trình khoa học … Phản biện khoa học thể hiện những bước tiến vầ trí tuệ
của con người.
- Phản biện trong dạy học là phản biện diễn ra trong quá trình dạy học,
giữa học sinh với học sinh, học sinh với giáo viên và ngược lại. Phản biện trong
dạy học thể hiện tinh thần chủ động, tích cực, sáng tạo của người học và tính dân chủ
của giờ học.
- Lập luận phản biện là quá trình lập luận để đưa ra phản biện. Nó là sự
phối kết hợp các thao tác lập luận giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận …
Lập luận phản biện phải rõ ràng, lôgíc, đầy đủ bằng chứng, tỉ mỉ và công tâm.
Phản biện có sức thuyết phục hay không là nhờ lập luận.
1.1.2. Ý nghĩa của phản biện trong dạy học
Phản biện trong dạy học có khả năng phát huy được tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của người học. Góp phần rèn luyện người học có kỹ năng phản biện xã
hội khi tham gia vào cuộc sống. Đồng thời, góp phần đào tạo con người năng
động, sáng tạo, đáp ứng tốt yêu cầu của cuộc sống hiện đại.
là điều mà bất kể người giáo viên chân chính nào cũng muốn và phải hướng tới.
6
Bùi Thế Nhưng – Trường THPT Trần Hưng Đạo – Tiên Lữ
Phát huy khả năng phản biện của học sinh THPT trong dạy học Văn
1.1.4. Hình thức phản biện
Một phản biện có thể tồn tại ở hai dạng : nói, viết. Tùy theo từng tiêu chí mà
có cách phân chia hình thức phản biện khác nhau.
- Theo tiêu chí thời gian sẽ có : phản biện lần 1, phản biện lần 2, …
- Theo tiêu chí mức độ sẽ có : phản biện cơ bản, phản biện chiều sâu, …
- Theo tiêu chí tính chất sẽ có : phản biện đơn, phản biện kép (phản biện lại phản biện).
…
- Theo tiêu chí nhân vật phản biện : phản biện cá nhân, phản biện nhóm …
Hình thức phản biện nào cũng có khả năng phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh trong học tập. Đặc biệt nó đề cao được tính dân chủ trong
một giờ học – vấn đề mà nền giáo dục tiên tiến nào cũng hướng tới. Điều đó còn
góp phần rèn luyện kỹ năng sống, hoàn thiện nhân cách con người – một mục tiêu
quan trọng trong giáo dục phổ thông.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Phản biện trong dạy học ở những nước có nền giáo dục tiên tiến
Ngày nay, nhiều nền giáo dục tiên tiến trên thế giới đã coi trọng tư duy phản
biện trong dạy học. Ở Mỹ, người ta đề cao tính dân chủ trong giáo dục, tạo điều
kiện cho người học phát huy khả năng phản biện. Phó giáo sư lịch sử Johann N.
Neem thuộc Đại học Western Washington (Mỹ), trong một bài viết đăng trên tạp
chí The Chronicle of Higher Education [13], đã thúc giục nhà chức trách và
những nhà giáo dục Mỹ cần thực hiện tốt hơn việc giáo dục lịch sử dân tộc và phải
dạy với tinh thần phản biện. Còn hệ thống giáo dục Anh thì coi tư duy phản biện
như một môn học chính qui. Trình độ A dành cho học viên 16-18 tuổi. Họ phải
7
Bùi Thế Nhưng – Trường THPT Trần Hưng Đạo – Tiên Lữ
Phát huy khả năng phản biện của học sinh THPT trong dạy học Văn
thơm” của Quang Dũng đã từng bị tẩy chay, quy chụp là mang chút tư tưởng của
8
Bùi Thế Nhưng – Trường THPT Trần Hưng Đạo – Tiên Lữ
Phát huy khả năng phản biện của học sinh THPT trong dạy học Văn
giai cấp tiểu tư sản nhưng rồi vào những năm 90 lại được “lật ngược thế cờ”. Đó
lại là câu thơ hay về vẻ đẹp hào hoa của người lính Tây Tiến. Phong cách nghệ
thuật Nguyễn Tuân vẫn được xem là “ngông” nhưng gần đây, cách hiểu này đang
“xung” với một luồng quan điểm trái ngược “không ngông”… Mỗi lúc, trên diễn
đàn báo chí lại nóng lên một chủ đề nào đấy của Văn học và việc dạy Văn: “mầu”
hay “mùi” (trong bài thơ Cây chuối – Nguyễn Trãi) ; “mặt chữ điền” (trong Đây
thôn Vĩ Giạ - Hàn Mặc Tử) hiểu thế nào? ; “sông” hay “sóng” (trong Sóng – Xuân
Quỳnh) không hiểu nổi mình? Chí Phèo tỉnh – Chí Phèo say ; có hay không việc
cắt xén, thêm bớt phần kết thúc truyện cổ tích Tấm Cám? ; mới đây nhất là “dòng
thơ sexy ở Việt Nam” được “bới” lên từ các tác phẩm của Nguyễn Dữ! v.v…
Nhiều vấn đề có nhiều cách hiểu, gây tranh cãi nhiều thập kỉ mà không tìm ra chân
lí. Vì vậy trong học văn, rất cần có cái nhìn mới, cách cảm mới để tìm ra những
giá trị mới. Học sinh như những bạn đọc sáng tạo có thể lập luận để đưa ra chân lí
đúng đắn hơn cho vấn đề.
Đặt trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay, mục tiêu đào tạo con người
toàn diện, năng động, sáng tạo trong công việc thì việc phát huy khả năng phản
biện của học sinh lại cần hơn bao giờ hết. Khi nhà trường phổ thông trang bị cho
thế hệ trẻ tư duy phản biện cũng có nghĩa là đã trang bị cho các em khát vọng đổi
mới và khát vọng thành công trong cuộc sống.
1.2.4. Nhu cầu học tập, bộc lộ của học sinh hiện nay
Cùng với những nhu cầu học tập nâng cao kiến thức, học sinh cũng có nhu
cầu bộc lộ bản thân. Nhất là trong giai đoạn mà quyền cá nhân con người, tính dân
chủ trong giờ học được đề cao như lúc này. Đó là mong muốn được thể hiện mình
trước thày cô và bạn bè trong lớp, muốn chứng minh khả năng, sự tiến bộ của mình. Nhu cầu
bộc lộ làm tiền đề cho khát vọng khẳng định bản thân và thực tế nhiều bạn trẻ đã khẳng định
được mình.
liên tưởng so sánh, cảm nhận, thẩm bình, đánh giá không giới hạn.
Thứ hai, việc đổi mới kiểm tra, đánh giá của bộ môn Ngữ Văn gần đây làm
sống dậy mạnh mẽ ý thức cá nhân người học. Họ có thể thoải mái bộc lộ quan
điểm riêng của bản thân mà không sợ “chệch” ý thày. Tiêu chí đúng, sai được thay
10
Bùi Thế Nhưng – Trường THPT Trần Hưng Đạo – Tiên Lữ
Phát huy khả năng phản biện của học sinh THPT trong dạy học Văn
bằng lập luận có thuyết phục hay không? Đây là cơ hội để học sinh phát huy tối đa
khả năng học tập, hiểu biết của mình.
Thứ ba, dù sao thì học sinh vẫn là những người đi sau nên kho kinh nghiệm
của thế hệ trước để lại rất có giá trị. Học sinh có thể sáng tạo trên kho kinh nghiệm đó.
Thứ tư, không khí học tập đầy ắp tính dân chủ của nền giáo dục hiện đại
cũng tạo nhiều cơ hội cho người học phát huy tiềm năng sáng tạo của bản thân.
Trong bối cảnh hiện nay, toàn ngành đang thi đua “xây dựng trường học thân thiện,
học sinh tích cực” thì tính sáng tạo của học sinh càng có điều kiện thăng hoa.
Thứ năm, sự tương tác HS – HS, HS – GV trong quá trình dạy học nhiều khi
làm lóe sáng trong người học những ý tưởng kì diệu. Điều này khó có thể có đối
với người nằm ngoài quá trình dạy học.
Thứ sáu, tài liệu tham khảo của bộ môn ngày càng phong phú, dễ tìm.
Phương tiện đọc, lưu trữ cũng rất dễ dàng. Điều này giúp học sinh mở rộng kiến
thức cần thiết cho những phản biện khi có thể.
2.2.2. Những khó khăn cho phản biện của học sinh
Rào cản lớn nhất cho những phản biện của học sinh trong dạy học nói chung
và dạy học Văn nói riêng có lẽ là tư duy phản biện ở cả thày và trò. Dường như
những quan điểm truyền thống với những bức tường thành tích khổng lồ vẫn chưa
sẵn sàng đón tiếp tư duy phản biện. Phần lớn giáo viên hiện nay, khi đứng trên bục
giảng đều không muốn học sinh phản biện lại những gì mình nêu ra. Có nhiều lí do
khác nhau. Danh dự. Uy tín. Hạn chế về chuyên môn (ở một bộ phận giáo viên)…
Thậm chí, có người gay gắt hơn thì coi phản biện của học sinh là hành vi vô lễ (cãi
thày). Giáo viên không có thói quen nhận lỗi trước học trò (khi có lỗi) mà chỉ quen
so sánh thì lạ, chẳng biết ông dựa trên tiêu chí nào!
Bên cạnh đó là những câu hỏi mang tính khám phá. Tôi có thói quen kết
thúc mỗi tiết học bằng một câu hỏi : có em nào còn băn khoăn, thắc mắc hay hỏi
thêm gì về vấn đề/ bài này nữa không? Đã không ít lần tôi nhận được những câu
hỏi rất hay từ học sinh. Chẳng hạn : Gọi vẻ đẹp của người vợ nhặt (trong truyện
ngắn Vợ nhặt – Kim Lân) là “vẻ đẹp khuất lấp” liệu có gượng gạo, bởi vì đó là vẻ
đẹp vượt lên trên hoàn cảnh cơ mà? Ánh mắt của ông lão sơn tràng đầy vẻ lo lắng
khi nhìn ra ngoài mặt phá (lúc này chỉ còn duy nhất một chiếc thuyền vó) nói lên
điều gì? Nguyễn Minh Châu có gửi gắm gì ở ánh mắt ấy không? Trong Đây thôn
Vĩ Giạ có những dấu hiệu của thơ tượng trưng, siêu thực không?
Do hạn chế về thời gian cũng như đặc thù của môn Văn nên không phải vấn
đề nào đưa ra cũng giải quyết dứt điểm trong giờ học được. Những tình huống còn
bỏ ngỏ trong các bài học luôn là xuất phát điểm cho những tìm tòi, khám phá, sáng
12
Bùi Thế Nhưng – Trường THPT Trần Hưng Đạo – Tiên Lữ
Phát huy khả năng phản biện của học sinh THPT trong dạy học Văn
tạo của học sinh, nhất là những học sinh yêu thích và say mê môn Văn (tuy số này
không nhiều). Chẳng hạn : nếu cứ nhất định, khăng khăng (thậm chí kể cả việc gọi
hồn Hàn Mặc Tử mà hỏi) phải hiểu cho ra lẽ khuôn “mặt chữ điền” kia là của ai?
Hay chi tiết “Gục trên súng mũ, bỏ quên đời” (trong Tây Tiến) là hi sinh hay chỉ
thiếp đi vì mệt? Câu thơ “không ai chôn cất tiếng đàn” (Đàn ghi ta của Lorca) hiểu
thế nào thì thuyết phúc? Đành rằng, nghệ thuật là lĩnh vực tinh thần không thể
“chôn” nhưng đã có những “tiền lệ” : “Hỡi tuổi trẻ! Hãy giết chết Booc-ghêt!” (lời
Booc-ghết) ; “Hãy chôn Thơ mới” (Trần Dần).
Những dấu hiệu trên đây cho thấy thực trạng dạy học Văn ở trường THPT
còn nhiều điều phải bàn, phải làm. Trong khi chờ đợi những sáng kiến, cải tiến
mang tính bước ngoặt chúng ta hãy cứ làm những gì có thể. Phát huy khả năng
phản biện của học sinh là việc nên làm.
Chương 3
Trước hết, cần cho học sinh hiểu rằng việc phản biện lại một nội dung, vấn
đề do người khác nêu ra (kể cả là thày, cô giáo của mình) là việc làm tích cực để
đạt đến tính tối ưu của chân lí chứ không phải là hành vi khiếm nhã, ngông cuồng
hay vô lễ như vẫn thường hiểu. Đó cũng là một khâu trong quá trình học tập. Tư
duy phản biện phải trở thành thói quen tốt, thói quen luôn nghi ngờ kiến thức. Thói
quen này giúp học sinh chủ động trong học tập, vận dụng kiến thức.
Học sinh phải thấy được quá trình tư duy phản biện phải có những bước sau :
- Đọc và theo dõi cẩn thận những bước đi của luận cứ nhằm xác định các
tiên đề và các kết luận mà tác giả luận cứ nêu ra (trong trường hợp theo học một
môn học mới, đây cũng chính là các kiến thức mới mà người thầy muốn học sinh
tiếp nhận). Phải đặt ra những câu hỏi nghi vấn như : tại sao lại như thế? Bản chất
vấn đề là gì? Nếu thế này, thế kia thì sao? v.v …
- Nếu trong luận cứ, ta thấy không có suy luận mà chỉ là những khẳng định
(facts), thì luận cứ chỉ chứa đựng những thông tin, có thể chính xác hay sai lệch ;
như thế, ta có quyền không quan tâm đến những gì mà tác giả của luận cứ muốn thuyết
phục người nghe. Kết luận rút ra từ những luận cứ đó có thể không có sức thuyết phục.
- Trong trường hợp kết luận không thuyết phục, có nghĩa là nó mang tính
ngụy biện, cần xem xét lại. Có nên chấp nhận những kết luận mà tác giả đã nêu
hay không? Đây là điểm mấu chốt của tư duy phản biện. Bởi vì nếu ta chấp nhận
14
Bùi Thế Nhưng – Trường THPT Trần Hưng Đạo – Tiên Lữ
Phát huy khả năng phản biện của học sinh THPT trong dạy học Văn
tập hợp các luận cứ, tức là ta hoàn toàn chấp nhận kết luận của tác giả ; Ngược lại,
nếu ta phủ nhận những luận cứ này có nghĩa là ta không chấp nhận kết luận. Tức là
từ chối hay chấp nhận những kiến thức mới như một thành phần của hệ thống kiến
thức mà học sinh cần tích lũy trong quá trình học tập.
Cách đánh giá vấn đề, chấp nhận hay từ chối phải dựa trên kiến thức đã
được tích lũy của mình, dựa trên kinh nghiệm và lòng tin cá nhân. Kiến thức phụ
thuộc vào môi trường giáo dục, phương pháp giảng dạy của người thầy cũng như
phương pháp học tập của học sinh ; kinh nghiệm phụ thuộc vào môi trường xã hội
đó, hãy để người học tự mình nghiên cứu và tìm ra phương án giải quyết trước khi
đưa ra sự trợ giúp. Học sinh cũng cần học cách tổ chức vấn đề. Một vấn đề có thể
trở nên rất rối rắm và phức tạp nếu học sinh không biết cách tổ chức. Giáo viên có
thể làm mẫu các kỹ năng và cung cấp các tư liệu cần thiết để học sinh luyện tập
cách tổ chức vấn đề cũng như phác thảo trình tự xử lý các công việc. Thao tác suy
diễn cũng rất cần thiết. Thay vì trông chờ vào những câu trả lời rõ ràng, học sinh
nên học cách tự mình suy diễn. Một phương pháp luyện tập kỹ năng suy diễn rất
hiệu quả là cho học sinh đọc các đoạn văn ngắn từ các dữ liệu học tập trong sách
giáo khoa hay các bài tập thực hành, mở rộng khác rồi yêu cầu phân tích ý nghĩa
của mỗi đoạn. Khả năng dự đoán những tình huống có thể xảy ra cũng cần thiết
không kém. Những câu hỏi mở có liên quan đến nhiều chủ đề có thể giúp học sinh
phát huy trí tưởng tượng và dự đoán kết quả hợp lý nhất. Một kỹ năng quan trọng
khác là phân biệt luận cứ hợp lý và luận cứ bất hợp lý. Có một sự khác nhau giữa
các luận cứ hợp lý và luận cứ bất hợp lý. Tuy nhiên không phải lúc nào cũng dễ
dàng phân biệt được. Đâu là các sự việc chứng minh được cho luận cứ? Đâu là
luận cứ không có cơ sở bởi thiếu tính thuyết phục? Hãy đưa ra các đoạn văn bao
gồm cả các luận cứ thuyết phục và không thuyết phục, và yêu cầu học sinh phân
biệt chúng. Các kỹ năng nói trên được tổng hợp thể hiện ở khâu giải quyết vấn đề.
Bằng cách đưa ra nhiều phương án giải quyết, giáo viên có thể giúp học sinh tự mình nhìn
nhận một vấn đề. Những vấn đề này có thể liên quan đến nhiều lĩnh vực chủ chốt. Cho phép
học sinh đủ thời gian để nghiên cứu mà không có sự trợ giúp nào cả trước khi chỉ dẫn cho họ.
Quan trọng hơn cả là kỹ năng lập luận. Bởi vì, học sinh muốn đạt đến tính
tối ưu của vấn đề buộc phải thuyết phục được người khác. Một phản biện có sức
thuyết phục đến đâu là phụ thuộc vào độ sắc của những lí lẽ, độ mạnh mẽ hùng
hồn của lập luận, độ chắc chắn, đáng tin cậy của minh chứng mà người phản biện
16
Bùi Thế Nhưng – Trường THPT Trần Hưng Đạo – Tiên Lữ
Phát huy khả năng phản biện của học sinh THPT trong dạy học Văn
đưa ra. Giáo viên hãy khuyến khích học sinh sử dụng các kỹ năng lập luận. Học
sinh sẽ học cách nghiên cứu bằng cách đưa ra các lý giải hợp lý cho câu trả lời. Có
Bùi Thế Nhưng – Trường THPT Trần Hưng Đạo – Tiên Lữ
Phát huy khả năng phản biện của học sinh THPT trong dạy học Văn
đối tượng. Bồi dưỡng kiến thức chuyên sâu là cách nâng cao dần chất lượng bộ môn cho học
sinh.
Cách làm hiệu quả nhất hiện nay theo tôi là tổ chức các chuyên đề ngoại
khóa. Nhiều thì 1 lần/ tháng ; ít thì 2 lần trên /học kì. Tổ chức chuyên đề ngoại
khóa sẽ giúp học sinh mở rộng, nâng cao kiến thức theo kiểu “chơi mà học”, rất
thoải mái. Học sinh sẽ cập nhật kiến thức ngay cả trong quá trình chuẩn bị cho
chuyên đề, trao đổi giữa bạn bè các nhóm với nhau. Học tập trong lúc diễn ra
chuyên đề : học sinh được nghe, trao đổi, đối thoại về những đơn vị kiến thức
trong chuyên đề. Học sinh sẽ hứng thú hơn, phát huy hết thế mạnh của mình.
Ngoài bồi dưỡng kiến thức, các chuyên đề ngoại khóa còn rèn luyện cho học sinh
kĩ năng trình bày, lập luận một vấn đề theo quan điểm của riêng mình.
Biện pháp 4 : Khích lệ, động viên, mở đường
Đây là những biện pháp mang tính hỗ trợ kiểu “giọt nước tràn ly”. Nhiều
khi học sinh có tư duy phản biện, có kỹ năng phản biện tốt cùng với kiến thức
chuyên sâu rất tốt nhưng do hoàn cảnh, tính cách nhút nhát … mà học sinh không
dám hay e ngại phản biện. Lúc này, sự động viên của giáo viên sẽ giúp các em
mạnh dạn, phấn khích hơn, tự tin hơn bước vào cuộc.
Có nhiều kiểu động viên : động viên thường xuyên, động viên tức thì…
Động viên thường xuyên là việc làm thường ngày mỗi khi lên lớp. Động viên tức
thì gắn với hoàn cảnh, tình huống cụ thể cần giải quyết. Những câu nói động viên
có thể là động lực thúc đẩy tinh thần học sinh, chẳng hạn : Em có đồng ý như vậy
không? Em có ý kiến khác không? Hãy mạnh dạn trình bày ý kiến của em? Thày
sẽ trân trọng ý kiến của em! Những ý kiến phản biện của các em sẽ được cân nhắc,
nếu đúng, hay sẽ được tuyên dương và bổ sung vào bài học ; nếu sai thì gạt sang một bên chứ
không vì lời nói khinh suất mà trách mắng! Em hãy cố gắng lần sau! …
Việc động viên, khích lệ học sinh phải đảm bảo tính chân thực, tránh sáo
rỗng, giả tạo nhưng cũng tránh gay gắt, làm mất cảm hứng học tập của các em.
Thay vì “em nói sai rồi”, “em nói thế không ai chấp nhận” hãy nói : “ý kiến của
lí lẽ và dẫn chứng cần thiết để bảo vệ ý kiến của mình. Giáo viên nên tỏ ra khách
quan, công tâm trong phán xét vấn đề. Phải hướng tới tính tối ưu trong giải quyết
đối thoại.
Thứ tư, không nên dùng những “đòn phủ đầu” đối với những ý kiến chưa
phù hợp. Hãy tỏ ra trân trọng và lắng nghe, hãy để cho các em trình bày trọn vẹn ý
kiến của mình. Điều đó giúp các em hiểu rằng, mình đang được học trong một giờ
học đầy ắp tính dân chủ.
19
Bùi Thế Nhưng – Trường THPT Trần Hưng Đạo – Tiên Lữ
Phát huy khả năng phản biện của học sinh THPT trong dạy học Văn
Biện pháp này có thể vận dụng với tất cả các đối tượng học sinh. Với những
học sinh có sự đam mê văn chương thì biện pháp này càng phát huy hiệu quả cao.
Biện pháp 6 : Linh hoạt xuất - ẩn
Biện pháp này đề cập đến vai trò của người giáo viên trong giờ học. Có lúc
đứng ra làm chủ giờ dạy, có lúc phải “lui vào hậu trường” nhường chỗ cho chủ thể
chính hoạt động, lúc này người giáo viên giữ vai trò là người dẫn chương trình – MC cho tiết
học.
Hãy tham khảo quan điểm của J.Vial (nhà GD Pháp). Ông cho rằng : mục
đích cao nhất của dạy học là giải phóng tiềm năng sáng tạo của học trò ; học sinh
và giáo viên quan hệ tỉ lệ nghịch trong quá trình phát triển của dạy học (học sinh
tiến dần đến chỗ làm chủ - giáo viên tiến dần đến chỗ bị xóa mờ, càng mờ các tốt)
[8]. Ở đây, tôi chưa dám nghĩ đến việc xóa mờ vai trò của giáo viên trong giờ học
mà chỉ là “linh hoạt xuất hiện, ẩn đi” theo từng thời điểm của tiết học. Khi học
sinh còn lúng túng, chưa định hình thì cần vai trò dẫn dắt của thày. Khi các em vào cuộc
đối thoại, tranh luận, phản biện thì giáo viên cần ẩn mình để tính chủ động, sáng tạo của các
em được phát huy tối đa.
Việc xuất - ẩn linh hoạt, nhịp nhàng như vậy sẽ tạo những khoảng trống, cơ
hội cho học sinh tranh luận, phản biện. Biện pháp này vận dụng với nhiều đối tượng
học sinh khác nhau trong tình huống tiết học có tranh luận, phản biện giữa học sinh với
học sinh.
Sự phối hợp này không phải kiểu hỗn độn như chè thập cẩm mà phải căn cứ
vào hoàn cảnh cụ thể của tiết học như : nội dung chủ đề, mục tiêu, đối tượng học
sinh, thời gian cho phép, các phương tiện hỗ trợ … Căn cứ vào đó, người giáo viên
phải xác định được sử dụng hình thức, phương pháp, biện pháp, kĩ thuật dạy học
nào, phối hợp như thế nào thì đạt hiệu quả cao nhất.
Hình thức đối thoại sẽ tạo không khí thân thiện, dân chủ trong giờ học có
phản biện. Hình thức dự án sẽ giúp học sinh mở rộng kiến thức, chủ động chuẩn bị
chu đáo cho những phản biện khi học tập. Phương pháp tổ chức trò chơi tạo không
khí vui vẻ, nhẹ nhàng, giảm áp lực học tập hay nói cách khác : học thông qua trò
chơi. Kỹ thuật “Bể cá”, “Khăn phủ bàn” mang tính hỗ trợ. Khi học sinh đã có kiến
thức, có sự chuẩn bị chu đáo lại ở trong môi trường học tập thân thiện (đối thoại +
dự án trong phản biện), chắc chắn các em sẽ mạnh dạn nói lên những suy nghĩ của
mình khi cần thiết. Khi một ý kiến phản biện mà được thày, cô và các bạn trong
lớp rất chú ý lắng nghe (kỹ thuật bể cá trong phản biện) thì các em sẽ thấy được ý
nghĩa, giá trị của ý kiến của mình. Các em sẽ càng phải cố gắng trình bày cho
thuyết phục.
21
Bùi Thế Nhưng – Trường THPT Trần Hưng Đạo – Tiên Lữ
Phát huy khả năng phản biện của học sinh THPT trong dạy học Văn
(Một số hình ảnh về giờ học đối thoại có phát huy khả năng phản biện của HS – tại trường THPT Hoàng Hoa Thám)
3.3. Kết quả thực nghiệm
Thực ra, chúng tôi đã vận dụng nhiều cách khác nhau để phát huy khả năng
phản biện của học sinh trong nhiều năm nay. Có điều cách vận dụng còn rời rạc,
chưa mang tính hệ thống, bài bản và chủ yếu là ngẫu hứng. Sau khi nghiên cứu kỹ
về lí luận phản biện, ý nghĩa của phản biện trong dạy học Văn, chúng tôi đã mạnh
dạn đem thực nghiệm tại trường THPT Hoàng Hoa Thám, Tiên Lữ.
Quá trình thực nghiệm được chia thành 3 đợt, ở nhiều bài, với nhiều đối
tượng học sinh khác nhau. Cụ thể : Đợt 1 vào tháng 8/2012 ; đợt 2,3 vào tháng 9,
10/2012.
được miêu tả bằng bút pháp nghệ thuật cổ điển quen thuộc, không có sự sáng tạo.
Bởi vì, tác giả đã miêu tả cảnh thu với những nét vẽ cổ điển như : nước trong,
người câu cá, gió nhẹ, lá vàng rơi, trời trong xanh ; bút pháp phác họa, lấy động tả
tĩnh ; nói chung là quen thuộc, không có gì sáng tạo. Luồng ý kiến thứ hai phản
biện lại luồng ý kiến thứ nhất cho rằng có sự sáng tạo độc đáo. Lập luận phản biện
như sau : Đúng là hình ảnh và bút pháp cổ điển, quen thuộc nhưng Nguyễn
Khuyến đã sáng tạo ở chỗ : đó là những hình ảnh mang vẻ đẹp riêng của mùa thu
đồng bằng Bắc Bộ, mùa thu vùng chiêm trũng Bình Lục, Hà Nam (quê hương tác
giả). Đặc biệt cách gieo vần, cách kết hợp từ vừa tả cảnh vừa gợi tình rất sáng tạo.
Vần “eo” (được coi là tử vận) được gieo một cách thần tình, nhất là khi nó nằm
trong các kết hợp từ : “bé tẻo teo” ; “khẽ đưa vèo”. “Bé” đi dần về phía “tẻo teo”,
càng ngày càng bé. Bé một cách đáng yêu. “Khẽ” lại đối lập với “vèo” trong một
cụm từ. Chúng ta không thể hình dung trạng thái của chiếc lá nếu coi cả “khẽ đưa”
và “vèo” đều miêu tả chiếc lá vàng. Nên hiểu “khẽ đưa” là miêu tả lá vàng rơi,
“vèo” là sự bất ổn trong tâm trạng nhà thơ – tâm sự thời thế. Vì vậy, đâu chỉ là
cảnh thu mà còn là cảnh thu đồng bằng Bắc Bộ có xu hướng thu nhỏ dần lại theo
tâm trạng thời thế đầy uẩn khúc của tác giả.
Một lập luận như thế không thể không công nhận. Khá thuyết phục!
Lập luận thứ hai : GV nêu câu hỏi : “Câu thơ cuối : Cá đâu đớp động dưới
chân bèo có phải là một biểu hiện tiêu biểu cho nghệ thuật lấy động tả tĩnh ở bài
23
Bùi Thế Nhưng – Trường THPT Trần Hưng Đạo – Tiên Lữ
Phát huy khả năng phản biện của học sinh THPT trong dạy học Văn
thơ này không? Ý kiến của em thế nào?” Luồng ý kiến thứ nhất cho rằng : đúng,
vì ở đâu đó (trong ao) có tiếng cá đớp động (âm thanh) làm tan đi sự tĩnh lặng của
cảnh thu hay nói cách khác là, cảnh thu tĩnh lặng đến mức một tiếng cá đớp nhỏ
đâu đó người câu cá cũng cảm nhận được, cái tĩnh bao trùm được gợi lên từ cái
động. Luồng ý kiến thứ hai lại phủ nhận : đây không phải nghệ thuật lấy động tả
tĩnh bởi vì : chữ “đâu” phải hiểu là một phủ định từ - đâu có (= không có) tiếng cá
đớp động (ngồi câu mãi mà chẳng có con cá nào đớp). Luồng ý kiến thứ ba phản
trên 3 lần
Lập luận phản
biện
Tính sáng tạo
được chấp nhận
Mức độ Lớp TN – 11A3 27 6 HS 3 2
Lớp ĐC – 11A6 13 1 0 0
Ở đợt thực nghiệm thứ 2 này, số lượt học sinh tham gia phát biểu nhiều hơn,
số học sinh phát biểu trên 3 lần và số lập luận phản biện của học sinh cũng tăng.
Tính sáng tạo được công nhận vẫn được duy trì. Như vậy có thể nói, khi học sinh
quen dần với cách học phản biện thì sẽ tích cực, chủ động hơn trong học tập.
Ba phản biện trong tiết học này gồm có hai phản biện của học sinh với học
sinh, một phản biện của học sinh với giáo viên. Do khuôn khổ của sáng kiến bị
hạn chế, chúng tôi chỉ xin đi sâu phân tích một phản biện tiêu biểu và hay của học
sinh trong đợt thực nghiệm này. Giáo viên đã vận dụng thành công biện pháp thứ 7
– phép thử. Giáo viên đã cố ý nói chệch vấn đề khi định hướng học sinh hiểu về
lối sống ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ, liên hệ để rút ra bài học tư tưởng cho
bản thân. GV giảng (cố ý giảng chệch vấn đề) : Khi làm quan trong triều, Nguyễn
Công Trứ đã phá vỡ những lễ nghi, phép tắc thông thường của nhà nho ; ông cũng
không chấp nhận sự khom lưng uốn gối ; đó là lối sống ngất ngưởng. Ngày nay, ai
sống tuân theo lễ nghi, phép tắc, quy định, nội quy cũng là chấp nhận khom lưng,
uốn gối, nịnh bợ. Một học sinh phản biện cách liên hệ đó của GV, lập luận như sau
: đúng là Nguyễn Công Trứ rất ngang tàng, phá cách trong lối sống, không tuân
theo đạo đức nho giáo nhưng cần lưu ý quan niệm sống của Nguyễn Công Trứ là
“điều quan trọng nhất của nhà nho là hoạt động thực tiễn chứ không phải là nếp
sống uốn mình theo dư luận”. Vì thế mà ông vẫn “Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ
chung”. Trong bối cảnh xã hội phong kiến, nhiều khi những lễ nghi nho giáo nặng
hình thức trở thành lối sống giả tạo. Vậy bản chất vấn đề là Nguyễn Công Trứ
muốn đối lập mình với những lối sống hình thức giả tạo, hình thức. Vậy là tích
cực. Còn việc sống tuân thủ theo nội quy, quy định của con người ngày nay lại